Thứ Sáu, 13 tháng 8, 2010

Một ngày chạm cửa Thiền

Một ngày chạm cửa Thiền


Thật lạ lùng, đúng vào sau ngày rằm tháng 7, ông Trời cho Hà Nội một cơn gió mùa đông bắc như giã biệt mùa hè bằng lưỡi gió mỏng man mát se se lạnh và những giọt mưa đêm xiên xiên đan chéo nhau loáng ướt đừơng phố cho lung linh lóng lánh ánh đèn màu. Như có sự thôi thúc tiềm ẩn của một thứ ngôn ngữ tối cổ đọng lại tâm cam, tiếng gọi âm thầm nhưng vang vọng của núi- của miền đất thần linh với những huyền thọai các Vua đời Trần 7-8000 năm trước, đã ngộ chân lý “danh sinh đấu, lợi sinh tranh”, tìm về non cao mây bay Yên Tử làm chốn tĩnh tâm tọa thiền, sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Phật giáo Việt Nam tồn tại đến tận bây giờ. Tôi quyết định đi ngắm mây trên đỉnh Phù Vân, một ngày đến cửa Thiền thóat tục trần gian để tâm hồn thư thái, để được nói cười giữa chốn thần tiên quên những ưu phiền hồng trần và thỏa một tâm nguyện như dân gian truyền tụng: “Trăm năm tích đức tu hành/ Chưa lên Yên Tử chưa thành quả tu”.
Suốt dọc đường đi, mưa rây rắc mờ mờ rơi rớt lại của cơn gió mùa đông bắc ngày hôm trước làm cho không khí mang vẻ nhẹ nhàng thanh trong hơn, càng xa thành phố, càng gần núi, bỗng dưng trong người lâng lâng cảm xúc khó tả, sắp được đắm mình vào chốn thiền tự linh thiêng mệnh danh “Danh sơn nước Việt” huyền bí, trầm lặng, thâm nghiêm, dấu đầy sự linh diệu của trời, đất và con người. Thần kỳ đến ngỡ ngàng, mắt vừa chạm vào dãy Yên Tử với hai mỏm núi nhọn như tai mèo ẩn hiện trong mây, thì trời quang mây tạnh, những giọt mưa biến mất như không hề có, chỉ còn lại bầu không khí mát lạnh. Hình như ông Trời chiều lòng người có tâm hay sự ảo diệu của chốn “huyền không Yên Tử” để người đến được trọn vẹn trong cõi thiền minh nơi này.
Núi – núi đã sát bên, như chỉ vài bước chân là hít được khí núi đang tỏa ra. Những lá cờ đuôi nheo xanh đỏ phấp phới, tít cao là cánh chim bay ngỡ bay giữa biên giới cổ kim tiên cảnh hạ giới, nghe trong gió ngàn lao xao rừng trúc, lời chào của sơn thần Yên Tử. Tôi đã đến và cuộc hành trình nhập hồn vào cõi thần tiên chạm vào cửa Thiền bắt đầu.
Ngay dưới chân núi là con suối nước trong veo, nhìn rõ từng hòn cuội tròn nhỏ và đám rong rêu mịn mượt bám trên những tảng đá dưới lòng suối – Suối Tắm. Trước khi vào cõi tiên phải tắm gội để gột rửa bụi trần, cho thanh sạch để nhẹ bước lên núi, cũng như cái cửa Ngăn – một tảng đá lớn có miếu thờ nữ thần rừng- Cửa Ngăn ngăn bụi phàm trần tục để thật sự không còn vương vấn gì khi bước vào cõi thần tiên linh thiêng. Rồi chùa Cầm Thực, những nợ cơm áo thức ăn cõi tục không thể tồn tại nơi này, chỉ có uống sương ăn gióhoa lá mây ngàn. Mới dợm vài bước chân ở núi, nghe tên suối, tên chùa, tên cửa mà tâm mà tâm hồn đã như lạc vào một thế giới khác, như đang bước vào thăm giấc mơ của người xưa mông lung cõi tiên vô tận. Tôi nghe theo lời anh: “Em đừng đi vào ngày hội, cả vạn người chen chúc, khói thuốc, quần jeans, tiếng ồn ào hỗn tạp sẽ làm tan vỡ giấc mơ ấp ủ hay một tưởng tượng huyền hoặc đang vời vợi giữa không gian”. Và lúc này, sau cửa Ngăn, âm thanh ngòai đời như trầm lại, tiếng động nhỏ dần, một sự tĩnh lặng hay chỉ có diệu âm bay bổng từ ngón tay tiên bồng bế những hồn người vào chốn thiên thai thóat tục.
Bước chân lên núi, hay thời gian bước tới từng bước nhọc nhằn như những lời kinh giác ngộ được nhịp bằng tiếng mõ Hoa Nghiêm từ ngôi chùa Lân âm vọng. Ngôi chùa mà nhà Vua Thái Thượng Hòang- Trần Nhân Tông quyết chí tịnh tu nơi này, không trở về cung điện vàng son phàm trần dưới núi kia. Miên man trong tiếng kinh mõ lan tỏa khắp rừng trúc, chân vẫn đều những bước đá mấp mô, con suối Giải Oan hiện ra trong tiếng róc rách khác lạ, như những lời thủ thỉ van lơn, như hờn dỗi nài nỉ,tương truyền ngay ở con suối này các phi tần mỹ nữ đã khuyên giải Vua Trần hòan tục quay về; Vua đã quyết chí nên họ tuẫn tiết để hồn được theo hầu hạ. Vua cảm thương lập đàn thờ cúng nơi đây. Anh nói: “Mình viết tên hai đứa vào lá trúc thả xuống suối, anh em sẽ thóat tục thành tiên đấy”. Người trần xác phàm như tôi khi tới đây cũng cảm thấy những oan khiên nghiệp chướng còn tụ đọng được cởi bỏ. Thư thới, thanh nhàn, chân nhẹ bỗng, đường lên núi như không còn trắc trở hiểm nguy mà như lọt vào một không gian cổ tích với hai hàng tùng cổ thụ cao vút hứng gió hứng mây gần ngàn năm, nổi lên mặt đá bộ rễ vàng óng uốn lượn vân mây, vi vu xào xạc rừng trúc, véo von trầm bổng chim hót, thánh thót hoang dại tiếng của đàn vượn hòa thành bản nhạc đa âm thanh diệu bất tận. Trong mờ ảo sương khói mây núi, những am tháp ẩn hiện như một thế giới u tịch dấu kín nhiều bí ẩn mà chỉ ai có duyên mới có thể khám phá. Chợt liên tưởng tới thuyết “luân hồi” Âm Dương trong thế giới tâm linh khi bắt gặp những ngọn lá non xanh mướt lấp ló chòi ra qua khe đá xám mốc am tháp. Sự kết thúc là sự bắt đầu, trong cõi u minh tưởng như tăm tối vẫn bật lên những mầm sống, để vạn vật là bất tử, triết lý của người xưa, hay ở chốn tiên thần linh thiêng này không có gì ra đi vĩnh viễn, mà tồn tại như một cuộc sống khác.
Hoa Yên Tự – Vân Yên Tự – Chùa Mây Khói đẹp như vườn Giác Uyển thượng giới. Lên đến đây, bỗng nhớ đến hơn 600 năm trước Ức Trai Nguyễn Trãi đã đề thơ cảm tác: “Trên non Yên Tử chòm cao nhất/ Trời mới canh năm đã sáng tinh/ Vũ trụmắt đưa ngòai biển cả/ Nói cười người ở giữa mây xanh/ Muôn hàng giáo ngọc che gài cửa/ Bao dải tua châu đá rủ mành”. Còn tôi, tôi chỉ cảm nhận được vẻ đẹp mà sự hài hòa giữa thiên nhiên, cảnh chùa cùng các bức tượng Phật và tượng ba vị Trúc Lâm Tam tổ hòa quyện vào nhau, mây bay vờn quanh tượng, các pho tượng khóac áo vàng lụa lung linh giữa sương mây và lửa nến. Cảm giác Phật đang xuống gần ta hay chính ta lên gần Phật. Ngồi ngay ngắn trên chiếu theo thế “bán kiết già”, niệm hương, khép mắt lại, tôi định thần chờ sự giao hòa giữa tâm người và linh thánh. Chợt rùng mình như có luồng điện chạy dọc sống lưng, nghe rõ tiếng gió, thỏang sau lưng có bóng người vụt qua, làn khói hương lay động không tan, mùi trầm bãng lãng vương vấn, lúc đó chỉ có tôi và anh cũng đang chắp tay tịnh thần bên cạnh. Không biết có phải cảm ứng hiển linh của Thánh nhân trước lòng thành chiêm ngưỡng linh địa hay chỉ là ảo giác và tiếng đi của rừng lá trúc dưới núi đội lên khi tâm thanh trí tịnh không chút tạp niệm quá khứ, vị lai, hiện tại đồng xuất hiện.
Từ Hoa Yên, rẽ phải, rẽ trái, sau lưng, những tên chùa Thiền Định – Một Mái – Phổ Đà như phác họa cả một kiếp tu hành dứt bỏ tham-sân-si, thất tình lục dục để về cõi Phật của người xưa, mà người đời nay là tôi chỉ biết chắp tay tĩnh lặng chiêm bái thán phục.
Ngược lên nữa đi trong mây bập bềnh quanh núi và gió rừng trúc xào xạc cùng tiếng suối rì rầm, chùa Bảo Sải hiện ra như một Thiên Trúc thu nhỏ. Mơ hồ nghe tiếng mõ lóc cóc của mấy vị Tổ sư gõ nhịp cho bản hành trình vạn kiếp thế nhân. Và chùa Vân Tiêu, lâu đài Mây Bay tiêu dao tự tại của thần tiên mà vua Trần Anh Tông trong bài thơ “Vân Tiêu Am” cũng thảng thốt trứớc sự tuyệt mỹ: “Một tòa nhà sừng sững như chiếc lọng cao chạm mây/ Cung điện thần tiên không chút trần tục”. Có lẽ khi lập ra chùa này, các vị Tổ Thiền phái Trúc Lâm đã tu thành tiên. Trong mắt tôi Vân Tiêu như bồng bềnh trong một khối mây thoắt ẩn thoắt hiện, phút chốc cảm thấy mình cũng đang bay trong cõi vô hình vô sắc, chân không chạm đất mà đang bay cùng mây, nương theo vạt áo bào tiên nhân lên cao hơn nửa- lên tới đỉnh Phù Vân, nơi có ngôi chùa Đồng huyền thọai cùng những cái chuông huyền bí, tương truyền là chuông của thần linh dùng để hô mưa gọi gió cầu phúc lộc trường an.
Đỉnh Phù Vân Yên Tử – Đích đến của chốn Thiền môn linh địa. Lên đến đây thấy mình không còn là người phàm, bụi hồng trần không còn vương vấn, trong ý muốn không một chút trần tục, người lâng lâng phiêu diêu thanh thóat như không trọng lượng. Giữa mênh mênh mang mang trong cuồn cuộn mây, nhìn lên bầu trời xanh cao, ánh nắng ngũ sắc tạo thành vòm như cánh cửa thượng giới đang mở chỉ nhún chân một cái, đưa tay đẩy nhẹ là tới nơi, nhìn xuống lớp lớp rừng lá trúc xanh uốn lượn như sóng theo từng đợt gió ào tới như xiêm áo tiên nữ trải dài trong trắng mây bay, phóng tầm mắt ra xa tít biển như một bầu trời thứ hai xanh biếc mênh mông.
Tôi nắm tay anh, ngất ngây với linh thiêng trời đất mây núi gió ngàn giữa chốn huyền không trên đỉnh non cao, cảm nhận sự gắn kết tâm linh hòa quyện vào nhau, hơi thở không còn của riêng ai mà chung một nhịp, mắt soi tròng nhau mà thấm đẫm tình tri âm tri kỷ, không nói với nhau lời nào nhưng thấu hiểu bao điều thiêng liêng từ trái tim đến trái tim. Chúng tôi cứ đứng như thế bên nhau tay trong tay giữa mây vờn dưới chân, lao xao rừng trúc và tiếng gió ào ào, trên đỉnh Phù Vân Yên Tử, để thời gian như lắng đọng không tồn tại, để thấm cùng nhau linh diệu nơi này cho mãi mãi không rời xa, dù có quay trở lại dưới núi kia những tục lụy trần ai của đời thường bon chen đầy những tham , sân si, hỉ nộ ái ố.
Mây đã đổi màu xám nhạt, hơi đá phả ra lành lạnh, chiều đang rơi êm đềm trượt trên các bậc đá, con đường đi xuống về chốn bụi trần mỗi bước mỗi nặng hơn. Ngang qua suối Giải Oan, tôi và anh lại thả xuống lá trúc viết tên hai người để mong muốn giữ lại thiện tâm thanh sạch cửa Thiền để an lành trong cuộc sống nhộn nhạo đầy cám dỗ trần tục lúc nào cũng như bủa vây xung quanh.
Một ngày chạm cửa Thiền, bỗng thấy mình như được tiếp sức để vượt qua mọi thử thách trong cuộc đời ./.

Yên Tử – Hà Nội – Tp.HCM – 9/2006

Côn Sơn một ngày thóat tục

Côn Sơn một ngày thóat tục.


Những cơn gió mùa đông bắc đầu tiên đem khí lạnh tràn xuống cả một miền châu thổ Sông Hồng, báo hiệu cho mùa thu nói lời chào tạm biệt.

Không khí buổi giao mùa hay làm con người chòng chành, vui vui, buồn buồn bất chợt, lại thêm cái ồn ào vật vã của đời thường như một cái hồ lô nút chặt giam hãm kìm nén… Hà Nội không còn cái thi vị của thu và những gì còn lại của mùa cũng trở nên mòn cũ không còn hấp dẫn. Và tôi lên đường, tìm về một vùng núi non thanh tịnh lãng đãng với nhiều huyền thọai, bóng dáng thánh nhân muôn đời ẩn hiện, để đắm mình vào thiên nhiên thóat tục một ngày.

Côn Sơn, Chí Linh, Hải Dương. Tôi đến đây một ngày đầu đông. Đón tôi là tiếng gió chạy vun vút trên ngọn thông này đến gốc thông kia, rồi tiếng quả thông rơi rắc xuống vạt cỏ nghe như tiếng bước chân người xưa thỏang vọng.. Một chút hoang sơ thần bí, một thóang bồi hồi… Ở nơi đây đã in dấu ấn một trong Tam tổ Trúc Lâm Thiền Phái Huyền Quang Lý Đạo Tái với bao truyền thuyết thần tiên kỳ ảo;Một ông quan Hành khiển thời Lê, nhà quân sự tài ba, nhà văn hóa lỗi lạc sánh với các kỳ nhân năm châu, với cái án oan bi thảm “tru di tam tộc” Nguyễn Trãi; Một thánh nhân tiên phong đạo cốt Chu Văn An với những học trò thần tiên ma quỉ của ông… Hình như họ vẫn lẩn khuất đâu đó nơi rừng núi Côn Sơn này.

Núi Côn Sơn cao hơn tôi tưởng tượng, để lên được Bàn cờ Tiên, phải vòng theo sườn núi, leo khỏang 600 bậc đá. Càng lên cao, thông càng thẳng tắp, gió dường như đuổi nhau trên ngọn cây, vòng quanh xuống núi, rồi ào vào cánh đồng xanh mướt nằm giữa núi Hun, núi Phượng, dừng lại trên dòng sông Thương mờ trắng như dải lụa bạc xa xa, rồi ngược trở lại lên núi, mang theo mùi làng quê, rượt theo từng chùm mây bập bềnh. Tiếng gió lào xào như ẩn chứa những câu chuyện trần gian vừa mới mang về từ dưới kia kể cho các đám mây.

Đứng từ Bàn cờ Tiênphóng tầm mắt ra xung quanh, mây trôi từng lớp như vạt áo tiền nhân ẩn hiện trong vòng cung Đông Triều- Yên Tử xám mờ đầy bí mật chưa được giải mã,văng vẳng tiếng chuông tíếng mõ, tiếng kinh kệ của Thiền tổ Trúc Lâm Huyền Quang, như gõ nhịp hành trình vạn kiếp nhân gian xa tít dưới chân núi kia. Lặng ngắm một mảnh giang sơn gấm vóc, nằm trong thung lũng trù phú được bao bọc bởi dãy núi Rồng và sáu con sông hòa dòng chảy, nơi Vua Trần và các tướng lĩnh đã dựa vào thế núi dáng sông làm thành lũy trấn giữ Kinh thành Thăng Long xưa…Như một đồng vọng lịch sử, nghe xa xăm tiếng hét đầy hào khí của các vị bô lão dự Hội nghị Diên Hồng trên Bến Bình Than “Sát Thát”, tòan dân hiệp lực đòan kết chống giặc ngọai xâm…

Ngó sang dãy núi Phượng Hòang, bạt ngàn thông, lô nhô 72 ngọn núi nhỏ, thấp thóang tà áo xanh thanh khiết tiền nhân Chu Văn An, đọc sách thánh hiền, lay động cả hồn phách giao long thủy quái, rung cảm cả ma quỉ rừng sâu núi thẳm…Gần hơn là núi Hun nằm trong dãy Côn Sơn, rì rầm ngày đêm tiếng suối chảy, lấp ló một ngôi chùa cổ kính ẩn mình giữa tàng cây cổ thụ. Cây hoa đại, tương truyền 600-700 tuổi , hoa trắng xóa nổi bật giữa ngàn xanh, tỏa hương man mác chợt có chợt không lẫn vào khí núi. Bất chợt lòng se sắt, rưng rưng cảm thương số phận Nguyễn Trãi- Thị Lộ, chỉ vì không lường được cái họa “danh sinh đấu, lợi sinh tranh”, mà ôm hận, để mấy trăm năm sau đời vẫn còn nhỏ nước mắt xót xa đau đớn.

Giữa đỉnh Côn Sơn, trời đất trầm tư, âm âm khi núi sắc màu lam, những đám mây lờ lững chùng chình nửa dừng lại vấn vương ngọn cây, nửa lại như muốn ngắm người phàm trần đang ngẩn ngơ trước cảnh sắc nơi này. Trí tưởng tượng huyền hoặc vời vợi trong không gian tiềm thức, thỏang hương khói trầm của cổ nhân, mới cảm nhận được vì sao mà người xưa tìm đến đây ẩn mình, tránh xa những ô tạp phồn hoa đô hội…

Nương theo thầm thì gió rừng thông, mon men lần xuống núi, dừng lại bên Giếng Ngọc, nằm ngang sườn núi Kỳ Lân, cũng trong vòng ôm Côn Sơn, nhớ một huyền thọai. Giếng Ngọc là nguồn nước quí được thần linh báo mộng cho Thiền sư Tổ Huyền Quang giữa vùng núi cao mây trắng. Tương truyền, các thần tiên hay nghỉ chân tại đây, uống nước giếng, rồi mới lên Bàn cờ Tiên bày trận tiêu dao. Sau này, thành tục lệ, trước khi lên núi, mọi người đều dừng chân nghỉ bên giếng, uống nước, khóat một vốc rửa mặt, để trút bỏ ưu phiền, thanh thản lên núi, gần với các bậc tiên thánh.Tôi cũng làm theo như một sự tò mò, và không cưỡng lại được bởi nước giếng Ngọc trong vắt, mát lạnh, cái trong mát hình như mang trong nó sự huyền bí không hẳn ở truyền thuyết mà như do tinh túy của sương gió rừng cây và linh khí sơn thủy kỳ khí của Côn Sơn tinh lọc nên.Và một ngụm nước giếng giữa rừng mà sao bỗng thấy lòng nhẹ bỗng, bao nhiêu phiền muộn, bức bối, bao nhiêu ý nghĩ ganh đua tủn mủn bé mọn như không còn. Không biết khi xuống dưới núi về phố có còn giữ được sự trong mát của ngụm nước giếng Ngọc, để giữ cho tâm thanh ý tịnh như lúc này, giữa rừng núi Côn Sơn.

Chiều đã ngả dần, chân đã chồn, hồn đã thấm thanh tịnh thần tiên núi cao. Đi xuống núi, dừng bên suối Côn Sơn, một phiến đá ngang bằng chiếc chiếu đôi dài chừng 7-8m nhẵn, phẳng- Thạch Bàn, như mời gọi hấp dẫn cho đôi chân một khắc nghỉ ngơi, cho cuộc xuống núi trọn vẹn.Truyền thuyết xưa, đây là nơi Thánh Tản Viên Sơn- Sơn Tinh đã đến nghỉ trước khi về Kinh Đô rước dâu-nàng Mỵ Nương xinh đẹp con Vua Hùng Vương. Và hơn 600 năm trước, đây là một góc của lịch sử số phận danh nhân nước Việt- Quan Hành Khiển Nguyễn Trãi cáo quan ở ẩn, chọn miền núi Côn Sơn- Chí Linh để ẩn dật, tránh xa quan trường và những phức tạp thế thái nhân tình. Tương truyền ông đã lấy Thạch Bàn làm “chiếu thảm”, nghỉ ngơi, ngắm cảnh, làm thơ, suy tư việc nước, trên cao tiếng thông reo, dưới là tiếng suối hát và hơn nữa ông còn có hồng nhan tri kỷ- nàng bán chiếu gon ở Tây Hồ, Nguyễn Thị Lộ, cùng ông xướng họa thi ca.

Và bên tôi lúc này cũng có người tri âm tri kỷ, anh cũng như tôi, khi lên tới núi, như một đồng điệu trong cảm xúc, giữa chúng tôi không có khỏang cách. Chúng tôi như cùng một giấc mơ thần tiên cuốc nguyệt cày mây trên đỉnh Côn Sơn, thả hồn vân du theo những huyền sử thiêng liêng, đi cùng quyến luyến, nhớ nhung một vần thơ, một điệu nhạc, một khỏanh khắc tuyệt đẹp của trời đất cỏ cây mây gió sơn thủy nơi này.

Sương đã bắt đầu phủ mờ, treo vật vờ trên các vách núi đá, lãng đãng lẫn vào vòm thông cao tít tắp, khí núi tỏa ra tê tê da mặt…Đỉnh Côn Sơn thẫm dần che dấu bí ẩn cổ nhân trong thinh lặng, chỉ còn nghe tiếng gió, tiếng thông réo ù ù… Ngỏanh nhìn lại, núi rừng tóat ra khí thiêng ảo diệu trong tím xám…Phải về thôi, về với đời thường dưới kia đang lấp lóa ánh đèn.

Bỗng giật mình, không biết khi về phố, đời đã trôi qua mấy trăm năm khi lên núi với thần tiên thóat tục một ngày… Tất cả vẫn y nguyên, vẫn ồn ào, ngột ngạt với cuộc sống đầy nghiệt ngã, vẫn như bị nhốt trong hồ lô vô tận đáy, vẫn chòng chành buồn vui…giữa cơn gió mùa đông bắc đang tràn về lạnh lẽo vô hồn.

Ước gì… một ngày Côn Sơn, mơ về tiếng suối hát, tiếng thông reo, tiếng gió đuổi nhau… gặp lại trong tiềm thức những thần tiên thánh nhân muôn đời ẩn hiện nơi rừng thiêng núi linh…Và bên cạnh là anh, người tri âm tri kỷ, đồng điệu với những cảm xúc tâm hồn giữa rừng núi./.

Màu ký ức tháng Năm

Màu ký ức tháng năm

1. Vào hạ, cái nắng vàng tươi óng ánh như trải thảm trên mặt đất, tạo dáng vẻ quý phái cho muôn loài. Gió đưa mùi hương ngọt ngào quyến rũ từ những vườn trái cây chín như rắc mật làm cho lòng người ngây ngất say. Mơ màng một thuở xa xưa trong kí ức.

“Tu hú kêu. Tu hú kêu. Hoa gạo đỏ, hoa phượng nở, đầy ước mơ hy vọng…”. Câu hát mùa hè của tuổi thơ rộn ràng gieo vào nỗi nhớ khi xưa ta bé, ngày ngày đến trường với bảng đen phấn trắng, với những mùa thi hồi hộp thú vị, với những trò chơi hồn nhiên khuấy động cả một thời niên thiếu, với những mối tình ngây thơ trong trắng của tuổi học trò đầy mơ đầy mộng đầy thơ… Năm tháng đi qua, tuổi thơ đi vào quá khứ rơi vào miền cổ tích, để mỗi khi nhìn nắng, có một chút gì nhoi nhói trong tim.

Vào hạ, những cơn mưa đầu mùa như một trò chơi của các vị thần muốn thử thách trần gian, tiếp đón các vị sứ giả của giông bão ra sao… Những giọt mưa khi to khi nhỏ, lúc nhẹ nhàng rớt xuống đủ dịu đi màu vàng chói chang của nắng, lúc sầm sập đổ ập một cách phũ phàng không kịp cho nắng trốn chạy. Mưa gieo vào một góc kín trong tim ai những nỗi niềm sâu lắng.

Và mưa khơi dậy những kỷ niệm một thời nồng nàn. Lặng lẽ qua màn mưa, bóng dáng người xưa như thấp thoáng, ẩn hiện, chợt xa chợt gần, như vừa e ấp bên nhau, bỗng chớp mắt người ngọc đã tan theo mưa trôi mãi phương nào, để lại cảm giác nuối tiếc, nghẹn ngào. Mưa hay nước mắt của trời ướt đẫm những tâm hồn, để rơi trên những trang thơ của thi nhân. Mưa là nàng thơ của ký ức.

Tháng năm nắng!
Tháng năm mưa…
Và mùa nắng tháng năm luôn là khoảnh khắc đẹp của những giấc mơ. Mơ về quá khứ. Mơ về tương lai – mơ trở lại tuổi thơ và mơ một tình yêu mãi mãi.

2. Như đốm lửa đỏ hồng e ấp núp sau những mắt lá xanh, những nụ hoa phượng chợt bùng cháy từng vệt đỏ rực trong cái nắng óng vàng. Phượng cũng thật lạ, như để cháy đỏ hơn trong nắng, những cành phượng thưa lá hẳn, chỉ lác đác màu xanh, dồn hết nhựa sống nhuộm sắc thắm cho hoa hạ. Và màu đỏ của hoa hun đốt nỗi nhớ của tôi về em.
Tôi gặp em vào một ngày giữa hạ, giống như một bức họa tuyệt đep đến ngẩn ngơ mắt nhìn. Trong óng ánh nắng vàng, màu đỏ rực của hoa phượng in sắc thắm trên nền trời xanh biếc, và em dịu dàng tinh khiết như chồi non trong sắc màu hoa hạ.

“Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng chịu cho lòng ta yên…”
(Thời hoa đỏ - Thanh Tùng)

Yên làm sao khi em đã đánh thức những kí ức của một thời xa xưa với kỷ niệm ríu rít tuổi học trò, cặp mắt lo âu hồi hộp những mùa thi. Là môi cười tuổi trẻ, là cái bồi hồi ngày giã từ tuổi thơ khi chập chững bước vào đời.

Yên làm sao khi em khuấy động bao điều tưởng chừng đã ngủ yên trong tôi, đã đánh đắm hồn tôi giữa biển đỏ hoa hạ. Màu đỏ của phượng, môi gọi nồng nàn, đắm say như chất men rạo rực nghiêng ngả mùa hoa.

Yên làm sao khi bên em, tôi đã trở về với những năm tháng trẻ trung đầy khát khao khám phá những miền xa, mà mỗi lần đi đều mang nỗi nhớ hoa phượng, để vấn vương một mối tình, mối tình đầu vụng dại.

Yên làm sao, khi hàng vạn cánh hoa phượng tung bay trong gió, rơi xuống phủ một màu đỏ hồng trên môi, má em, và em sóng sánh ánh nhìn với nụ cười thắm sắc hoa, làm xao động trái tim tôi.

Tôi đặt tên em: Hoa Hạ. Và màu phượng cháy, trời xanh. Nắng vàng luôn đốt tôi trong hồi ức những ngày xưa.

3. Hạ cháy. Càng làm rực lên với màu đỏ hoa phượng trong nắng vàng, suốt các con đường lớn nhỏ, phố cứ chói chang, xốn xang mắt nhìn màu của lửa… Cái cảm giác nóng bức, ngột ngạt, bừng bừng chợt dịu đi đến thảng thốt, cả một dòng tím dài theo con phố, thầm tỏa ra sức hút mãnh liệt, giảm đi màu vàng rực của nắng, sắc đỏ cháy lòng của hoa phượng. Ai đã mang hoa bằng lăng vào phố, để pha sắc tuyệt diệu tháng năm? Những chùm hoa tím dịu dàng nhuộm hết cả con phố. Phố tím. Và em, hồn thơ mang sắc tím của tôi.

Bé nhỏ, tinh khôi, thánh thiện, như lẫn vào màu tím, như từ trong màu tím của hoa bước ra, em đi bên tôi trong bình yên phố dưới hàng bằng lăng đang mùa hoa. Từng mảng hoa tím biếc trên cây, như nhạt màu hơn dưới nắng, mỏng manh, chấp chới trong gió, tung thả từng cánh rơi xuống thành một thảm hoa tím mềm dọc hè phố làm e dè những bước chân… Trong bồng bềnh sắc tím bằng lăng, trong ảo huyền lung linh những cánh hoa tím bay nhẹ vương nắng, vương gió, mắt em chìm vào tôi, màu mắt nâu pha ánh tím ngợp một cảm xúc khó gọi tên, cứ vời vợi, thẳm sâu, như muốn níu giữ một điều gì tha thiết, nồng nàn vô cùng…

Giữa bao con phố cháy màu phượng đỏ, phố tím bằng lăng chen vào như một nét duyên thầm, kín đáo, dịu nhẹ. Bao ưu phiền, âu lo như được lắng lại, tan biến trong sắc tím, chỉ lưu lại một chút lãng đãng nhớ về những kỷ niệm thơ mộng xưa… Tôi và em lãng quên thời gian trong mê hoặc, lay động của màu tím, phố dài mãi bước chân. Tôi không muốn xa màu tím dịu êm… Những cánh hoa tím mỏng, nhẹ cứ chập chờn ẩn hiện suốt giấc mơ về những ngày xa ấy…

Em, phố bằng lăng – Phố tím của tôi!

HH

Mưa phùn

MƯA PHÙN


1. Đã quen với nắng ấm phương Nam và những cơn mưa như trút nước chợt đến chợt đi… Bỗng sững sờ run người khi bắt gặp làn gió lạnh mang theo những bụi nước li ti lướt qua vào một ngày đầu xuân nơi đất Bắc.
Mưa phùn,những cơn mưa vừa nhẹ vừa mỏng như một tấm màn nước mờ mờ, ảo ảo phủ lên muôn vật tạo nên khung cảnh như sương như khói, đã làm mòn bao nhiêu bút mực của văn nhân xưa nay. Không một ai dù tâm hồn có chai đá đến mấy cũng không thể làm ngơ khi bắt gặp một rèm mi cong cong của thiếu nữ, đọng vài giọt mưa nhỏ như kiểu trang điểm đặc biệt do chính cơn mưa phùn vô tình tham dự để rồi đón một cái nhìn vừa trong trẻo vừa ngây thơ, vừa ướt đẫm những mộng mơ và những câu hỏi không tên sâu trong đáy mắt… Đá cũng tan chảy thành nước, hòa vào mưa rồi ngẩn ngơ nuối tiếc.
Dưới mưa, chen với những luồng gió dấu trong mình cái buốt giá, giơ tay chạm khẽ vào hạt nước mỏng manh như bụi, có cảm giác nếu như ai đó lỡ gây một tiếng động mạnh, mọi cái đều vỡ tan, biến mất, giống như một bàn tay thô vụng tàn nhẫn xé nát bức tranh vừa thơ vừa mộng dệt bằng cơn mưa.
Những hàng cây, những con đường, những ngôi nhà và cả những bóng người trong mưa đều không rõ nét, đều mang một vẻ huyền bí không một họa sĩ nào có thể khắc họa được. Mưa đã dệt một tấm màn mờ ảo lung linh. Thoáng lay động không biết mình sống trong mộng hay thực, phía trước mình là tranh, là thơ hay là ảo ảnh… Tất cả như không có thực dưới mưa.
Về đêm. Cảm nhận về cơn mưa phùn càng lắng đọng.
Trong buốt lạnh, bụi mưa dường như ấm hơn. Mơ hồ đâu đó những tiếng động khẽ khàng từ những thân cây xù xì. Bất chợt reo lên thành tiếng khi nhìn thấy thật nhiều chồi non đang cố lách ra, vươn lên màu xanh mướt nhỏ nhoi như những đốm sáng trong đêm mưa, từ các vết sần sùi trên thân cây già nua cằn cỗi. Một chút gì len lỏi trong tim thật ấm áp dù đêm thật lạnh.

2. Em phone: “Anh đã vẽ mưa phùn bao giờ chưa? Đẹp, siêu thực, tuyệt vời…”. Câu nói như lời mời, như sự thôi thúc. Tôi bay từ miền nắng phương Nam ra mùa xuân phương Bắc. Mưa phùn là cái cớ để em cho tôi… gặp em.
Em mảnh dẻ như nhành liễu đung đưa bên Hồ Gươm. Như từ bức tranh trong viện bảo tàng. Em đón tôi. Đôi mắt màu nâu, rợp bóng hàng mi cong như nét phẩy cây cọ… Tôi đi trong mưa bên em. Mưa phùn như tấm màn dệt bằng muôn ngàn bụi nước, phả hơi lành lạnh. Hàng cây bên đường huyền ảo trong mưa. Phố Hà Nội chênh vênh những mái ngói vảy cá, những góc cạnh không tên hư hư thực thực. Tôi sững sờ khi bắt gặp những hạt mưa nhẹ như bụi đọng trên mi em, li ti như từng viên ngọc, những hạt mưa làm tôi bối rối. Tôi muốn chạm vào em nhưng lại sợ. Nỗi sợ không đặt được tên, chỉ sợ khi chạm vào thì những viên ngọc tuyệt đẹp kia sẽ tan ra mất mà không ngòi bút nào có thể lưu lại được giây phút này.
Chúng tôi vào một quán nước ven đường. Em chúm môi thổi chén chè tàu bốc khói. Tôi thấy mình trẻ lại bên em, ngoài kia mưa vẫn mềm mại thả những sợi tơ từ trời, giăng mắc. Những sợi mưa run rẩy phủ lên phố xá một màu xám bạc, tôi như người mộng du, thậm chí không dám thở mạnh, em đang ở bên tôi rất gần, rất gần…
Tôi là họa sĩ phóng túng, quen những gam màu nóng, những nét cọ phóng khoáng như nắng gió phương Nam. Mưa phùn giống như cơn mộng mà tôi biết đến lần đầu. Em, bức tranh cổ, phảng phất một mối tình như những hạt mưa trên tóc, trên mi, tôi chỉ có thể ngắm nhìn thôi mà không thể cầm vào được…
Em nhìn tôi thầm hỏi bằng ánh mắt trong veo. Mưa ngoài kia mềm mại, quyến rũ, bí ẩn, mọi vật như được cách điệu ảo ảo, liêu trai, sương khói. Bàn tay cầm cọ của tôi chợt run lên bất lực, làm sao họa được những nét mưa như có như không thế này. Và cả em, em trong mưa phùn lung linh như từ bức họa cổ bước ra mong manh, chợt tan, chợt hiện…
Mưa phùn, mưa phùn… Em miền nhớ trong tôi.
Và sáng ra, dưới mưa, một màu xanh tràn ngập như phép lạ khắp nơi. Sức sống như tràn ra từ màu xanh mơn mởn ấy. Những trái tim yếu đuối già nua như hồi sinh cùng những mầm xanh và những tứ thơ sẵn sàng tuôn trào để cho đời thêm đẹp với vô vàn ước mơ xanh. Những cơn mưa phùn đất Bắc đã làm cho khách phương Nam xao xuyến. Mỗi khi mùa mưa tới, nhìn những dòng mưa xối xả đổ xuống như trút hết nước trên trời cao, nhớ đến nao lòng những hạt mưa nhỏ bé, nhẹ như sương, đủ làm duyên cho những hàng mi thiếu nữ, và để trái tim ai phải vấn vương để thương để nhớ xứ Bắc.

Mưa phùn là một cõi mộng của khách phương Nam.

HH

Tương tư sấu gọi đêm hè

Tương tư sấu gọi đêm hè


1. Về đến phương Nam nắng ấm, cầm trên tay chiếc lá nhỏ màu vàng, em tặng tôi lúc chia tay, tôi ngẩn ngơ nhớ em, em Hà Nội và những con đường có hàng cây mang cái tên ngồ ngộ - Cây Sấu.
Tôi gặp em một ngày rét, cơn rét cuối cùng của xuân đang luyến tiếc mùa chưa chịu bay đi, nhường chỗ cho hạ về… Một lúm đồng tiền trên má tinh nghịch, một đôi mắt tròn xoe ngơ ngác, một mái tóc bồng bềnh như mây, em làm tôi bối rối.. Như một thiên thần nhỏ, dễ thương, em đưa tôi đi qua nhiều con phố có những hàng cây lạ đối với tôi: Cây Sấu. Những gốc sấu to, cao, chạy dài theo dọc đường, làm phố hiền hòa thân thiết, kể cả với khách phương xa.
Không như các loài cây khác, cuối xuân, những hàng sấu mới rùng mình xào xạc như trút lá. Tôi bên em tưới những cơn mưa lá sấu vào vàng ào ạt bay, rơi trong mùi hương dìu dịu không tên. Mỗi bước chân mỗi đoạn phố, những hàng sấu và em Hà Nội cứ lẫn lộn, cảm giác choáng ngợp trước vẻ đẹp khó gọi tên cứ ngập trong tôi. Tít tắp trên vòm cây cây cao, những lá sấu mỏng manh, lả tả rớt xuống vai, xuống tóc, xuống mặt phố, mang theo hương lá dìu dịu ướp thơm cả khoảng không, làm thành một thảm vàng hoang sơ quấn quít, níu kéo bước chân, để cứ quẩn quanh như không muốn xa…
Trong mát lạnh của đêm, em chợt nghiêng mái tóc sát vào tôi… Tim tôi ngừng đập trong tíc tắc. Những mảnh hoa hình sao màu trắng sữa lấm tấm trên tóc em, ngỡ như sao trời lạc vào đậu lại, quyện mùi hương phản phất hình như không phải của trần gian. Mắt em thăm thẳm, tôi như chìm trong ánh nhìn của em… Và như ánh chớp, môi em chạm môi tôi nhẹ như cơn gió thoảng qua mang hương sấu ngọt lịm. Tôi không biết mình mơ hay tỉnh… Em Hà Nội hay hàng sấu già sù sì biến hình để tôi ngây dại, vấn vương…
Đêm từng đêm phương Nam, cầm chiếc lá trên tay, tôi đem theo hương sấu ướp thơm giấc mơ và tương tư em. Và loài cây phố Hà Nội – Cây Sấu là cây tương tư mỗi khi tôi nhớ em. Em Hà Nội của tôi.


2. Em gửi vào cho tôi quà Hà Nội – Những trái sấu non bé tí xanh như viên bi ngọc dễ thương, kèm mảng giấy với nét chữ nghiêng học trò – Công thức nấu món canh sấu với thịt nạc. Em còn tái bút mấy dòng – Anh nhờ mẹ nấu anh ăn cho dễ chịu trong nắng nóng phương Nam, là dịu mát em gửi tới anh đấy. Tim tôi lỡ một nhịp, thế này thì làm sao tôi hết tương tư em.
Không biết người Hà Nội ăn món canh sấu non thịt nạc thấy thế nào, nhưng quả thật món canh đó gợi cho tôi nhiều cảm xúc, không chỉ có em – Hà Nội của tôi.
Vị chát thoáng qua ở lớp vỏ mỏng như lụa cho cảm giác thèm để rồi vị chua nhẹ không đủ nhíu mày nhưng lại làm dịu cái khô khát của nắng nóng và vị ngòn ngọt của tí hột non trắng ngà kích thích thêm. Món canh Hà Nội không chỉ ăn, thưởng thức mà còn ngấm một cái gì đó rất riêng Hà Nội, như phảng phất màu tím bằng lăng góc phố trưa, hé nụ phớt đỏ hoa phượng đầu mùa và mùi hương hoa loa kèn len lỏi qua từng cơn gió…, không diễn tả nổi. Tôi hiểu em muốn nói với tôi rất nhiều qua món canh sấu Hà Nội – Những lời không ngôn ngữ nhưng ngầm chứa bao ẩn ý tình cảm khó gọi tên.
Tôi đi nhiều nơi, nếm nhiều món ngon vật lạ, ăn thử các đặc sản vùng miền cũng không ít, nhưng những món ăn Hà Nội thường để lại trong tôi hương vị không thể quên. Hà Nội đẹp thâm trầm cổ kính, người Hà Nội thanh lịch, món ăn Hà Nội cũng tinh tế như thế. Trái sấu non, một thứ trái quả dân dã, gần như không có mặt trên các sạp rau quả trong các khu chợ lớn, nhưng hình như hiện diện ở khắp nơi, rất lạ. Từ bữa ăn thường nhật con nhà bình dân đến thực đơn “đặc sản” - món ăn Việt trong nhà hàng sang trọng cỡ 5 sao cho khách nước ngoài.
Cầm trái sấu nhỏ xinh trên tay, tôi nhớ em lạ lùng. Tôi nhớ tới trái ô mai sấu chua ngọt em đưa tôi nếm thử, tôi nhớ những khoanh sấu chín vàng ươm được tách hột ngâm trong nước đường có ít ớt cay, ở phố cổ Hà Nội. Một gã trai gồ ghề thô mộc bỗng như một cậu bé hồn nhiên ăn những trái sấu dầm, sấu ô mai, thích thú nhìn em chau mày suýt xoa bởi vị chua cay, món quà đường phố không hề có ở phương Nam thành phố của tôi. Giọng em nhẹ như hơi thở, đầy mê hoặc: “Rồi anh sẽ không thể quên.”
Cây tương tư – Quả tương tư. Làm sao tôi quên được những gốc sấu cổ thụ dọc các phố Trần Hưng Đạo, Phan Đình Phùng, những cây sấu trăm tuổi trầm tư ở phố Hàng Bài. Làm sao tôi quên vị chua cay của trái quả mang tên ngộ nghĩnh “sấu” ở phố cổ Hà Nội. Làm sao tôi quên được cái chua dịu nhẹ của tô canh sấu non…
Làm sao tôi không thôi nhớ em. Em Hà Nội của tôi./.

Nỗi nhớ bên kia đại dương

NỖI NHỚ BÊN KIA ĐẠI DƯƠNG

Hoài Hương

Dù có đi muôn phương
Dẫu đã gặp thiên đường
Vẫn không bằng quê hương

1.
Những ngày cuối năm, tuyết bay trắng xóa bám đầy lên các cành cây trụi lá thành bao hình thù kì dị vẽ vào nền trời xám ngắt. Cái lạnh tím tái nhuộm màu buồn bã hết thảy mọi vật. Kẻ xa nhà, xa quê như tôi lại càng cảm thấy bơ vơ đất lạ, người cứ chùng xuống nặng trĩu nỗi nhớ. Nỗi nhớ vượt đại dương, về xứ sở xinh đẹp ấm áp quanh năm, thảo thơm hoa trái bốn mùa cong cong hình chữ “S”…. Có lẽ cái linh cảm thần bí chỉ ở những người xa xứ mới có run rủi cho tôi và ông nhận ra nhau cùng nghĩa đồng bào…. Thế rồi tôi quen ông. Ông bao nhiêu tuổi, không đoán được, nhưng nhìn ông có thể hình dung một cuộc đời đầy gian truân và đau khổ, dấu vết in hằn trên gương mặt ông những nét sâu chằng chịt, và đôi mắt ông là một nỗi buồn mênh mông mà khi nhìn vào tôi cũng muốn rớt nước mắt. Ông mời tôi về nhà – một căn hộ nhỏ chót vót tầng thứ 18 của chung cư tòan người bản xứ. Vừa dợm bước vào phòng ông, tôi đã sững người chớp mắt tưởng mình bị ảo giác. Cả một vườn mai rực rỡ, rung rinh như hàng vạn cánh bướm vàng lung linh… Run run, nhẹ bước, chỉ sợ những bông mai kia sẽ vụt biến mất nếu lỡ một tiếng động mạnh. Như giấc mơ có thật và còn hơn cổ tích, giữa vườn mai trong căn phòng tầng thứ 18 của thành phố tuyết, một già, một trẻ… Ông trầm ngâm, xa vắng… Nhà tôi mấy đời trồng mai. Đến tôi bỏ xứ ra đi, trôi lạc xứ người mấy mươi năm… Không nỗi nhớ nào bằng nỗi nhớ vườn mai quê nhà. Nỗi nhớ ám ảnh tôi cả trong giấc ngủ, trong miếng ăn, hớp nước uống… Vườn mai này là mấy mươi năm nỗi nhớ dồn vào đó. Mỗi ngày, khi xong nợ áo cơm, để vơi nỗi nhớ, tôi tỉ mẫn chăm chút tạo từng dáng mai, kết từng cánh hoa. Vườn mai đã cho tôi nguôi ngoai nỗi nhớ chút ít giữa cái xứ quanh năm tuyết phủ lạnh lẽo này… Ngưng lời, ông trìu mến vuốt nhẹ một cánh hoa, những vết nhăn như giãn ra, ông mơ hồ mỉm cười…

Ngoài trời kia gió tuyết ù ù thổi buốt giá, nhưng trong căn phòng nhỏ của ông, cảm giác ấm áp vô cùng. Sắc vàng rực của những cành mai, dù chỉ là bằng giấy và cây khô, nhưng như nắng quê hương ở bên kia đại dương sưởi ấm chúng tôi, mang lại những người xa xứ một mảnh trời quê hương.
2.
Kể từ khi đến thành phố này, hơn một năm trời, gần như chiều nào tôi cũng nhìn thấy bà ngồi trên chiếc ghế đá nhỏ ở góc công viên, mặt hướng ra phía dòng sông chảy ngang thành phố. Trong hoàng hôn miền ôn đới xanh tím, đục lờ sương, cái dáng ngồi bé nhỏ, đơn côi, gần như bất động của bà làm tôi hơi nhoi nhói lòng… Nhất là khi biết bà là người đồng bào với tôi. Người Việt Nam.

Giọng bà như người mộng du. Tôi ra đi từ một miền quê đẹp như thần thoại, nổi tiếng với những làn điệu dân ca dịu ngọt, đắm say hồn người. Ngày xa quê, tôi là một thiếu nữ, thời gian đã xóa nhòa tuổi thanh xuân, nhưng không thể làm mờ nỗi nhớ trong tôi. Tôi nhớ những đêm trăng vào hội Xuân của làng, cùng các bạn đồng trang lứa hát với nhau đến tàn sương vẫn còn lưu luyến, vấn vương, quấn quít chưa muốn dứt ra. Tôi nhớ vị cay nồng, ấm ngọt, hồng rực môi, má của miếng trầu cánh phượng, ánh nhìn lúng liếng trao nhau của trai gái trong mối tình quê những đêm bồng bềnh trên thuyền say sưa câu hát giao duyên. Nỗi nhớ trong bà cứ mỗi ngày một đầy lên theo thời gian, làm trái tim của bà có lúc muốn vỡ ra. Giống như một căn bệnh kì lạ, mà con cháu bà không thể hiểu được, chiều lòng bà, trừ ngày mưa, bão, tuyết rơi, họ đưa bà ra công viên để bà ngắm sông mỗi chiều. Họ đâu biết, khi ngắm nhìn dòng sông, dù là sông xứ người, bà đang thả hồn mình về dòng sông quê hiền hòa, có những chiếc thuyền mảnh mai hình chiếc lá êm đềm trôi, chở gió, chở mây, chở những câu hát ngọt ngào, tình tứ của gái, trai và chở những kỉ niệm ấu thơ… Có như thế, trái tim bà mới đỡ nặng, bà mới có thể kéo dài những ngày sống xa quê.

Tôi tặng bà một đĩa nhạc dân ca quê Việt đem từ nhà sang. Gượng nhẹ, trân trọng như món đồ quý trên tay, bà nhìn ra dòng sông, ánh nhìn mộng mị… Câu hát quan họ bao nhiêu năm bỗng như bật dậy từ trái tim sâu thẳm của bà “Nhớ ai em những khóc thầm. Năm thân áo vải ướt đầm như mưa. Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ. Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai…”. Nước mắt lăn chảy thành dòng trên gương mặt và tôi cũng nhạt nhòa nước mắt.

3.
Nhân viên bảo vệ sứ quán báo cáo. Liên tiếp ba ngày rồi có một cặp nam nữ người Châu Á, độ tuổi trên 30, cứ lởn vởn quẩn quanh ở khu vực trước cổng, có lúc dừng lại rất lâu và nhìn vào bên trong. Người đàn ông đôi lần kéo tay người đàn bà, người đàn bà dùng dằng không muốn đi và đưa cái nhìn với ánh mắt luyến tiếc một điều gì… Ngày thứ tư, vẫn y như thế. Ngoài ra không có gì khả nghi… Đến ngày thứ năm… Họ đã được mời vào phòng khách của sứ quán. Họ là hai người Việt Nam, nhưng cư trú ở thành phố khác, vì công việc nên có mặt ở thành phố này. Người đàn bà nghẹn ngào không thể thốt được lời nào. Người đàn ông, bình tĩnh hơn. Chúng tôi hoàn tất công việc, đã định ra về. Tình cờ đi ngang qua đây. Bất ngờ nhìn thấy cây hoa đào, bích đào, đang khoe sắc hồng rực tuyệt đẹp trong gió lạnh, nổi bật giữa các loài cây hoa trong sân vườn sứ quán. Có nhiều lý do riêng nên hơn mười năm nay, chưa một lần trở về Việt Nam. Nhà chúng tôi ở ngôi làng nổi tiếng trồng hoa đào của Hà Nội. Làng hoa Nhật Tân. Người đàn bà mắt còn rưng rưng, xúc động. Khi tôi vừa nhìn thấy cây hoa đào ở đây, những gì tôi cố nén, cố giấu kín như ngóc đầu quẫy đạp trái tim tôi đến nghẹn thở. Cả một miền kỷ niệm quê hương trỗi dậy. Làng tôi giờ này, mọi người đang nhộn nhịp chọn, tỉa những nhành đào đẹp nhất. Sắp Tết, Hoa Đào, bánh chưng, câu đối và tất cả quê nhà… Bao năm nay, nỗi nhớ hoa đào ẩn mình trong những giấc mơ đêm, may mắn sao tôi lại đến thành phố này, được nhìn thấy nỗi nhớ của mình. Tôi không còn việc gì ở đây, cây hoa đào níu tôi ở lại mấy ngày nay. Nhìn hoa, tôi như thấy mình được về nhà, phải chia tay, phải xa… tôi đau nhói như ngày lìa bỏ quê hương.

Tôi tình cờ có mặt ở sứ quán và chứng kiến câu chuyện cảm động này. Nhìn người đàn bà, ngây ngây bên cây hoa đào, say đắm vuốt ve từng cánh hoa mỏng nhẹ thắm hồng, miệng phảng phất nụ cười hạnh phúc. Chốc chốc cúi xuống nhặt mấy cánh hoa rơi dưới gốc, , cẩn trọng để trong lòng bàn tay. Tôi và những người có mặt lúc đó, hình như ai cũng trào lên nỗi xúc động khó tả. Một mảnh trời quê, một sắc màu xứ sở không bao giờ phai nhạt trong tim người Việt dù ở bất cứ đâu và làm gì.

4.
Em đến thành phố Bắc Âu này dù hơn hai năm nhưng vẫn chưa thể nào quên được mọi thứ ở đây. Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông cứ luôn ngược với những gì mang theo từ quê nhà. Mùa Hè chỉ thoáng qua không kịp nhận diện, với vài sợi nắng mệt mỏi không đủ sức xuyên qua lớp mây xám dày mỏng ẩm nước. Mùa Đông thì khủng khiếp với những cơn bão tuyết nhuộm trắng đất trời, đông cứng cả ý nghĩ. Mùa xuân, mùa thu vẫn lạnh lẽo đến từng hơi thở…

Em đã thèm một giọt nắng vàng như mật nghịch ngợm, trên tóc trưa hè trong vườn nhà anh. Em mộng mị từng đêm giấc mơ cả con đường ướp hương hoa đêm thu bên anh. Em nhớ quay quất bụi mưa mùa Xuân đọng nhẹ trên hàng mi em làm anh sững sờ. Em bối rối đón nụ hôn của anh một chiều đông ấm áp…
Có những ngày cuối tuần, lạc lõng giữa dòng người đi mua sắm nơi xứ người, ước thầm được nghe một tiếng nói thân quen. Đêm về nhìn qua ô cửa kính mờ đục, mặt trăng gầy guộc xanh xao lạnh hơn tuyết giá. Xung quanh em đầy đủ mọi thứ, sao vẫn thiếu vắng đến tê tái. Chạm tay vào một nút bấm. “Đây là Đài Tiếng nói Việt Nam. Phát thanh từ Hà Nội…”. Nước mắt lăn dài. Mẹ ơi? Con nhớ Mẹ!

“Quê hương nếu ai không nhớ. Sẽ không lớn nổi thành người…”. Đêm chia tay tiễn em đi, anh chẳng nói gì, chỉ láy đi láy lại câu hát và trước lúc em vào phòng cách ly trên sân ga, anh dúi vào tay em gói nhỏ - mứt gừng… “Gừng cay muối mặn”… Em hiểu anh muốn nói với em điều gì khi xa anh, xa Tổ quốc. Sau những khoảng thời gian vật lộn với mớ kiến thức cần dung nạp, là nỗi nhớ. Cơm gạo xứ khác nhạt nhẽo không hương vị nắng gió đồng quê như ở nhà. Uống nước chai, nhớ vị ngọt của ly chè góc phố trưa, ngọt cả môi hôn anh và em. Vào quán Mc.Donald’s, nhớ quay quắt tiếng gõ lóc cóc mì gõ cùng anh ăn mùa học thi. Đi giữa phố rực rỡ đèn màu, nhớ trăng mái phố lung linh ảo huyền có anh đưa em ngắm sao đêm. Bất cứ cái gì nơi này cũng làm em nhớ, em so… chẳng đâu hơn được nhà mình. Nỗi nhớ dài mãi theo những ngày xa. Nỗi nhớ quê bên kia đại dương. Ước thời gian vùn vụt trôi để được về nhà ./.

Hồng nhan thầm lặng

Hồng nhan thầm lặng

Hòai Hương

Đám tang người hàng xóm của tôi có lẽ là đám tang lớn nhất từ trước tới giờ của xóm này kể từ khi tôi có thể nhận biết được sự việc xung quanh mình. Rất nhiều xe hơi, rất nhiều đòan khách và rất nhiều hoa. Không biết khi còn sống người hàng xóm của tôi làm gì, tôi chỉ biết đó là một người đàn bà đẹp, tuổi nhỏ hơn má tôi chút ít, độ 60 , sống lặng lẽ một mình, ít giao tiếp, hình như không được thiện cảm của cư dân xóm tôi. Nhưng trong đám tang bà có cả những vị chức sắc của địa phương, có cả những lãnh đạo của thành phố và đặc biệt có một đòan khách tòan mặc quân phục, đeo huân chương trên ngực đến viếng bà, trong đó có nhiều người phụ nữ luống tuổi và gương mặt họ rất đẹp…Lạ nhất là có một người đàn ông Mỹ lớn tuổi đứng lặng bên linh cữu bà .
Cạnh di ảnh của bà là một tấm bảng nhung nhỏ đính một ngôi sao vàng trên nền quốc huy và gắn đầy cuống huy chương, huân chương.Và lần đầu tiên tôi biết tên của bà: Sương Mai.
Má tôi cũng lạ, bà túc trực ngày đêm bên đám tang. Lạ hơn, khi đòan người tới viếng tòan các bà có gương mặt đẹp, má tôi ra đón trong một trạng thái hồ hởi, không có vẻ gì thích hợp với không khí tang lễ. Má và họ ôm nhau,như chị em thân thiết, líu ríu những gì không rõ, hình như mắt ai cũng ngấn ướt.
Người đàn bà có tên Sương Mai, sát vách nhà tôi, tôi gọi dì Út, sống khép kín đến khó hiểu. Hàng xóm không mấy ưa bà vì bà gần như không giao tiếp với ai. Gương mặt đẹp, nhưng u buồn cứ làm cho người đối diện cảm thấy nặng nề. Khi tôi lớn lên, có vài lần nghe xì xào bà là “Me Mỹ” hồi chưa giải phóng. Tôi về nói má nghe, bị má giận,rầy một trận te tua, má không nói gì cho tôi hiểu hơn ngòai một câu:”Đó là một người con phải kính trọng và biết ơn vì chính sự hy sinh thầm lặng”.
Và rồi những mẩu chuyện rời rạc của mọi người tới viếng dù không rõ ràng nhưng đủ để tôi chắp vá thành chân dung một cuộc đời thầm lặng của người nữ anh hùng.

1.Một người đàn bà không phải ở xóm tôi, ngồi xuống bàn nước cùng mấy người khách. Bà huớng về di ảnh của người đã khuất, nói như hối lỗi:
-Hồi đó tui đâu có dè cổ là người của cách mạng. Thấy cổ đi với Mỹ mà ghét, đuổi cổ không cho trọ nhà tui. Giải phóng, cổ về cùng với mấy ông Quân quản tới nhà thăm hỏi, rồi sau đó lo dùm cho sắp nhỏ nhà tui ăn học, công việc đàng hòang….
Một người hàng xóm của tôi phân trần:
-Cổ về đây ở hơn 30 năm mà tụi tui đâu có biết cổ làm gì. Nhìn cổ trẻ, đẹp, cũng có vài người đàn ông tới lui nhưng rồi sau không thấy ai.Thấy sáng đi làm, chiều về nhà, lui cui nấu ăn, dọn dẹp. Lâu lâu thấy có xe hơi đưa đón. Cổ hơi kỳ lạ, bí ẩn, không tiếp xúc với ai. Tụi tui ở đây không ai ghét cổ, nhưng không thích tính khí lành lạnh của cổ. Cũng có nghe xầm xì vài người nói, ngày trước cổ là gái bán bar, rồi lấy chồng Mỹ. Mấy người xóm tui hơi ác ý thì nói chắc vậy nên giờ không lấy được chồng. Thiệt tụi tui bậy quá.
Má tôi đang ngồi với những người đàn bà đẹp. Họ ngồi cũng lạ, tất cả hướng mặt về di ảnh dì Út Sương Mai.
Má tôi:
-Tội nghiệp nhỏ Út, nó nhỏ nhất, đẹp nhất trong đám chị em mình, vậy mà ra đi sớm nhất.
Giọng một bà:
-Nghĩ thương nhỏ Út quá, thiệt thòi nhất, chẳng có được một ngày sống cho riêng mình…
Một giọng khác:
-Tánh nó thế… Nhớ lại …. Mới đó đã hơn 30 năm… Lúc đó tụi mình chỉ mới ngòai 20 tuổi…Không ai tiếc tuổi xuân… Chỉ nghĩ tới cái ngày hòa bình mà quên hết…
Như một sự khơi nguồn, má tôi, mấy người đàn bà đẹp hồi nhớ lại những chuyện xưa về người đã khuất.

2.Hộp đêm “Đêm màu hồng” nằm trên đường Tự Do( nay là Đồng Khởi), nổi tiếng trong giới ăn chơi Sài Gòn những năm 60-70 của thế kỷ trước.Vào một ngày như bao nhiêu ngày bình thường khác của năm 1968 đầy lọan lạc chiến tranh và bóng áo lính Mỹ, lính Sài Gòn đặc ngòai đường phố, ông chủ của hộp đêm được thông báo có một cô gái trẻ cần gặp. Trong hôp đêm của ông có tiếng nhiều gái đẹp nhất Sài Gòn nhưng khi đối diện với cô gái trẻ này thì tất cả nhan sắc khác như bị lu mờ, ông đã sững sờ trong giây lát khi cô gái bước vào phòng làm việc của ông bởi vẻ đẹp vừa mong manh, thanh khiết như thiên sứ vừa kiêu sa lộng lẫy như một đại tiểu thư quyền quý qua ánh mắt, đôi môi, thân hình, bộ áo dài hồng nhạt và cả cung cách tự tin không một chút bối rối của cô gái.
- Thưa ông, em là Sương Mai, người nhà của ông Hai. Ông Hai gửi ông lá thư, mong được ông tiếp nhận em vào làm việc ở đây.
Ông Hai là một nghị sĩ trong Hạ Nghị viện Sài Gòn, là người bà con được kính nể của chủ hộp đêm. Không cần hỏi gì , chủ hộp đêm nhận ngay cô gái với đặc ân,ban ngày đi học, tối mới làm việc tại quầy bar, nếu thích cô có thể ra ngồi với khách, không bắt buộc như các cô gái khác làm trong hộp đêm.
Sương Mai với vẻ đẹp lạ, khả năng giao tiếp, đặc biệt là với các vị khách ngọai quốc đã mau chóng chiếm được sự tin tưởng của chủ và sự nể phục của các cô bạn cùng làm trong hộp đêm. Không lâu sau cô như một thỏi nam châm hút khách đến “Đêm màu hồng” mà trong số đó có nhiều khách là các sĩ quan, cố vấn Mỹ làm việc ở các cơ quan của Mỹ ở Sài Gòn.

3.Trong một căn lán lợp lá dừa nước, bốn bề cũng thưng bằng lá dừa kín đáo dưới tán rừng miền Đông, cuộc gặp gỡ có ba người và cùng che mặt, chỉ chừa 2 đôi mắt, gồm hai người nữ trẻ qua dáng người, và một người nam mà qua giọng nói đã luống tuổi.Cuộc họp đang vào những phút cuối
Người nam lên tiếng:
-Đã tới lúc có thể phát triển mối quan hệ và tiếp cận sâu, chuẩn bị cho bước tiếp theo.Chiến trường đang cần những thông tin chính xác để đánh giá tình hình, để có được những phương án tác chiến cũng như xây dựng kế họach chiến lược trong giai đọan mới.
Một người nữ, giọng nói băn khoăn:
-Nhưng như thế phải xây dựng mối quan hệ sâu đậm với hắn mới mong có thể hòan thành bước tiếp theo.Người của ta còn trẻ. Liệu có quá thiệt thòi?
Người nữ kia, có lẽ rất trẻ qua giọng nói, nhưng cũng không dấu được sự dứt khóat, kiên định:
-Nếu để hòan thành nhiệm vụ, sẽ chấp nhận tất cả tình huống xấu nhất.Đừng lo gì cho tôi. Hãy chuẩn bị tốt đường dây.
Người nam dặn dò:
-Vậy ta sẽ triển khai theo đúng kế họach. Nên nhớ mọi người phải hỗ trợ nhau không được để xảy ra điều gì. Luôn cẩn trọng và cảnh giác giữ an tòan tuyệt đối. Chúc thành công.
Con hẻm nhỏ lâu nay không ngớt xì xào về chuyện cô gái trọ học tên Sương Mai đẹp như tiên, nghe nói học rất giỏi, nhưng lại đi làm ở hộp đêm, bữa nào cũng gần sáng mới về. Rồi sau lại dẫn một người Mỹ tới nhà trọ, và không ít lần thấy cô bước ra từ xe của người Mỹ này vào đêm khuya.. Sau lưng cô đã có đôi ba lời ác ý:”Me Mỹ”, “Cave”... Cô càng ăn diện hơn, càng hay lên xe với người Mỹ đi chơi có khi đôi ba ngày mới về nhà trọ. Có lẽ chịu hết nổi những lời dèm pha của hàng xóm trong con hẻm về người ở trọ, và có lẽ thấy cũng chướng mắt với sự hư hỏng của cô học trò ngày càng ăn diện và cặp kè với người Mỹ một cách công khai, không muốn làm gương xấu cho lũ trẻ trong xóm,chủ nhà trọ bắt cô dọn đi.

4.Người đàn ông Mỹ là tâm điểm cho tôi chú ý. Lúc tới, ông ta gần như đứng sững trước di ảnh dì Út, mắt rưng rưng, miệng nói gì đó có vẻ rất tha thiết nhưng cũng đầy đau đớn trước di ảnh. Một người cùng đi, chắc là của bên Sở Ngọai vụ thấy ông đứng quá lâu, tới dìu ông ra bên ngòai. Tôi đã nghe lỏm được câu chuyện của ông.
…Trong số khách tới Đêm màu hồng có một viên cố vấn Mỹ làm việc ở DAO- Cơ quan Viện trợ Quân sự Mỹ ở Sài Gòn, tên John. John thường tới đây vài lần trong tuần, nhưng từ hôm có Sương Mai trong quầy bar, như bị hút hồn bởi vẻ đẹp và giọng nói của cô, gần như các tối trong tuần, John đều có mặt, không mời bất kỳ cô gái nào ngồi cùng,không khiêu vũ, chỉ kêu mấy ly rượu, vừa uống vừa trầm ngâm cho đến gần nửa đêm mới ra về.Thấy Jonh có vẻ thật tình không như các khách Mỹ vào hộp đêm uống rượu, tìm gái giải trí , vui chơi nhất thời, ông chủ hộp đêm trong một buổi vắng khách đã thử ướm lời với Sương Mai, ông cũng tỏ ý nếu cô không muốn thì thôi, ông tôn trọng nguyên tắc của cô. Không ngờ Sương Mai thuận lời, hứa sẽ tiếp chuyện John.
Trong mắt mọi người, Sương Mai- John là cặp tình nhân Việt-Mỹ đẹp nhất của Đêm màu hồng. Không ai tỏ ra ghen với Sương Mai, mà ngược lại quí mến cô hơn. Ông chủ hài lòng vì John nhiều lần mời bạn bè đồng nghiệp của mình và cả mấy người bạn sĩ quan thân thiết cả người Mỹ lẫn Việt tới hộp đêm vui chơi, sau họ thành khách thường xuyên. Các cô gái ở hộp đêm có thêm nhiều “mối” không phải tranh giành, chia phần và ganh tị nhau.
Không lâu sau, Sương Mai chính thức vào làm thư ký văn phòng của DAO, do chính John bảo lãnh vì là “vị hôn thê” của John. Trước đó cô muốn “đền bù” cho Đêm màu hồng nên giới thiệu mấy cô bạn cũng sắc nước hương trời tới làm, vừa đẹp lòng ông chủ, vừa có chỗ đi lại thăm viếng chị em bạn bè khi rảnh rỗi.
Xinh đẹp, duyên dáng và nhất là rất giỏi tiếng Anh, Sương Mai không mấy khó khăn khi làm quen công việc , lại là “hôn thê” của John nên được lòng sếp của văn phòng DAO. Vài tháng sau, cô đã được giao làm một số công việc quan trọng. Cũng là lúc mà tình cảm của John với cô không dừng ở “vị hôn thê” như bấy lâu, cho dù cô đã dọn về sống chung với John kể từ ngày rời khu nhà trọ trong hẻm nhỏ.Một đám cưới Việt- Mỹ tưng bừng, sang trọng, cô dâu Sương Mai đẹp lộng lẫy bên chú rể John quý phái, cùng tươi cười với mọi người..
Một người đàn bà đẹp:
…Và cũng từ thời điểm đó, trong căn cứ luôn nhận đươc những tài liệu tuyệt mật của Mỹ về các kế họach liên quan đến quân đội Mỹ ở Việt Nam, từ các cuộc hành quân, cách chiến dịch lớn nhỏ, di chuyển thay đổi phiên hiệu,quân số, các trang thiết bị phương tiện quân sự…
John kể:
…Vài bức điện mật của cơ quan CIA được gửi tới người đứng đầu văn phòng DAO- Sài Gòn, đề nghị kiểm tra nội bộ, vì không hiểu sao các kế họach tác chiến của Mỹ gần như bị đối phương biết trước, nên không thu được kết quả gì, chưa nói đến chuyện thất bại, thương vong.Những người Việt Nam làm ở DAO là đối tượng tình nghi đầu tiên, không lọai trừ cả Sương Mai, dù cô đã là phu nhân của viên cố vấn John. Một cái lưới bí mật được giăng ra để tìm ra kẻ “nằm vùng” của Việt Cộng. Mỗi người đều được thử trước tiên bằng phương tiện hiện đại mới nhất được trực tiếp gửi từ Mỹ sang- Máy phát hiện nói dối. Nhưng máy không phát hiện được gì.
John đã dùng ảnh hưởng của mình bảo lãnh để cho cô không tham gia “trò chơi” nguy hiểm của An ninh Mỹ, nhưng có lẽ lý tưởng quốc gia, danh dự nước Mỹ lớn hơn tình cảm đã làm cho John phải chấp hành quân lệnh, để vợ mình phải chịu thử thách,thật sự John luôn tin vào Sương Mai, không bao giờ nghĩ cô là tình báo Việt Cộng…
Cô ấy xinh đẹp, thông minh và không thể… Có lẽ thế mà người Mỹ chúng tôi đã thua ở Việt Nam.
Má tôi:
-Một hôm, Sương Mai được lệnh dịch xấp tài liệu của một chỉ huy tham mưu Việt Cộng mới bị bắt và chiêu hồi. Cầm xấp tài liệu trên tay, lướt qua, cô thấy những phiên hiệu đơn vị Quân giải phóng, những phương án tác chiến và kế họach hành quân, vũ khí trang bị cá nhân và các đơn vị phối hợp… Thầm nghĩ, những thông tin này mà lọt vào tay Mỹ thì không biết bao nhiêu hy sinh của đồng đội tính được…Làm sao mà thông báo cho trên biết…Nhưng có phải là cái bẫy không?Sương Mai đọc thật kỹ tài liệu, cô phát hiện ra một chi tiết, đó chính là phiên hiệu số hòm thư của đơn vị. Trước khi “vào thành”, cô đã được các cấp chỉ huy giảng giải kỹ về những ký hiệu, mã số… quân sự, trong đó có nói qua về số hòm thư của các đơn vị Chủ lực theo một trình tự và sắp xếp đặc biệt, chỉ bên quân bưu mới nắm chính xác thuộc đơn vị nào để bảo mật.Sương Mai, do đã được tìm hiểu nên cô nhanh chóng phát hiện sự khác biệt này. Cô nhận ngay ra đây là một cái bẫy.Và rồi nửa ngày sau, cô mang trả lại tài liệu với bản dịch chi tiết được đánh máy cẩn thận.Ở một căn phòng nhỏ vào thời gian đó, mấy viên an ninh Mỹ châu đầu xem màn hình, họ tỏ ý yên tâm.
…John kể như đang quay chậm cuồn phim hồi ức.
…Viên sếp văn phòng DAO gọi cô lên, giao cho một cặp tài liệu, trong đó là các kế họach cung cấp quân trang, quân dụng, vũ khí và những thiết bị quân sự khác, các chiến thuật đối phó với Chủ lực Quân giải phóng- Việt Cộng ở vùng chiến sự giao cho Tư lệnh Vùng quân đội Sài Gòn.Cùng đi có một viên chỉ huy người Mỹ, tháp tùng theo là một trung đội quân cảnh Mỹ để bảo vệ.Cuộc hành quân tưởng như khá trôi chảy, không gặp bất trắc gì suốt dọc đường. Sương Mai không lúc nào rời vị trí quy định và chiếc cặp tài liệu luôn được bảo vệ cẩn mật. Ngày cuối cùng,khi có thể kết thúc chuyến đi, quay về Sài Gòn, ở đọan đường một bên núi, một bên là vực sâu, thì cả đội hình bị lọt vào tổ phục kích của du kích Việt Cộng. Chiếc xe đầu và xe cuối bị trúng mìn nổ tung, cháy bùng như ngọn đuốc làm các xe không thể tiến- lùi hay tản ra, lính nhảy ra khỏi xe cuống cuồng để tránh bị trúng mìn tiếp theo, thì lại gặp phải một lưới đạn bắn như nan quạt không biết tránh vào đâu, chỉ biết chúi đầu xuống di chuyển sát chân núi nấp sau mô đá. Chiếc xe của Sương Mai bị đạn bắn vào bánh xe, cô lúng túng chưa kịp nhảy xuống thì thấy mấy bóng người tràn tới, một tiếng nổ lớn,trước mặt cô tối sầm, chiếc cặp cô ôm trên tay bắn tung đi đâu.
Không biết là bao lâu sau cô tỉnh lại, thấy mình đang nằm trong một căn phòng rộng, mát, sạch sẽ,thoang thỏang hương thơm…Vài phút sau, sếp văn phòng DAO, theo sau là John bước vào.
John không dấu vẻ mừng rỡ:
-Ơn Chúa, em đã tỉnh, khi nghe tin dữ, anh đứng ngồi không yên, đòi ra ngay nơi em gặp nạn. Em đã mê man hết 2 ngày hơn. May mà em chỉ bị hôn mê do chóang sức ép của mìn, không bị thương ở đâu, nhưng bác sĩ bắt phải nằm thêm để theo dõi sức khỏe.
Sương Mai lo lắng đưa mắt nhìn sếp, yếu ớt:
-Những người kia thế nào rồi? Cặp tài liệu đâu?
-Ồ, cô đừng lo. Rất may, khi đơn vị ứng cứu ra tới nơi thì đối phương chỉ bắn cầm chừng chút ít, rồi rút hết do không chống cự nổi hỏa lực của ta. Ta có bị thương vong mấy người, nhưng không ai bị bắt đi. Chiếc cặp tài liệu ngày hôm sau được tìm thấy ở sát mép vực,còn nguyên vẹn không suy xuyển gì.

5.- Chị ơi, em không muốn giữ?
- Em nghĩ kỹ chưa?Đây là lần thứ 3 rồi, em mà tiếp tục thì sau này khó làm mẹ được.
- Nhưng em không thể có một đứa con lai. Em còn nhiệm vụ…
Chị lại thêm một lần xót xa cho Sương Mai, nhìn gương mặt đẹp như tạc bằng cẩm thạch của cô nằm thiêm thiếp trên giường, tim chị như bị vò xé. Không riêng Sương Mai, trong lưới chị phụ trách tòan những người con gái trẻ, đẹp, thông minh, giỏi giang. Họ đã vì sự nghiệp chung của Tổ quốc giao phó mà hy sinh sự trong trắng thiêng liêng của người con gái, hy sinh hạnh phúc được yêu và yêu và làm mẹ, chấp nhận sự ghẻ lạnh khinh bỉ của mọi người xung quanh..
Không biết bao đêm khi John buông Sương Mai trong sự thỏa mãn và ngủ vùi, thì cô mở mắt thao láo nhìn lên trần nhà, nuốt tiếng thở dài vào sâu trong ngực đến buốt nhói khi nghe con thạch sùng tắc lưỡi.Cô không hề hối hận với những gì mình đã quyết định. Khi đã xác định “lên rừng” theo nghiệp cha, một cán bộ quân đội đang chỉ huy ngòai mặt trận trực tiếp chiến đấu chống quân thù , trả thù cho má và những người dân vô tội bị bom Mỹ giết hại, cô đã tự thề với chính mình, sẽ nhận bất cứ nhiệm vụ gì được giao, cho dù phải hy sinh tính mạng. Tính mạng không tiếc, tiếc gì những thứ khác. Vì sự nghiệp chung của cách mạng, vì ngày chiến thắng, cô quên bản thân mình… Nhưng có một vài khỏanh khắc, cô ý thức mình là một cô gái đẹp, đã từng có nhiều ước mơ về một tình yêu trong sáng, thơ mộng, một gia đình hạnh phúc có những đứa con trai, con gái xinh đẹp ngoan hiền thông minh… Bên cạnh cô bây giờ là kẻ thù, cho dù John chưa hề trực tiếp bắn giết ai, nhưng cô phải ôm ấp, phải âu yếm, phải tạo dựng một không khí gia đình luôn ngây ngất trong hạnh phúc của mật ngọt tình yêu…Niềm an ủi duy nhất mà cô luôn tự động viên mình, đó là nhiệm vụ mà cô được giao luôn hòan thành, nhờ đó mà ở chiến trường, những đồng đội của cô trong đó có cha cô cũng đỡ phải đổ máu hy sinh.
Cô nhớ lại những ngày đi học, tham gia phong trào sinh viên, cô đã từng xao xuyến trước ánh mắt của nhóm trưởng, một sinh viên trường Đại học Khoa học. Họ không nói gì với nhau ngòai trao đổi công tác, giao nhiệm vụ, nhưng ẩn chứa trong mỗi cái nhìn, mỗi lời nói là tình yêu thầm lặng, và họ biết nén lại…Ngày cô “lên rừng” nhận nhiệm vụ mới, cô đã phá nguyên tắc hẹn gặp anh, cô không nói gì nhưng hình như anh hiểu, anh chỉ nắm tay cô, bàn tay thật ấm, hơi ấm bàn tay anh như tiếp sức cho cô cả đọan đường dài sau này…Bây giờ anh ở đâu, làm gì cô không biết vì sau đó cô nghe nói anh cũng “lên rừng” nhận nhiệm vụ khác.. ..

6. Sau cuộc tập kích chiến lược bằng B.52 cùng các lọai máy bay chiến thuật hiện đại nhất của Mỹ vào các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh miền Bắc Việt Nam tháng 12.1972 của Mỹ bị thảm bại, cả nước Mỹ bàng hòang..Hiệp định Paris được ký kết. Mỹ phải chấp nhận rút quân về nước. Nhưng không phải là chiến tranh chấm dứt. Mỹ chưa từ bỏ tham vọng và chuẩn bị xây dựng một chiến lược mới cho chính quyền và quân đội Sài Gòn khi không có Mỹ ở Việt Nam.Ngòai ra còn một số kế họach của Mỹ ở Đông Dương, đặc biệt là Lào, Cămpuchia, hai quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đối với cuộc chiến ở Việt Nam. Văn phòng DAO, hơn lúc nào hết có vai trò rất quan trọng, chỉ sau có Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn.Và nhiệm vụ của Sương Mai là làm sao lấy được tài liệu kế họach của Mỹ đối với Chính phủ Sài Gòn sau Hiệp định Paris , kể cả kế họach hậu chiến ở Việt Nam. Theo như trên cho biết, tài liệu này đã được Văn phòng Tổng thống Mỹ chuyển sang cho Đại sứ Mỹ và Chỉ huy Văn phòng DAO ở Sài Gòn.
Má kể:
…John được lệnh về Mỹ, và muốn Sương Mai theo cùng. Sương Mai, cho dù lý trí vẫn luôn mách bảo, đây là cuộc hôn nhân vì nhiệm vụ, nhưng suốt mấy năm sống chung, John chưa một lần nào nặng lời với cô, chiều chuộng cô hết mực. Chưa kể chính nhờ John mà nhiều lần cô đã có được những tài liệu, thông tin quan trọng, mà điều không thể thừa nhận, cuộc hôn nhân với John là vỏ bọc vững chắc để cô hòan thành nhiệm vụ. Nói không có tình cũng không đúng, nhưng sao cô cứ chông chênh. Cấp trên nói sẵn sàng để cô đi, vì cuộc chiến của Mỹ với Việt Nam vẫn còn tiếp diễn, John về Mỹ nhưng làm việc ở Bộ Quốc phòng, cô có thể là kế họach hậu chiến của ta, nhưng cấp trên cũng sẽ không ý kiến gì nếu cô ở lại, tất cả là do cô quyết định. Điều quan trọng nhất là trước khi John về Mỹ, cô bằng mọi cách lấy được tập tài liệu mà trên đã chỉ thị.
Giọng của John:
…Văn phòng mở tiệc chia tay một số quân nhân làm việc ở DAO về Mỹ đợt đầu,trước đó có một cuộc họp kín chỉ có các sếp cấp phòng là người Mỹ tham dự, trong đó có John. Sương Mai là người Việt Nam duy nhất được biết nội dung cuộc họp, vì ở văn phòng DAO cô được xem là người Mỹ.
Một người đàn bà đẹp:
…Sương Mai run người khi cầm tập hồ sơ, nó chính là tài liệu mà cấp trên giao nhiệm vụ cho cô phải lấy bằng được. Làm cách nào để có một bản chụp, trong khi bên cô luôn có hai viên an ninh Mỹ giám sát, hơn nữa số bản sao được kiểm sóat chặt chẽ, in hư thì phải bỏ ngay trang đó vào máy cắt giấy và hủy bằng nhiệt thành tro.Cô vừa làm vừa nghĩ ra nhiều phương án để lấy được số tài liệu này. Và chỉ có John mới giúp cô hòan thành nhiệm vụ.Cuộc họp chấm dứt, mọi người chỉ kịp cất tạm tài liệu trong phòng làm việc của mình,khóa cửa ra nhập tiệc ngay, không tuân thủ quy tắc bảo mật tài liệu là phải bỏ vào tủ có khóa mã bảo vệ và chip điện tử báo trộm. Có lẽ tiệc tại văn phòng, mà người dự tiệc là người của DAO, chỉ có vài khách mời là quan chức cao cấp của Chính quyền Sài Gòn, mà họ phá quy tắc mất cảnh giác. Sương Mai cũng biết điều đó, và đó là cơ hội của cô.
Sương Mai tươi cười bên John đi vòng quanh phòng cụng ly với bạn bè, khách khứa, bất chợt cô lọang chọang, ly rượu nghiêng suýt đổ vào người John, kịp đỡ cô, nhìn sắc mặt tái mét của Sương Mai, John không chậm trễ, vội dìu cô vào phòng mình nghỉ tạm. Sương Mai muốn cho John yên lòng, ra dấu cô không sao, nghỉ mệt tí là có thể khỏe lại, John cứ ra ngòai với bạn bè. John là người chồng tận tâm và thương yêu Sương Mai hết mực, có lẽ lo lắng sức khỏe vợ mình, ra ngòai dự tiệc một chút thì John quay lại phòng, tỏ ý muốn đưa cô về nhà nghỉ. Sương Mai lúc này cũng muốn mau chóng rời khỏi văn phòng DAO, để có thể chuyển nhanh tài liệu ra ngòai cứ. Trước khi ra khỏi phòng, cô không quên nhắc John bỏ tài liệu vào tủ bảo mật cất. Nhìn John, trong cô chợt trào lên một tình cảm khó gọi tên, cô thương John.
John bồi hồi xúc động:
…Cho tới ngày cuối cùng tôi vẫn nghĩ Sương Mai sẽ theo tôi về Mỹ.Cô đi mua sắm nhiều vật lưu niệm của Việt Nam, may thêm mấy chiếc áo dài…,. Ngày hôm sau là ngày cả hai rời Việt Nam.Sương Mai ngỏ ý được đi cùng John ra vùng ven Sài Gòn lần cuối,nơi cô có nhiều kỷ niệm thời thơ ấu trong một cô nhi viện. John chiều cô, nhưng không quên mang theo một tiểu đội quân cảnh Mỹ cùng đi để bảo đảm an tòan, vì nơi vùng ven đó là vùng cài răng lược, đang giao tranh giữa quân đội Sài Gòn và Việt Cộng sau Hiệp định Paris.
Một ngày lãng mạn và bình yên. Chiều muộn, sương đã giăng mờ mờ, khu rừng cây ban trưa thật yên tĩnh và thơ mộng thì bây giờ như chứa đầy sư đe dọa bí ẩn. John đề nghị quay về Sài Gòn, không ở lại thêm tránh bất trắc.Nhưng xe chưa ra khỏi khu rừng để ra lộ thì như một dàn pháo bông chói lòa trước mặt, tiếp theo là tiếng nổ ầm, chiếc xe quân cảnh bảo vệ đi sau bị hất tung lên cùng với nhiều tiếng la hét, chiếc xe của John cũng bị bật tung cửa, Sương Mai bị bắn ra ngòai, John không kịp dừng lại cứ thế lao xe đi như bản năng, trong khi tiếng súng bắn theo rất sát..Đến khi chợt cảm thấy không còn tiếng súng thì John cũng ra tới ngòai đường lộ. Không chậm trễ, John chạy thẳng tới ngay đơn vị đồn trú của Sài Gòn, yêu cầu chi viện quân vào lại khu rừng để tìm Sương Mai, nhưng bọn lính Sài Gòn không chịu đi, với lý do vào đó là nộp mạng cho Việt Cộng, vì giờ này là giờ của họ. John chỉ còn biết kêu Trời, bất lực. Trong lòng rối bời đau đớn lo cho số phận của Sương Mai. John không thể ngờ lại mất cô vào đúng lúc này…
-Vâng! Đó là thời khắc đau đớn nhất của tôi. Không còn thời gian để tìm kiếm, tôi chỉ kịp báo cấp trên là Sương Mai đã bị du kích Việt Cộng bắt hay giết…Khi về tới Mỹ, cùng cấp chỉ huy kiểm tra, rà sóat lại tòan bộ họat động của DAO ở Sài Gòn thời gian qua, tôi cứ lờ mờ một cảm giác, hình như Sương Mai có điều gì rất khó hiểu, kỳ lạ . Cô không giống bất kỳ người đàn bà Việt lấy chồng Mỹ,không ăn diện, không tiệc tùng, luôn trách nhiệm công việc và rất ý thức về thời gian. Phần khác, khi cấp trên báo tài liệu “hậu Hiệp định Paris” đã bị Việt Công nắm. Kiểm tra nguồn, tôi biết đó là tập tài liệu xuất phát từ tôi, cho dù không có mã số, nó đã bị che, vì khi đọc tôi đã để một dấu “chấm” vào trang cuối. Tôi chợt hiểu tất cả…
Tiếng của má:
…Sương Mai chỉ có thể làm được một điều duy nhất cho John,như một lời thầm cảm ơn những gì John đã vô tình giúp cô hòan thành nhiệm vụ, là không để John bị liên lụy, một khi tài liệu được gửi đi. Cô đã làm một thao tác nhỏ, che hết ký hiệu đánh dấu trên tài liệu trước khi chụp lại- mỗi một bộ tài liệu đưa cho ai đều có một ký hiệu riêng, mà ký hiệu đó chỉ cô và viên chỉ huy DAO được biết, đó cũng là một hình thức bảo mật, nếu tài liệu lọt ra ngòai sẽ truy được ai là người đã làm lộ.

7. Sương Mai không còn phải che mặt bảo mật, cô được trên tuyên dương khen thưởng, mọi người làm một tiệc nhỏ trong Khu bộ để mừng cô bình yên trở về, rồi cô được phân công tác ở bộ phận dịch thuật tài liệu của địch mà ta thu được sau các cuộc giao tranh. Tuy không có ai nói gì, và các cấp trên luôn dành cho cô những ưu ái, lời khen hòan thành nhiệm vụ, nhưng cô vẫn đọc được đâu đó trong ánh mắt mọi người nhìn cô không được tự nhiên, họ hay tránh nói chuyện với cô, nếu cô có chủ động bắt chuyện thì họ nói dăm ba câu là kiếm cớ đi làm công chuyện.Những người đàn ông thì nhìn cô e ngại, đàn bà thì hay xì xào sau lưng cô .Cô nghe lóang thóang họ nói với nhau về việc cô từng là “gái bán bar”, lấy chồng Mỹ…
Tháng 4.1975, khi những tin tức chiến sự với những chiến thắng của ta khắp các mặt trận dồn dập bay về Khu bộ, thì cũng là lúc cô nhận được tin ngừơi cha của mình hy sinh khi đang chỉ huy đánh chiếm Buôn Mê Thuột, trận đầu mở màn chiến dịch “Hồ Chí Minh” lịch sử. Cô chưa kịp gặp lại người cha mà cô chỉ còn nhớ trong trí nhớ của đứa trẻ lên 6 tuổi, ba tập kết ra Miền Bắc, rồi ba quay lại chiến trường… Cha con chỉ được biết tin nhau qua những lời nhắn từ giao liên, mà cũng rất hiếm, vì nguyên tắc bảo mật công tác của cô và đường dây.
Nhóm trưởng của cô bây giờ vẫn trong thành, chị ấy đang lo những việc chuẩn bị cho trận chiến cuối cùng giải phóng Sài Gòn. Lúc này công việc dịch thuật tài liệu địch không còn nhiều, chủ yếu là những bức điện và một số bài báo của các hãng truyền thông nước ngòai, công việc đó chỉ cần làm chút ít thời gian, cô rảnh nhiều, không biết làm gì ngòai việc giúp chị nuôi nấu cơm.Cô muốn trở về Thành công tác nhưng cấp trên không đồng ý. Có một điều gì đó cô cảm nhận được nhưng không rõ ràng, cấp trên hình như không muốn giao nhiệm vụ gì cho cô.Không biết có phải vì cô đã có một cuộc sống khác trước khi vào đây, hay cô có điều gì đó để khiến họ không còn tin tưởng cô.Cô nhớ lại, khi cuộc “đánh tháo” để cho cô thóat khỏi John và “biến mất”, trước đó cô đã phản đối ý định là bắn chết John. An tòan vào cứ, cô đã mất mấy ngày để báo cáo tòan bộ quá trình họat động, nhưng có một điều cô không nói là tình cảm của cô sau mấy năm chung sống với John, cô không thể nói là cô đã yêu anh ta, cho dù ban đầu là cuộc hôn nhân vì nhiệm vụ.Có lẽ việc cô phản đối giết John đã làm cho cấp trên không tin cô như trước..
Sài Gòn giải phóng, niềm vui trong mơ ngàn đời..Đơn vị chuyển quân về Sài Gòn. Cô lại được giao nhiệm vụ dịch các tài liệu địch để lại không kịp hủy trước khi rút chạy. Công việc đã làm cho cô quên đi tất cả, nhưng lại làm cô thấy buồn hơn mỗi khi ngày chấm dứt. Cô không có bạn, sống lặng lẽ trong một căn nhà nhỏ trong hẻm sâu. Những người bạn gái làm ở hộp đêm trước đây phần lớn đã di tản hay trôi dạt về đâu cô không gặp, mà có gặp thì họ lại mang một mặc cảm, dẫu gì cô bây gờ là người của cách mạng, thuộc “tầng lớp” khác.Những đồng nghiệp trong đơn vị thì họ luôn giữ khỏang cách với cô. Cô gặp lại nhóm trưởng của mình. Chỉ có chị mới có thể hiểu những gì cô đang phải thầm lặng nuốt vào trong.

8. Ngày ấy Sương Mai chưa đầy 30 tuổi,còn rất trẻ, cô lại đẹp,thông minh,giỏi, nhiều năng lực, những tài liệu do cô dịch đều được cấp trên đánh giá cao về sự chính xác tuyệt đối.Cô làm việc có tinh thần trách nhiệm cao,và cô được nhiều người yêu quý, nể trọng. Có nhiều người đến với cô, nhưng sau một thời gian thì họ lần lượt ra đi. Giật mình quay đi quay lại, cô đã bước vào tuổi 40,50, rồi 60, và cô cũng ngày càng sống thầm lặng hơn, chấp nhận sự cô đơn. Cô cứ ở mãi, ở mãi, một mình, không làm phiền ai, mà cũng ít giao tiếp với ai trong xóm, riêng mỗi má con tôi là thân thiện với cô.
Má thường xuyên sang nhà dì mỗi khi rảnh, có khi mời dì qua nhà, tổ chức nấu nướng ăn uống vui vẻ.Những lúc đó dì hay cười, còn má tôi nhìn dì ánh mắt cũng lấp lánh..
Má nói:”Ngày trước để hòan thành nhiệm vụ cách mạng, dì đã phải phá thai mấy lần. Lúc đó chiến tranh, điều kiện y tế không tốt, di chứng để lại sau này dì không thể làm mẹ. Tệ hơn, dì còn mắc bệnh ung thư, giai đọan cuối, không qua khỏi”.
- Sao trước tới giờ má không kể con nghe về dì?
-Con gái, khi Tổ quốc, đất nước bị xâm lược thì ai cũng nghĩ như dì, làm như dì, không chỉ riêng dì mà còn nhiều người đã hy sinh thầm lặng cho sự nghiệp thống nhất đất nước.
-Nhưng sao má lại biết chuyện về dì rành thế?
Má tôi mỉm cười, không nói gì.
Tôi chợt nhận ra, dì Út Sương Mai, má tôi và những người đàn bà đẹp kia có nhiều điều bí mật thầm lặng. Hình như trong một ngăn tủ, có lần tôi vô tình thấy má cất giữ rất nhiều cuống huân chương, huy chương như dì Út Sương Mai../.


Hòai Hương