Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn-Chuyện tình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn-Chuyện tình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 8, 2010

Như sương, như mây

Như sương, Như mây
Hoài Hương

Anh bạn tôi là phóng viên ảnh uy tín ở tờ báo lớn của thành phố, đa tài, đẹp theo kiểu phong trần bụi bặm, tính tình hơi cổ quái, những tấm ảnh nghệ thuật của anh thường là đề tài tranh cãi của giới nghệ sĩ, đặc biệt anh là chủ sở hữu một gia tài mà bất kỳ những tay cầm máy ảnh nào cũng thèm muốn, hơn một trăm giải thưởng cá nhân cả quốc tế và trong nước về ảnh nghệ thuật. Đối với bạn bè, anh rất chân tình, thường hay nhận phần thua thiệt về mình, được nhiều người quí. Tôi xa thành phố lâu ngày,vừa trở về chưa kịp tìm gặp chúc mừng anh mới được thêm một giải vàng quốc tế cuộc thi ảnh báo chí thì anh gọi điện. Nghe qua đường dây, tôi cảm thấy hình như anh đang bối rối về chuyện gì. Chúng tôi hẹn nhau...
- Chào ông! khỏe? Lâu quá... Chúc mừng ông...
- Thôi... Thôi, bỏ qua, cuộc chơi mà, bình thường giống mỗi ngày. Tôi có chuyện cần ông giúp... Tôi đang hết sức hoang mang đây nè.
- Chuyện gì mà ông có vẻ bức xúc quá vậy?
- Ông có rảnh không? Về nhà tôi bây giờ... từ từ nói chuyện, dài lắm.
Căn nhà của anh trông hiền lành trong một khu phố nhỏ đông đúc ồn ào nhưng giống như chủ nhân, cách bài trí ở các phòng hơi quái quái rất ấn tượng, song vẫn toát lên nét hài hòa. Kéo nhanh tôi vào phòng riêng, rót hai ly nước đặt lên bàn, anh lấy trong tủ ra một vật gì đó... đem lại gần tôi.
- Đây, cho ông xem cái này...
Anh đưa tôi một cái túi nhỏ bằng bàn tay người lớn, cầm lên xem tôi nhận thấy nó rất lạ, không giống bất kỳ những cái túi mà tôi thường thấy ở cửa hàng bán đồ lưu niệm, hay ở mấy khu du lịch của người dân tộc. Chiếc túi được dệt bằng sợi vải nhỏ mịn, trên mặt thêu nhiều hoa văn tinh xảo bằng sợi tơ, dưới ánh sáng tỏa màu ngũ sắc rất đẹp, bên trong túi có một bông hoa màu vàng tỏa mùi thơm là lạ, khi tôi cầm bông hoa trên tay, hình như cả gian phòng được ướp hương. Đưa mắt nhìn anh, dò hỏi.
- Ông thấy lạ lắm phải không? Để tôi kể ông nghe. Cũng vì chuyện này mà bạn bè tôi phiền trách, tránh mặt tôi lâu nay, tôi buồn quá vì không ai tin tôi.... Chuyện thế này.
Tôi cùng mấy anh em trong Câu lạc bộ Nhiếp ảnh làm một chuyến sáng tác "qua miền Tây Bắc", vùng đất lạ đối với người phương Nam bọn mình, nơi cuối dừng chân là Sapa, có đỉnh Phan Xi Păng nóc nhà Đông Dương đầy kiêu hãnh, cũng là một địa chỉ nổi tiếng với nhiều cảnh đẹp thần tiên huyền hoặc trong sương trong mây, nỗi ám ảnh mê muội của bao tay máy từ xưa đến nay. Ngày đầu lên đến nơi, chúng tôi chưa đi đâu xa, chỉ loanh quanh khu chợ, uống rượu ngô Sán Lùng, rượu táo mèo, ăn thịt rừng cá suối, nói chuyện bông đùa với mấy cô gái Mông bán đồ lưu niệm, hỏi han chút ít về phong thổ nơi này. Ngày hôm sau chúng tôi nhất trí "độc lập tác chiến", hẹn cùng ăn tối và trao đổi thông tin cho nhau, xong chia tay mỗi người mỗi ngả để cảm giác phiêu bồng tự do thả sức trong khuôn hình của mình.
Tôi bắt đầu những cú bấm máy từ Sân Mây trên đỉnh Hàm Rồng, nhìn xuống là biển mây lững thững trôi phủ mờ cảnh vật dưới thị trấn, phóng tầm mắt rộng ra, đỉnh Phan Xi Păng vươn chóp nhọn đầy kiêu hãnh giữa dãy Hoàng Liên Sơn lượn sóng ẩn hiện trong tầng tầng lớp lớp mây. Mây và mây bao quanh lấy tôi, quấn quíu như đùa cợt trước mặt tôi. Bất chợt một giọng nói như từ đám mây vọng ra, làm giật mình:
- Chào anh! Khách lạ phương Nam.
Quay sang bên, tôi suýt chút nũa đụng phải một cô gái. Nhắm mắt, mở mắt thật nhanh như để khẳng định. Ôi! Một cô gái đẹp đến khó tả, đôi mắt to đen đang nhìn chằm chằm vào tôi giống như muốn hút hồn tôi chìm trong đó, khóe miệng hồng đào như nụ hoa mỉm cười làm sáng cả gương mặt trắng mịn màu men sứ, trang phục cô gái cũng khó tả vì không giống người dân tộc ở đây, cũng không giống những cô gái thời nay, nhưng trông rất đẹp và lạ. Tôi cứ ngây người ngắm cô gái không thốt được lời nào, một gã trai chưa từng rung động trước bất cứ người đẹp nào mà bây giờ, tim cứ loạn cả lên. Giọng nói lại vang bên tôi:
- Sao anh cứ nhìn em mãi?
Tay cô gái chạm vào người tôi, bừng tỉnh, tôi ngượng ngịu trả lời chẳng ăn nhập gì câu hỏi:
- Em có phải là mây không?
- Ôi! Sao anh lại biết em là mây? Em gọi anh là gì?
Như có ma lực, tự dưng tôi bị Mây cuốn vào cảm giác si mê không dứt ra được, nó làm tôi nghẹt thở, tôi sợ là ảo ảnh, Mây sẽ biến vào mây đột ngột như đột ngột hiện ra bên tôi. Thật lạ, hình như Mây đoán được những gì đang làm tôi xáo trộn, Mây nắm tay tôi, nói rất hồn nhiên:
- Em thích anh. Em đi chơi cùng anh nhé. Em biết nhiều nơi hay lắm.
Suốt ngày hôm đó, Mây đưa tôi đi, tôi không nhớ ở đâu, tên gọi là gì, nhưng có nhiều cảnh núi rừng rất đẹp, tôi chưa bao giờ thấy ở những tấm ảnh Sapa do mọi người chụp trước đó. Đến chiều tối, không đợi tôi nói, Mây đã vui vẻ:
- Em biết anh có hẹn với bạn. Anh về đi kẻo họ chờ. Mai gặp lại.
Kể từ lúc gặp Mây, bất cứ tôi đang nghĩ gì là mây đã biết và nói ra, như Mây chính là tôi, bởi thế sức lôi cuốn ở Mây là hấp lực với tôi mã nh liệt đến khó ngờ. Vừa chào tôi xong, thoáng một cái, không thấy Mây đâu, giống như Mây tan vào lớp sương xám mờ màu khói đang từ từ thả xuống... Ôi! Sao em đi kiểu gì mà nhanh thế. Đang còn nghĩ mông lung, vẫn còn cảm giác lâng lâng của cuộc gặp gỡ và đi chơi trong ngày với Mây, tôi không nhận ra anh em đã về đủ, họ vây lấy tôi nhìn tôi lạ lẫm. "Ê! ngày nay đi tới đâu, sao thẩn thờ như mất hồn vậy. Có mất gì không? Hay bị ai ám rồi". Tôi mơ mơ đến một lúc mới trở lại trạng thái bình thường, buột miệng nói trong vô thức: "Mất gì à... có... mất trái tim". Anh em phá lên cười, lúc ấy tôi mới thật sự tỉnh táo... "Mình làm sao thế nhỉ?".
Sapa vào lúc đó phải hơn tám giờ, những tia nắng đầu tiên mới rụt rè chọc thủng màn sương, và phải chật vật lắm mới đẩy được những lớp mây dịch sang bên núi cho mặt trời ló dạng trong màu hồng cam, sắc hạt vàng xuống hoa lá cỏ và muôn loài. Tôi muốn chụp ảnh bình minh trong sương nên dậy từ sớm, định lên đỉnh Hàm Rồng đón mặt trời như lời chỉ dẫn của mọi người, vừa bước ra khỏi khách sạn, tôi đã thấy Mây đứng nhìn tôi cười, tay vẫy vẫy, và thật kinh ngạc là Mây như biết rất rõ ý định của tôi, Mây nói nhanh:
- Anh đừng lên đó, không thấy toàn cảnh mặt trời mọc đâu. Theo em đến chỗ này, anh sẽ được ngắm một bình minh rực rỡ và lộng lẫy giữa rừng núi mây phủ, anh sẽ thấy những sắc màu của nắng xuyên qua mây đẹp như tranh...
Tôi đã bị Mây thuyết phục. Ông đừng gấp, còn nhiều điều kỳ lạ nữa mà tôi khó giải thích được, giống như tôi đang mơ một giấc mơ thần tiên ở nơi tiên cảnh này. Mây đưa tôi xuống phố huyện thăm thú mấy kiến trúc xưa của Pháp từ những năm đầu thế kỷ trước còn lại. Đến trước một ngôi nhà hai tầng lầu cũ kỹ, cây lá rậm rạp che phủ, đặc biệt bên hông nhà có mảnh vườn trồng rất nhiều hoa đầy màu sắc trái ngược với cái vẻ âm u hoang vắng của ngôi nhà. Theo ánh mắt của Mây, tôi nhìn thấy giữa vườn hoa một ngôi nhà mộ nhỏ bằng đá trắng, trên có tấm bia cũng bằng đá trắng có in hay vẽ hình người con gái, tôi không rõ mặt lắm nhưng có nét gì quen quen khó nắm bắt được, bên dưới ảnh người con gái có mấy hàng chữ màu đen, hình như là năm tháng, đặc biệt đập vào mắt tôi hai chữ "Yên Vân" được khắc rất đẹp nổi bật trên tấm bia. Mây không nhìn tôi, ánh mắt xa xăm vời vợi, Mây nói như kể chuyện, giọng buồn nhẹ làm tôi cũng muốn nao nao, trĩu nặng: "Ngày xưa, nơi đây là một gia đình hạnh phúc có bố-mẹ và con gái, ngôi nhà như một vương quốc tí hon của hoa thơm, cỏ lạ, chim quí, người con gái như nàng tiên nhỏ giữa thiên nhiên, thế rồi cơn sốt rừng đã lấy mất sinh mạng nàng, cha mẹ buồn quá cũng lần lượt ra đi, song có lẽ linh hồn người con gái vẫn quyến luyến nơi này, nàng ở lại chờ đợi... sẽ có một ngày hạnh phúc ngọt ngào đến với nàng..."
Đêm chợ tình, lại là rằm trăng, mọi người rủ nhau đi xem chơi. Mây hẹn với tôi và dặn chờ, đừng đi đâu trước khi Mây tới. Anh em đã đi hết, tôi ra vào ngóng Mây, sao muộn thế mà không thấy, tôi nóng ruột, hay là Mây đã quên, hay Mây đi với ai khác, trong tôi có chút hờn ghen... Đêm đã khuya, khi tôi nghĩ chắc Mây không đến, thấy buồn ngập trong người, thì như từ sương đêm hiện ra Mây tươi cười; nét mặt rạng ngời đẹp mê hồn:
- Nào, đi cùng em đến chỗ này hay lắm!
Mây nắm tay tôi kéo đi trong đêm, sương giăng mờ mịt, trăng như chiếc đĩa vàng treo trên ngọn cây, rãy một thứ bột mịn lấp lánh trong sương, tôi và Mây đi xuyên qua bức màn sương - trăng, cây cối loáng thoáng, tôi chỉ ý thức là Mây không đưa tôi vào khu chợ, nơi tập trung các đôi trai gái đêm Chợ Tình ở thị trấn, chúng tôi đi khá lâu, rồi như một không gian vỡ và trước mắt, khoảng đất trống tràn ngập ánh trăng, có rất đông trai gái người dân tộc, tiếng cười tiếng hát, tiếng sáo, kèn lá rộn ràng, một khung cảnh thơ mộng rất liêu trai. Mây nói với tôi: "Chợ Tình của thần tiên đấy", tôi nắm tay Mây chặt hơn và cho đó là câu nói vui, nhưng quả thật nơi này thần tiên thoát tục khác hẳn những gì tôi đã được thấy trên phim về các Chợ Tình miền Tây Bắc. Mây đưa tôi đi lách qua những đôi tình nhân, thi thoảng dừng lại nghe hát hay thổi sáo, tôi vừa nghe vừa ngắm và kinh ngạc nghĩ thầm, sao có nhiều người đẹp đến thế, sao giai điệu họ hát hay đến thế, du dương tha thiết gọi mời, hình như tôi đang lạc vào thế giới của "phúc lạc" trong cổ tích. Lâu sau khá mỏi chân, tôi và Mây chọn một gò đất trống có bụi hoa gì đó rất thơm ngồi xuống, bất chợt tôi nhận ra chúng tôi đang thật gần nhau, tôi nghe được hơi thở nhẹ của Mây, tôi nhìn thấy tôi trong mắt Mây, cảm giác ngọt ngào dâng đầy trong tôi, chúng tôi cứ im lặng nhìn nhau, song hình như cả hai đều thấu hiểu nhau, đều cảm nhận một sợi dây vô hình trói buộc hai trái tim gắn vào nhau, hòa vào nhau... Mây phá tan phút mộng mị của hai người bằng chiếc lá ngắt ở bụi hoa làm kèn, ngậm lá ở môi, Mây lại cuốn tôi vào cảm xúc bồng bềnh trong mơ bởi giai điệu nồng nàn, ấm áp, tôi muốn ôm Mây, hôn lên đôi mắt vời vợi bí ẩn, hôn lên đôi môi mềm mại mật ngọt, thời gian như dừng lại. Bổng có tiếng gà gáy, tôi bừng tỉnh nhìn ra xung quanh, trăng vẫn sắc bột mịn lấp lánh xuống màn sương, nhưng không còn một bóng ai, chỉ có tôi và Mây... Mây vội vã thốt lên: "Muộn mất... về nhanh đi anh". Rồi Mây kéo tay tôi đứng dậy, không biết có phải vì ngồi lâu, hay vì lý do huyền bí nào khác, tôi thấy hoa mắt, bước đi nhưng không thấy rõ đường, thoáng chốc tôi tôi đã thấy mình đang đứng ở trước khách sạn, và Mây không biết đâu, nhìn vào con đường chỉ có sương mờ mịt, Mây như tan vào sương mất dạng. Tôi chỉ hỏi lạ sao Mây gấp đến nỗi không chào tạm biệt tôi, không để tôi nhìn Mây trước khi vào phòng nghỉ, ở bên cạnh Mây, tôi luôn cảm giác Mây đọc được ý nghĩ của tôi, có điều gì đó ở Mây rất thần bí không giải thích được, song thật sự tôi rất thích đi cùng Mây.
Có một ngày Mây đưa tôi đến vùng núi hoang sơ, cây lớn mấy vòng người ôm, tiếng gió đi qua đỉnh núi chạm vào lá rừng ken dầy, tiếng róc rách của con suối khe ngàn chảy trên dốc đá lúc chia hai ba dòng lúc hợp lại với nhau, tiếng chim hót theo nhiều cung bậc... tất cả hoà thành giai điệu cứ xoắn xuýt, miên man bất tận. Chúng tôi đứng dưới bóng một cây to rất cao, lá xanh biếc, Mây nói đó là cây Kim giao, hoa của nó ba năm mới nở, gỗ của nó chuyên dùng cho vua chúa thời xưa... Tôi không để ý Mây nói gì vì đang say sưa ngắm hoa phong lan rừng, cả vương quốc hoa tuyệt đẹp trước mắt, chưa bao giờ tôi được thấy nhiều hoa đến vậy, mà là hoa ở giữa rừng núi đầy gió và âm u hoang vắng như ở đây. Mỗi cánh hoa đều làm tôi ngây ngất, một tấm rèm xanh ngọc thạch được kết bằng những bông hoa hình giọt nước xâu chuỗi vào nhau rũ xuống từ một cành cây cao, hình như sau tấm rèm hoa đó là thấp thoáng bóng con gái ẩn hiện; tôi bước nhẹ chân trên tảng đá, nhìn vào khe nứt, những cánh lan trắng mỏng trong suốt giống các mảnh vụn pha lê xếp chồng lên nhau óng ánh dưới nắng, tôi sững sờ trước màu đỏ rực của chùm lan hình ngọn lửa bám trên vách đá mang vẻ đẹp hoang dại dữ dội trái ngược với vẻ kiêu sa đài các kín đáo thường thấy ở hoa lan... Hàng chục loại với đủ màu sắc hình dạng tôi chưa thấy ở bất kỳ đâu. Đặc biệt là khi ngắm nhìn, tôi luôn mang cảm giác hình như mỗi cánh hoa là một người con gái rất đẹp cũng đang nhìn lại tôi, cười với tôi... lạ lắm. Mây đưa tôi xuống thung lũng, không thể ngờ ở nơi núi đá bốn bề lại dấu trong lòng một nơi thần tiên đến khó tin là có. Một rừng hoa rực rỡ như tấm thảm thêu khổng lồ, dập dờn trên đó là những cánh bướm to sắc màu lộng lẫy, cư dân thần thoại của núi của rừng. Và Mây, Mây tung tăng chạy nhảy giữa hoa và bướm, có khoảnh khắc trong mắt tôi, những đám mây ngũ sắc từ phía trên đỉnh núi sà xuống, uốn lượn xung quanh Mây, một nàng tiên thật sự đang hiện trước mắt tôi trong khung cảnh thơ mộng tuyệt vời. Tôi đã bấm không biết bao nhiêu lần để "đốt" phim, nếu không lưu giữ được hình ảnh đó, thì không bao giờ còn có thể gặp lại, tôi nghĩ và chẳng tiếc gì, tôi muốn lưu Mây cả trong ký ức, người con gái rất thật nhưng cũng mang vẻ gì đó xa xôi hình như không thật, mờ ảo như sương như mây ở vùng Sapa này.
Những lần đi với Mây, tôi "thu hoạch" được rất nhiều, khi tối về kể anh em nghe, họ không tin ở Sapa có những nơi như thế, hỏi tôi đi đến đó như thế nào, quả thật tôi không nhớ được, họ càng tin là tôi "nói dóc" cho vui, nhưng sau này khi về rửa phim làm triển lãm, tôi đã thành kẻ "ích kỷ - xấu chơi" với mọi người, chuyện đó tôi kể sau cho nghe. Còn chuyện này thì thật sự không tin nổi nhưng hoàn toàn là sự thật.
Chỉ còn một ngày nữa anh em chúng tôi rời Sapa theo kế hoạch. Như tôi đã nói, Mây rất đặc biệt, có thể đọc được suy nghĩ trong đầu tôi. Mây hỏi rất tự nhiên, như biết từ trước:
- Ngày kia anh phải trở về, anh tiếc không lên được đỉnh Phan Xi Păng phải không?
- Ừ! Chỉ có một ngày không đủ thời gian. Đã đến được đây rồi mà... Tiếc thật.
- Nếu anh thích, em sẽ đưa anh đi.
Tôi nghi hoặc nhìn Mây:
- Em đưa anh đi? Đường lên đó phải mất ít nhất ba ngày đi về?
- Em biết con đường lên đó, chỉ một ngày thôi cũng thừa thời gian. Đi nhé, anh sẽ không thấy tiếc đâu. Rồi Mây cười nhìn tôi chờ đợi, khích lệ.
Tôi gật đầu mà lòng phân vân, lên đỉnh Phan Xi Păng ngay cả dân chuyên nghiệp leo núi còn ngán, nhiều kẻ suýt mất mạng vì sự hiểm trở, thế mà Mây mỏng manh thế kia, và tôi cũng đâu phải "lực sĩ". Nhưng tôi có một cảm giác kỳ lạ, tôi tin là Mây sẽ đưa tôi đi và chúng tôi sẽ cùng ngắm trời mây rừng núi Sapa từ đỉnh Phan Xi Păng. Những ngày đi cùng Mây tới thâm sơn cùng cốc, thấy bao cảnh lạ lùng, tôi nghĩ "lại một kỳ tích" xảy ra.
Sáng hôm sau, khoảng ba, bốn giờ, trời đậm đặc sương xám, Mây đón tôi ngay trước cổng khách sạn, nhìn Mây tôi hơi e ngại: "Mây ơi, đi được không em, anh sợ em vất vả, sợ không kịp..." Mây không nói gì, khẽ mĩm cười trấn an tôi, nắm tay tôi cùng đi xuống cuối đường dốc, rẽ sang trái xuống bản, nơi bắt đầu cuộc chinh phục đỉnh Phan Xi Păng. Đến con đường chuẩn bị lên núi, Mây ra hiệu dừng lại.
Sương lúc này như đậm đặc hơn, không nhìn thấy mặt nhau, tôi chỉ cảm thấy Mây đang ở sát bên tôi, tay nắm chắc tay tôi và đặc biệt tay Mây rất ấm, Mây đi mỗi lúc một nhanh hơn, còn tôi cũng không ý thức được mình đi như thế nào, bước ra sao, nghe bên tai ù ù gió, tay thi thoảng chạm vào lá cây, Mây và tôi cứ xuyên vào màn sương mờ đi, lạ sao chẳng nhìn thấy gì mà không hề bị vướng hay vấp, mặc dù trong tâm trí tôi ý thức là bên cạnh tôi chỉ xảy chân là rớt xuống vực. Đang đi như bay trong màn sương, tay tôi bỗng bị kéo giật mạnh, dừng lại, bên tôi Mây cười thật tươi: "Anh nhìn xem". Tôi đưa mắt ra xung quanh, thấy mình đứng trên phiến đá to rộng khá bằng phẳng, và như phép màu, sương loãng như khói mỏng, trước mặt là một trái cam khổng lồ tỏa ánh hào quang, nhìn xuống mây từng cuộn xốp mịn lững thững trôi qua... và không thể tin được cái chóp kim loại cao khoảng 80cm, đứng kiêu hãnh trong sương mây gió, lấp lánh như mừng chào tôi, như khẳng định với tôi, đây chính là đỉnh cao nhất của dãy Hoàng Liên Sơn, là "nóc nhà Đông Dương", nơi các nhà thám hiểm, các tay leo núi mơ ước một lần chinh phục. Trong tôi trào dâng niềm cảm xúc có thể vỡ tung cả lồng ngực, tôi như bỏ lại dưới thung sâu đầy mây kia nhưng phàm tục trần thế, những ước muốn bé nhỏ tầm thường, đứng ở độ cao này thấy mình như hòa tan vào vũ trụ, tôi hét lên những tiếng "a...a..." đầy phấn khích, và rồi không kìm nén nổi, tôi ôm lấy Mây, hôn Mây, hôn lên gương mặt tiên nữ rạng ngời hạnh phúc, hôn lên đôi mắt đen như đêm, huyền ảo như mây như sương, hôn lên đôi môi hồng đào ngọt mật ấm áp mềm mại... Đừng có ngày mai, đừng có ngày trở về, đừng có cuộc chia tay, cứ mãi thế này tan trong sương trong mây giữa đỉnh núi hùng vĩ mang tên Phan Xi Păng - phiến đá chênh vênh giữa trời.
Mặt trời lên đến đỉnh đầu, những tia nắng dồn sương thành hàng triệu giọt pha lê lóng lánh, mây nhuộm màu hồng mịn quẩn quanh, gió thổi ào ào nghe giống như có đàn ngựa vừa chạy qua... Tôi biết đã đến lúc phải quay về, về dưới nơi thung sâu kia, với đời thực. Lúc về cũng như khi đi, song tôi cảm thấy bàn tay Mây lạnh buốt, lạnh chạy cả vào tim tôi, như máu tôi đông cứng lại, tôi buồn và biết Mây cũng buồn vì càng xuống thấp thì chúng tôi càng ít thời gian bên nhau. Về đến nơi, chiều cũng đã được màn sương phủ màu xám nhạt, tôi mải mê khoe với anh em tôi đã lên đỉnh Phan Xi Păng, mải mê trần tình đó là thật, tôi quên mất Mây, chợt nhớ tới đã không thấy, chỉ có sương đang rơi mau trong chiều tối. Cảm giác hụt hẫng trống vắng, tôi muốn được gặp lại Mây, để nói với Mây điều thầm kín trong tim tôi... Và chính lúc này, tôi mới nhận ra, suốt cả bao ngày đi cùng Mây, tôi không hỏi Mây ở đâu, làm gì..., bây giờ muốn tìm Mây, tìm ở đâu đây, tôi giận tôi, tôi dằn vặt, tôi ray rứt... tôi bất lực. Thẫn thờ, bần thần, thu xếp đồ đạc mà thấy nặng lòng, tôi quá vô tâm, tôi có lỗi với Mây, tôi là kẻ vô tình, cứ thế tôi xỉ vả mình cho đến sáng...
Nhìn đồng hồ còn sớm, định ngủ một tí, song có một cái gì đó mách bảo tôi ngoài cửa phòng Mây đang đợi. Tôi ào ra mở, một đám mây ùa vào phòng, hình như tôi vừa chạm vào người ai đó, thoáng lướt trên môi tôi rất ấm, nhưng không thấy bóng người nào, rõ ràng mùi thơm thoảng thoảng còn đó, tôi nhìn lần nữa và thất vọng, không phải Mây, đóng lại cửa quay vào... Nhìn sững lên mặt gối, một cái túi nhỏ không biết từ đâu đến, bên dưới có một tờ giấy nhỏ, giở ra, tôi đọc như vô hồn: "Hơn 100 năm nay em luôn đi tìm tình yêu. Cảm ơn anh đã cho em những ngày ngọt ngào hạnh phúc. Hoa kim giao không bao giờ héo tàn, phai hương, tượng trưng cho sự bất tử, kỷ vật của em anh hãy giữ bên mình. Khi nào thấy sương thấy mây là em đang bên anh. Chúc anh những ngày tháng đẹp. Yên Vân". Một luồng gió lạnh buốt dọc sống lưng, tôi cầm chiếc túi lên xem, bên trong đựng một bông hoa vàng... Như tiếng sét nổ bên tai, tôi giật mình nhớ - Ngôi mộ tên Yên Vân, nhưng điều kỳ lạ bí ẩn ở Mây... Không lẽ... Thở sâu một cái - chắc Mây chọc ghẹo tôi.
Cho tới lúc lên xe, tôi không thấy Mây đến chào tạm biệt để tôi hỏi em rõ ràng. Buồn, nỗi buồn không tên, móc túi lấy thư ra đọc lần nữa, lơ đãng nghĩ ngợi không đâu vào đâu, xe chạy lên dốc, nhìn xuống chỉ toàn mây và mây... và một luồng gió luồn vào cuốn lá thư bay ra ngoài tôi không kịp chụp giữ lại được. Rồi mọi việc được trôi qua, cứ tưởng như thoáng mây trôi gió thổi, nhưng khi về tới nơi, sóng gió bắt đầu nổi lên.
Ông xem cái túi, ông thấy bông hoa, còn cái này tôi cho ông xem. Tập hình tôi chụp Mây cùng hoa và bướm ở thung lũng hoa, chẳng hiểu sao khi rửa ra, không tấm nào có Mây, chỉ hoa bướm và những áng mây ngũ sắc tuyệt đẹp. Thế là sao, ông giải thích đi. Ông có biết là sau đó ở Câu lạc bộ tổ chức triển lãm ảnh đợt thực tế của nhóm chúng tôi, nhưng bộ ảnh của tôi làm mọi người kinh ngạc, bỏ qua vấn đề kỹ thuật, đây chỉ nói về cái được thể hiện trong đó, bộ hoa lan, bộ mây - núi, bộ bình minh... không hề thấy trước đó vì lạ.. Rắc rối và sóng gió cũng là đây. Anh em cùng nhóm đã trách tôi xấu chơi, ý nói tôi bắt chước một nhà nhiếp ảnh phá hỏng cảnh vừa mới chụp để không cho ai giống mình sợ đẹp hơn, tôi không phá nhưng không thông tin cho bạn bè biết, dấu ăn mảnh một mình, để nổi tiếng một mình... Tôi kể họ nghe về Mây, tôi thành thực nói tôi không biết, nhưng chẳng ai tin, họ cho là tôi bày chuyện hoang đường để che dấu sự ích kỷ. Tôi phiền não quá ông ạ. Bao năm với bạn bè cùng ăn cùng chơi, chia sẻ hết mình, thế mà vì chuyện này anh em xa lánh, tôi biết làm gì bây giờ để mọi người tin. Còn ông, ông có tin tôi không?
Từ nhỏ tôi thường đọc "Liêu trai chí dị" của Bồ Tùng Linh, đã từng mơ mộng được gặp một "hồ ly tinh" tuyệt đẹp, tốt bụng hay giúp đỡ học trò nghèo và yêu học trò nghèo... Thế kỷ 21, vẫn có thể có những tình yêu như sương như mây giống nàng Yên Vân... Tôi tin anh, và muốn giúp anh. Tôi kể chuyện này để các bạn cùng xem, và cảm thông với anh bạn của tôi, đừng trách anh, mọi cái hãy để như sương như mây tan vào hư không.

Hoài Hương

Tham- Sân- Si

THAM – SÂN – SI
Hoài Hương


Họ có ba người. Giữa hai người đàn bà là một người đàn ông.
Người đàn bà thứ nhất sinh ra trong một gia đình quan chức danh giá của thành phố. Ông cha khát thèm một cậu con trai nối dõi, nên cứ bắt bà mẹ cố... và cố ra cô là đứa con gái thứ sáu trong gia đình. Người xưa ví nhà có năm cô con gái là "Ngũ Long công chúa", cha mẹ được cao sang quyền quí, được cậy nhờ rể hiền phúc đức chi mạng... nên sự ra đời của cô trở thành ác mộng của người mẹ vì sau khi sinh cô bà cũng không còn khả năng sinh đẻ nữa, và nỗi tuyệt vọng của người cha. Lại thêm ông trời khéo nặn, bao cái xinh đẹp tài giỏi mấy cô chị lấy hết, những thô vụng xấu xí nhường cô. Lớn lên trong ghẻ lạnh của cha, đau khổ của mẹ và những diễu cợt của các chị, tính nết cô càng ngày càng khó chịu, hỗn xược, nhỏ nhen, đố kỵ, ganh ghét với bất kỳ ai, ngay cả với các chị cô cũng coi như kẻ thù. Bù lại cô có trí thông minh sắc xảo, khá thủ đoạn để dành quyền lợi về phía mình. Cô có cái tên rất đẹp, nhưng không ai gọi cô bằng tên đó. Họ gọi cô là Xấu Xí. Năm 25 tuổi, Xấu Xí đã có ít nhiều kinh nghiệm tình trường, cho vào bẫy của cô bằng chiêu thông báo có bầu, doạ tự tử... Vài người, nhưng có lẽ gặp kẻ cao tay ấn hơn nên họ gạt cô ra cao bay xa chạy để cô ôm mối hận trong lòng và đau đớn với thể xác tả tơi. Xấu Xí như cái gai trong mắt người cha, ông tức giận với bao nhiêu tai tiếng về chuyện trai gái do cô gây ra. Ông muốn tống khứ cô ra khỏi nhà càng nhanh càng tốt, và thế là ông mở một "chiến dịch" tìm chồng cho cô Út – Xấu Xí với "khuyến mại" đặc biệt, một vị trí làm việc rất màu mỡ trong công sở, một ngôi nhà mặt tiền ở thành phố, cùng thêm nhiều vật dụng phương tiện đầy hấp dẫn khác.
Người đàn bà thứ hai, con gái "rượu" duy nhất của một gia đình có cha là một tướng quân cựu chiến binh khả kính. Khi mẹ sinh ra cô, cha cô đang ở chiến trường, mãi 10 năm sau khi kết thúc chiến tranh, cô mới biết mặt cha. Cô giống như báu vật của cha mẹ. Trời phú cho cô gương mặt đẹp mang những nét xuất sắc nhất của cha mẹ cộng lại, cô lại có trí tuệ hơn người, đặc biệt nét dịu dàng và giọng nói nhẹ êm như gió thoảng đầy quyến rũ, duy chỉ có đôi mắt nâu ướt buồn buồn như một báo hiệu sóng gió trong tình duyên của cô. Hàng xóm, bạn đồng nghiệp đặt cho cô tên Dịu Dàng và luôn gọi rất trìu mến. Dịu Dàng lớn lên trong cưng chiều của mọi người vì cô vừa duyên dáng vừa giỏi giang. Cô có đủ đức tính công – dung – ngôn – hạnh của người phụ nữ gia giáo, cô lại có tính năng động quyết đoán hơi bướng bỉnh gan lì của mẫu phụ nữ hiện đại. Có rất nhiều người con trai tài giỏi con nhà quyền quí danh tiếng ngỏ lời, nhưng cô chẳng chịu một ai. Đến khi gần 30 tuổi, cô vẫn đi về một mình trong sự sốt ruột của cha mẹ và ước mơ của những người đàn ông độc thân.
Người thứ ba – đứa con trai út trong một gia đình nông dân nghèo đông con, nhưng được các anh chị và cha mẹ yêu thương chiều chuộng, muốn gì được đó. Năm 18 tuổi, nhập ngũ dù thi vào đại học điểm cao tuyệt đối. Những năm quân ngũ đã rèn sức chịu đựng, nhưng cũng làm cho đầu óc đầy trí tưởng tượng vẽ ra bao tương lai thi vị của cuộc sống – sẽ có được tất cả – địa vị – tiền bạc – một cô vợ xinh đẹp... Có một chút năng khiếu âm nhạc nên được cử đi học ở trường nghệ thuật, xong khi kết thúc khoá học lại xin xuất ngũ làm công tác phong trào văn nghệ quần chúng ở địa phương. Một gương mặt phong trần đẹp như tượng, một dáng cao gọn như người mẫu thời trang, thêm một chút tài năng thiên bẩm về nghệ thuật và khéo léo trong giao tiếp, luôn là trung tâm điểm như cực của thỏi nam châm hút các cô gái bao xung quanh. Đa Tình, ai cũng gọi như thế. Nhiều cô gái yêu, nhưng đường công danh không suôn sẻ thuận lợi, Đa Tình khá chật vật với công việc như thời vụ, lại không có ai đỡ đầu nên mấy năm liền vẫn chỉ là một viên chức quèn ở cơ quan văn hoá. Nhìn những kẻ khác có ô dù che đỡ, hay có tiền bạc rủng rỉnh, hoạn lộ thẳng tiến thăng quan tiến chức liên tục, Đa Tình thèm muốn, trong anh nung nấu một quyết tâm.

Một ngày kia, Đa Tình được cử tới đơn vị cơ sở xây dựng phong trào và dựng tiết mục văn nghệ để tham gia Hội diễn thành phố. Số phận gõ cửa hay đúng lúc Ông Tơ Bà Nguyệt hứng chí thả sợi chỉ giao duyên xuống trần. Đa Tình – Xấu Xí gặp nhau. Xấu Xí như trúng phải tiếng sét, không rời mắt khỏi Đa Tình, chưa gì cô đã phác hoạ một khung cảnh tương lai, một gia đình hạnh phúc. Cô giăng lưới với một ý chí chắc chắn: người đàn ông này sẽ ở trong vòng tay cô. Đa Tình vốn đa tình, lại nghĩ không mất gì, mỡ tới miệng mèo dù không đói, dù không ngon cũng phải liếm láp tí chút cho biết, nên khi biết Xấu Xí là con gái quan chức thành phố, anh cũng muốn giao du dù hình thức và tính tình cô, quả thật anh khó chấp nhận. Không quá nhiệt tình, không muốn làm phật ý Xấu Xí khi thấy cô quan tâm đến đặc biệt, phong phanh nghe đồn về chuyện "chiêu phu" tìm chồng của cô. Đa Tình đối với cô nửa trăng nửa đèn, không ra thật không ra đùa. Cho tới một hôm, ma xui quỉ khiến hay duyên tiền định, Đa Tình nhận lời đến nhà Xấu Xí dự sinh nhật. Choáng ngợp bởi sự sang trọng của ngôi nhà, cảm động bởi sự tiếp đón ân cần và nồng nhiệt của cả gia đình Xấu Xí, Đa Tình đã uống say... say trong một giấc mơ... giá mà được là chủ nhân một ngôi nhà như thế này, giá mà có được một địa vị thế kia... và Đa Tình lọt bẫy – cái bẫy xưa như trái đất. Tỉnh dậy sau đêm say ở trong vòng tay Xấu Xí trên giường cô. Sự đã rồi. Hơn nữa những thèm muốn khát vọng đổi đời sẽ thành hiện thực. Đa Tình cũng không còn lựa chọn nào khác. Ngay sau đám cưới, Đa Tình đã được điều về cơ quan cấp trên, giữ một vị trí không lớn nhưng có tiếng có miếng. Xấu Xí chiều anh hết mình, cung phụng anh như ông hoàng. Anh đã có được những gì mình mơ – dù tiêu chuẩn một cô vợ xinh đẹp nết na không như ý, anh tặc lưỡi bỏ qua. Ở đời đâu thể hoàn mỹ, song anh không thể dối gạt lòng, trong sâu thẳm Đa Tình có một góc tối.
"Chó chui gầm chạn", làm sao có thể tự do thoải mái khi tất cả của cải nhà cửa địa vị xã hội là do vợ mà có. Xấu Xí là loại đàn bà biết rõ quyền lực của mình trong "phi vụ" lấy chồng, cô hiểu những khiếm khuyết của mình, nhìn thấy sức quyến rũ của Đa Tình với các nữ nhân viên khác, nên cô xoè móng vuốt vây quanh, Đa Tình như bị giam lỏng giữa vật chất đầy đủ và sự chăm sóc kỹ lưỡng của Xấu Xí. Đêm đêm, khi nằm bên Xấu Xí, dù có thật cố gắng nhưng Đa Tình ít khi nào làm tròn vai trò và phận sự. Anh luôn bị ám ảnh bởi sự ra đời đầy nghi hoặc của cô con gái sau 7 tháng lấy nhau. Anh ấm ức bởi anh không phải là người đàn ông đầu tiên của vợ mình. Anh cứ phải nhắm mắt đến tội thân để không phải ngắm nhìn những nét xấu xí như bà mụ nặn lỗi của vợ. Trong anh lại bùng lên sự thèm muốn.

Họ gặp nhau thật tình cờ trong liên hoan bế mạc hội nghị ngành của thành phố. Cô là biên tập viên đài truyền hình, anh là đại biểu đọc tham luận. Đa Tình đã bị thu hút bởi sự duyên dáng và ánh mắt như nhấn chìm người đối diện của Dịu Dàng. Còn cô, cô chỉ làm phận sự của mình và không mấy để tâm đến, chính thế cô đã gây cho Đa Tình tò mò. Sau đó, như luôn có tình cờ ngẫu nhiên mà Dịu Dàng và Đa Tình thường xuyên đụng mặt nhau, khi là một hội thảo, lúc là một hội nghị. Và họ quen nhau, thân nhau... rồi yêu nhau lúc nào không rõ. Đa Tình thấy ở Dịu Dàng tất cả những gì hoàn hảo của mẫu đàn bà lý tưởng đã từng mơ trước đây và đến tận bây giờ. Còn Dịu Dàng, cô như trúng bùa mê.
Đa Tình yêu, yêu như chưa từng yêu bao giờ. Anh nâng niu Dịu Dàng như châu ngọc, anh giữ gìn cô như một chiếc bình sứ quí, anh sợ làm bất cứ gì để cô không vui... Nhưng anh dấu cô điều quan trọng nhất – Anh là rể vị quan chức lớn của thành phố. Trong anh có nỗi sợ, sự bất an, anh sợ Xấu Xí biết chuyện, anh sợ tai tiếng, anh lo lắng mỗi lần hẹn hò với Dịu Dàng, nhưng anh lại không muốn mất Dịu Dàng. Đa Tình luôn thèm muốn có được mọi thứ.
Dịu Dàng như hít phải mê hồn hương của Đa Tình, cô trở thành người si mê đến đắm đuối ngây dại. Cô yêu Đa Tình bằng tình yêu đầu đời trong trắng với tất cả trái tim tâm hồn, cô đến với Đa Tình bằng lòng tin tuyệt đối mà không hề nghi ngờ điều gì hết. Cô ngỡ cô là người hạnh phúc nhất thế gian được yêu và yêu. Cô sống trong mật ngọt tình yêu tưởng chừng không có gì có thể thay đổi được tình yêu của cô và Đa Tình. Cô ước được làm vợ làm mẹ.
Đa Tình – Dịu Dàng có nhiều ngày hạnh phúc. Những chuyến đi công tác xa nhà của anh của cô là những tuần trăng mật say đắm. Hai người có biết bao kỷ niệm đẹp ở nhiều vùng đất thơ mộng, hết mây mù Sapa, phố hoa Đà Lạt, đến vùng biển đảo thần tiên Hạ Long – Cát Bà, rồi êm đềm trung du, rồi hành trình qua miền Tây Bắc, xẻ dọc Trường Sơn, xuôi Nam ngược Bắc hầu hết các danh thắng. Đa Tình như được lột xác bởi tình yêu với Dịu Dàng, anh sống bằng chính bản năng thật, không bị ràng buộc, không bị ám ảnh, là người đàn ông hoàn hảo. Dịu Dàng thì như sống trong mơ – những giấc mơ từ các trang sách lãng mạn, cô cuồng nhiệt, cô say đắm, cô như một bông hoa quyến rũ đang toả hương. Hai người ngụp lặn trong tình yêu tuyệt vời cả thể xác tâm hồn. Đa Tình bất chấp những nguy cơ từ gia đình. Dịu Dàng mù quáng tin vào tình yêu tuyệt đối. Một người tham, một kẻ si đến dại khờ.

Nhưng rồi "cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra", thành phố tuy rộng lớn nhưng không thể dấu kín được mọi chuyện, bởi có rất nhiều người rỗi việc rảnh rang chỉ chuyên đi nhìn ngó thóc mách thiên hạ làm lẽ sống của mình. Mà Đa Tình thì có quá nhiều người biết. Xấu Xí là người đàn bà rất nhạy cảm, dù cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt ngay từ những ngày đầu, dù cô vẫn lén lút phản bội chồng đi lại buông thả với vài người đàn ông khác để thoả mãn, nhưng cô vẫn "ngửi" thấy mùi lạ ở Đa Tình, cô vẫn là người đàn bà ích kỷ không thể cho ai những gì thuộc về mình, cô không chấp nhận Đa Tình có đàn bà khác ngoài cô. Cô không thể là một "vọng phu" thời mới. chẳng khó khăn gì Xấu Xí đã biết được mối quan hệ đặc biệt của Đa Tình và Dịu Dàng. Ban đầu là một cuộc chiến dữ dội trong nhà, Xấu Xí làm ầm ĩ vật mình vật mẩy thậm chí chửi bới lăng mạ Đa Tình không nể nang gì. Cô dọa sẽ mách cha, dọa sẽ làm cho Đa Tình thân bại danh liệt. Đa Tình hoảng sợ xuống nước năn nỉ, khóc lóc van xin Xấu Xí tha thứ , hứa sẽ chấm dứt với Dịu Dàng. Đa Tình cố chịu đựng, về nhà thường xuyên làm tròn bổn phận để "lấy công chuộc tội". Chỉ được một thời gian, Đa Tình lại tiếp tục đến với Dịu Dàng, anh không thể quên cô được, anh không muốn mất cô.. Xấu xí nhanh chóng nhận ra, nhưng lần này khôn ngoan hơn, Xấu Xí phác ra cả kế hoạch nhằm loại bỏ tình địch trong tủi hổ nhục nhã, không cho Đa Tình biết, âm thầm thực hiện. Song Xấu Xí không biết được, Dịu Dàng là người đàn bà đầy bản lĩnh, không gì đe dọa được và biết cách xử thế, cô lấy cái dịu dàng của mình để thắng lại Xấu Xí, để Đa Tình không thể rời xa cô.
Cuộc gặp gỡ giữa hai người đàn bà Dịu Dàng – Xấu Xí, cứ ngỡ là một cuộc thư hùng sống chết hóa ra hoàn toàn khác. Vừa nhìn thấy Dịu Dàng bao nhiêu hùng hổ, cay nghiệt, căm hờn muốn trút lên đầu bỗng xẹp như bong bóng xì hơi, Xấu Xí nhận thấy rõ Dịu Dàng là người đàn bà có sức cuốn hút mọi người, Đa Tình có bị mê hoặc cũng phải.. Và rồi như không thể tin được, Xấu Xí khóc, khóc cầu xin Dịu Dàng cùng phận đàn bà mà thương Xấu Xí, buông tha Đa Tình, cô kể lể những công lao khó nhọc để giúp cho Đa Tình có được địa vị như hôm nay, cô kể về sự chịu đựng của người vợ mà ít khi được chồng chăm sóc quan tâm, khóc – kể – cầu xin, không còn là một Xấu Xí như bản tính của cô. Dịu Dàng thật sự bất ngờ và đột ngột khi biết Đa Tình đã có vợ, tim cô buốt nhói, tưởng có thể nát ra vì lòng tin đã bị chà đạp, cô đã trao hết, dâng hiến hết để rồi biết mình bị lừa tình, cô nghĩ mình có thể băm vằm Đa Tình ra từng mảnh vì hận nhưng khi gặp Xấu Xí, trong cô trào lên nỗi xót thương anh – anh đã phải sống và chịu đựng một người đàn bà như thế này... Đau – hận tan theo những tiếng thở dài, theo những giọt nước mắt của Xấu Xí, cô thấy Xấu Xí đáng tội nghiệp, nhưng nói cô buông tha Đa Tình, thì không, cô đã yêu và cho dù thế nào cô vẫn cứ yêu anh. Giữa họ cuộc chiến ngầm tiếp diễn, Xấu Xí muốn giành giật Đa Tình tiêu diệt Dịu Dàng, Dịu Dàng càng yêu si mê Đa Tình hơn. Còn Đa Tình, anh vẫn là kẻ tham lam thèm muốn có tất cả, không bỏ vợ và vẫn đi lại với Dịu Dàng.
Bất chấp thể diện, tai tiếng, Xấu Xí đi khắp nơi bêu riếu Dịu Dàng, nhằm đánh gục Dịu Dàng, không có gì là Xấu Xí không nghĩ ra, thuê một tay viết ham tiền viết bài nhục mạ Dịu Dàng trên mạng, gọi điện thoại, nhắn tin với lời lẽ đầy chất khủng bố đe doạ, đến nơi làm việc của Dịu Dàng làm ầm lên, đưa cả ảnh hưởng của người cha làm áp lực với lãnh đạo của Dịu Dàng... Xấu Xí muốn làm đảo lộn hết mọi thứ không còn chỗ cho Dịu Dàng. Ngược lại với những cơn giận dữ đầy ghen tuông của Xấu Xí, Dịu Dàng không phản ứng gì, cô hiểu vì sao Xấu Xí như vậy. Cô càng yêu Đa Tình, càng dịu dàng đằm thắm không một lời oán trách, giận hờn, hết lòng chiều chuộng Đa Tình như bù đắp khoảng thiếu hụt tình cảm của anh, ở bên cô Đa Tình thấy bình yên và thoải mái vì được ve vuốt bản tính mạnh mẽ đàn ông mà khi ở bên Xấu Xí không thể có được. Lạ một điều, chưa bao giờ Dịu Dàng đòi hỏi hay có ý bắt Đa Tình bỏ vợ. Xấu Xí càng điên hơn trong cơn ghen.
Có một hôm, đúng ngày lễ tình yêu, Đa Tình vắng nhà, không hiểu sao Xấu Xí biết hay giác quan của người đàn bà trong nỗi đau ghen hận chồng mách bảo, Xấu Xí đã tìm đến ngôi nhà riêng của Dịu Dàng thuê. Cô đứng đó đợi tới trời sáng, đợi đúng lúc Đa Tình đi ra, nhìn thấy cô, cô trở về nhà trong tức giận bừng bừng, đòi đuổi Đa Tình ra khỏi nhà. Đa Tình một lần nữa lại vận dụng tài khéo của nghệ thuật lấy lòng người, lại được thêm một lần Xấu Xí tha thứ. Xấu Xí vẫn không nguôi hận thù, cô muốn loại trừ Dịu Dàng. Lần này dùng chiêu "khích tướng", mượn một người bạn gái khá xinh xắn đến gặp Dịu Dàng, cô gái nọ thú nhận có quan hệ mật thiết với Đa Tình, anh đã hứa hẹn những gì, anh đã nói chỉ coi Đa Tình là một món đồ chơi, hãy bỏ Đa Tình vì anh ta là người bội bạc không chung thủy, không chỉ có cô ta, có Dịu Dàng mà còn vô số đàn bà khác. Dịu Dàng nghe một cách lạnh nhạt thờ ơ, chẳng tỏ thái độ gì. Dịu Dàng không hề thuật lại cuộc gặp gỡ đó với Đa Tình, vẫn yêu dịu dàng đằm thắm hết mình với Đa Tình. Không bỏ cuộc, thừa kiên nhẫn, Xấu Xí lại tiếp tục tấn công Dịu Dàng bằng đủ kiểu, như con ngựa bất kham lồng lên khắp nơi, khắp chỗ, Xấu Xí liên tục quấy rối Dịu Dàng, bao sức lực thời gian dồn hết cho ghen tuông thù hận, hiến luôn ngôi nhà mình như trong tâm bão lúc nào cũng sẵn sàng nơi giông gió dữ dội. Nhưng càng như thế, Xấu Xí càng làm Đa Tình thấy xa lạ và chán ghét, càng đẩy Đa Tình thường xuyên tìm đến với Dịu Dàng – Dịu Dàng hơn bao giờ hết ngọt ngào đến say lòng Đa Tình, cô lại biết tạo ra những quà tặng đặc biệt để Đa Tình không thể quên cô. Cô lâu lâu lại xuất hiện trên mặt báo bằng những bài thơ, truyện ngắn kể về kỷ niệm tình yêu hai người... Cô muốn cho cả thiên hạ biết cô yêu Đa Tình đến thế nào.
Cuộc chiến của Dịu Dàng – Xấu Xí cứ như thế kéo dài tới mấy năm. Lạ một điều Xấu Xí không thể hạ gục được Dịu Dàng dù sóng gió đã nổi lên gây phiền phức cho Dịu Dàng rất nhiều, nỗi ghen hận vẫn ngày một lớn. Dịu Dàng vẫn cứ yêu Đa Tình si mê, nghe đâu còn định có con với anh, bất chấp tất cả. Hai người như long hổ giao tranh người cương người nhu, kẻ sân kẻ si, bất phân. Cho đến khi cha của Xấu Xí đột ngột qua đời vì một cơn đau tim trong khi làm việc. Đa Tình như được giải toả một áp lực bị đè nén lâu ngày, và lúc này cũng không cần phải dấu diếm lén lút, Đa Tình đi lại gần như công khai với Dịu Dàng, bỏ mặc Xấu Xí sống trong cô đơn và tàn tạ héo úa. Xấu Xí muốn chấm dứt chuỗi ngày căng thẳng vì ghen tuông, cũng hiểu Đa Tình bây giờ không còn gì gắn bó với mình, kể cả đứa con gái, Đa Tình cũng lạnh nhạt vì nó chẳng có nét nào của Đa Tình, tình cha con không có gì gắn kết. Nhưng cứ nghĩ cảnh Đa Tình – Dịu Dàng quấn quít bên nhau, lửa ghen hận như sôi trong máu. Một tia lửa độc ác loé lên trong mắt Xấu Xí.
Ba người họ không hiểu sẽ đi đến đâu trong cõi tham – sân – si đến mê muội mà họ tạo ra. Người thì ghen hận đến rồ dại điên cuồng mất cả nhân tính để trả thù tình địch. Người thì yêu đến u mê không còn phân biệt đạo lý sống. Kẻ thì tham lam không muốn mất gì đến mất cả nhân cách làm khổ lụy cả hai người kia.

Một ngày đẹp trời. Đa Tình thông báo với Xấu Xí sẽ đi công tác vài ngày ở nơi xa thành phố. Xấu Xí không nói gì, đã quen như thế rồi, nhưng lần này hình như có một ngọn hoả diệm sơn đang chờ bùng nổ trong lòng. Không mấy khó khăn, Xấu Xí đã xác định mục đích chính chuyến đi – chỉ là một cuộc du ngoạn đổi gió của Đa Tình và Dịu Dàng. Xấu Xí cũng có một chuyến đi, cô âm thầm chuẩn bị cho mình, cô lặng im đến lạ lùng – sự tĩnh lặng trong tâm bão.
Cả Đa Tình và Dịu Dàng không hề biết Xấu Xí có mặt trên cùng chuyến bay của hai người, chỉ cách vài hàng ghế, và không ai biết được trong cái xắc nhỏ đựng đồ lặt vặt của Xấu Xí có một chai axít đậm đặc chứa trong lọ nước sơn móng tay, nó đã qua mặt được các con mắt kiểm soát an ninh sân bay. Cô định sẽ hủy hoại gương mặt xinh đẹp của Dịu Dàng bất chấp phải trả giá đắt cho hành động của mình.
Máy bay lên độ cao 10.000 feet, Đa Tình – Dịu Dàng ngồi cạnh nhau, tay trong tay, đắm đuối soi bóng trong mắt nhau, rồi như không thể kìm chế nổi họ hôn nhau, nụ hôn giữa mây trời bồng bềnh như trên thượng giới cõi thần tiên tuyệt vời. Đã lâu lắm, hai người mới có chuyến đi xa như vậy, được tự do không phải tránh né những cặp mắt nhìn ngó soi mói, những lời đàm tiếu của người quen, được thoả mãn đắm chìm trong hoan lạc tình yêu. Những ngày tuyệt đẹp đang chờ họ.
Cách đó mấy hàng ghế Xấu Xí ngồi lặng câm, gương mặt phủ màu xám như hoá đá. Không ai biết được cô đang nghĩ gì. Ngọn hoả diệm sơn trong cô đang bùng lên dữ dội, thiêu đốt gan tim cô. Đợi đấy – Hai người chỉ còn cười được hôm nay thôi và sẽ phải khóc suốt quãng đời còn lại. Cô cười một tiếng khô khốc, cô đang tưởng tượng khuôn mặt dị dạng của Dịu Dàng, sự đau khổ của Đa Tình mất cả Tình – Tiền – Địa vị – Nhà cửa – Vợ con.
Đúng lúc đó... Máy bay rung lên dữ dội. Một tiếng nổ lớn. Và tất cả là sự hỗn loạn, rồi chìm trong màu đen đến vô cùng.
Ngày hôm sau, trên các phương tiện thông tin đại chúng loan tin – Một tai nạn máy bay do trục trặc kỹ thuật, tất cả hành khách và phi hành đoàn đều tử nạn.

Vĩ thanh: Trong lễ cầu siêu cho những người tử nạn máy bay, sư thầy chắp tay trước ngực, mắt nhìn xa xăm... cõi nhân gian. Tham – sân – si. Đó là bể khổ. Giải thoát... Giải thoát... Thoát thân... Thoát thân... A Di Đà Phật.

Già kén

Già kén…

Hoài Hương

1. Như thường lệ, chúng tôi ngồi bên nhau chiều cuối tuần ngắm mặt trời rơi trong một quán nước rất thơ mộng ven hồ. Đôi khi chẳng nói với nhau được nửa câu,chỉ nhìn nhau, nắm tay nhau và hiểu tất cả những gì muốn nói. Nhưng hôm nay Nguyên như có điều gì đó không yên, trông anh bồn chồn, đôi lúc liếc nhanh vào đồng hồ. Tôi hỏi anh bằng một ánh nhìn, anh lắc đầu, nắm tay tôi lắc lắc như trấn an không có việc gì… Điện thọai Nguyên reo, liếc tôi thật nhanh, anh lưỡng lự, rồi miễn cưỡng bấm nghe khi tiếng chuông nhạc có vẻ thôi thúc. Không biết người bên kia nói gì, chỉ thấy anh cau mày nói như gắt: “Đang họp! Tí nữa về! Đi một mình không được à.”. Rồi tắt máy. Chẳng cần hỏi, tôi cũng rõ ai gọi anh, tiếng nhạc tín hiệu chuông điện thọai đã khai báo nguồn gốc. Có lẽ vợ anh muốn anh về sớm đưa đi dạo phố, một chiều thứ bảy đẹp như thế này, và cần phải chứng tỏ cho mọi người thấy cái vẻ hạnh phúc của gia đình họ, tại sao lại phải ở nhà… Một cái đầu kim bé xíu, nhòn nhọn đâm vàp tôi. Tôi vội nói vì chỉ sợ nếu Nguyên mở miệng tôi sẽ khóc mất: “Mình về sớm đi anh, em hơi mệt”. Hình như chỉ chờ có vậy, Nguyên gật đầu, đứng lên gọi tính tiền, rồi ra lấy xe, cái dùng dằng muốn níu thời gian như mọi lần biến đâu. Cái đầu kim ngóay vào tôi. Tôi cay đắng nuốt thầm một giọt mặn môi.

Tôi chưa được gặp mặt vợ anh, và cũng không mong gặp làm gì. Quen nhau, yêu nhau đến gần năm, anh mới đưa tôi xem một tấm ảnh, cól ẽ luôn để sẵn trong ví anh, chỉ chờ dịp là lấy ra. Anh chụp ba người chụm đầu vào nhau hạnh phúc lắm: Anh – vợ và con gái. Tôi không nhìn anh và cô con gái 5 tuổi giống anh như lột, mà tò mòmột cách chăm chú, có phần xét nét rất đàn bà vào gương mặt vợ anh. Đó là một người đàn bà gương mặt thô, trang điểm lòe lọet xanh đỏ và đậm nét, nét mặt hơi sệ do nụ cười thỏa mãn kéo hai con mắt như hai vệt chì xanh lè, ăn mặc cũng màu mè không kém, trái ngược với sự nền nã lịch sự của anh. Tôi thầm so sánh với mình… tất cả tôi đều hơn hẳn, nhưng tôi lại không được ở vị trí đó, như người đàn bà vợ anh. Trả lại Nguyên tấm ảnh, tôi im lặng với bao giằng xé… Anh cũng không nói gì, lẳng lặng cất vào ví. Ở địa vị tôi và anh, im lặng có lẽ đỡ buồn lòng nhau và dễ chịu hơn trong hòan cảnh trớ trêu này.
Đến gần con đường rẽ vào nhà tôi. Nguyên dừng xe, thả tôi xuống, nhìn vội xung quanh, rồi cẩn thận phớt nhẹ cái hôn lên tóc tôi, thầm thì: “Hãy thông cảm cho anh, chúc em vui”. Tôi nén một tiếng thở dài, cố nặn ra nụ cười để cuộc chia tay nhẹ nhõm. Anh rồ ga cho xe chạy vụt đi, còn tôi ứa nước mắt đi về nhà. Vào đến phòng, vẫn quay quắt câu hỏi, mà bao lần tự hỏi, tại sao không chấm dứt cho xong, đỡ đau khổ, day dứt… Nguyên không hề dấu diếm rằng, anh sẽ không bao giờ từ bỏ con gái, cho dù anh không còn yêu vợ nữa.

Tôi với Nguyên, nói thơ mộng là mối tình tuyệt vời, nhưng xét thẳng ra, là sự vụng trộm của hai kẻ đang giỡn với đạo đức và lương tâm mà cho đến thế kỷ 21 này vẫn chưa được người Việt Nam chấp nhận và tha thứ. Tôi luôn mềm lòng mỗi khi Nguyên tha thiết: “Anh yêu em… Anh không thể thiếu tình yêu của em… Anh đã phải sống trong sự cầm tù của gia đình… Em mà bỏ anh thì anh mất tất cả… Anh cần có em…”. Và tôi lại gục đầu vào anh khóc… để khi đêm về, ngấm ngầm nỗi đau lẻ loi một mình… cũng như âm thầm rơi nước mắt như chiều nay.

2. Ngày tôi sinh ra, bố đã mượn một ông thầy tử vi người Hoa rất uyên bác về lý số, kinh dịch xin cho một lá số. Ông thầy nói với bố tôi, có con gái quý tướng, không bao giờ cực thân, lớn lên có mệnh phu nhân sang trọng quyền lực được chồng yêu quý, thông minh, xinh đẹp, làm nên phú quý cho gia đình… Thế mà bây giờ, bạn bè cùng lứa ai cũng yên ấm đàng hòang. Còn tôi loanh quanh mãi với một mối tình không lối thóat, lại còn phải hò hẹn lén lút dấu diếm, danh không chính, ngôn không thuận. Xung quanh tôi bao người đàn bà kém hơn là thế mà họ có được hạnh phúc, tôi ghen với họ. Đàn ông bao người, sao tôi cứ phải gặp những kẻ không thể gắn kết được.

3. Mối tình đầu là Giang. Anh hiền như cục bột. Suốt ngày chẳng hé được một câu, chúi mũi vào sách vở. Bốn năm học đại học, chúng tôii yêu nhau hồn nhiên như trẻ con, ngây ngô, dễ thương… Bạn bè cùng khoa lấy tôi và Giang làm đầu đề cho chuyện tình yêu sinh viên như một tấm gương chung thủy, trong sáng, lành mạnh, cùng giúp nhau học hành tử tế. Ngày ra trường, chưa kịp trấn tĩnh để chuẩn bị vào đời, bước sang giai đọan làm người lớn, Giang đột nhiên: “Chúng mình đám cưới nhé!” . Tôi tưởng anh nói đùa như hàng trăm lần đùa như thế thời đi học. Tôi cười và không nói gì, đến khi Giang khẩn thiết: “Mình làm đám cưới nhỏ thôi. Chưa có việc thì xin việc sau…”. Tôi ngạc nhiên và cãi lại: “Thế cươi xong em và anh vẫn nhà ai nấy ở, cơm cha mẹ ai người ấy ăn. Anh không cần đám cưới lớn, nhưng em cần, cha mẹ em cần, con gái duy nhất cưới chồng, chứ đâu phải theo không…”. Mấy lần cãi nhau sau đó, tòan vớ vẩn trẻ con… Sau cùng lấy cớ tôi chưa được trưởng thành, việc làm chưa ổn định, chưa muốn phải xa cha mẹ đi lấy chồng. Tôi chia tay mối tình đầu. Tình yêu học trò nên buồn thóang chốc rồi cũng mau quên.

Đi làm được ít năm, tôi quen Lâm. Anh vui vẻ, cởi mở, hài hước. Anh yêu tôi cứ như tôi được sinh ra là để cho anh, không suy tư, không băn khoăn và cũng không cần tìm hiểu xem tôi muốn gì, thích gì, cần gì. Gặp nhau, hẹn hò đi chơi, đi ăn, đi xem ca nhạc, anh lôi tôi đi khắp nơi, khoe tôi với bạn bè anh như một “chiến lợi phẩm tuyệt hảo xinh xắn”, anh thường nói vậy với mọi người. Đi với anh mãi,tôi đâm chán và sốt ruột. Mẹ tôi hình như còn sốt ruột hơn. Anh chưa khi nào đề cập đến chuyện cưới xin. Tôi khéo léo gợi ý anh về dự định tương lai, anh nhăn mặt: “Em còn trẻ quá, đợi thêm vài năm nữa cho em đủ lớn, yêu nhau thế này không thích hơn sao… vội gì”. Tôi nước mắt vòng quanh, ấm ức. Tôi đã 25 tuổi, được lãnh đạo cơ quan và bạn bè đồng nghiệp tín nhiệm cử giữ một vị trí giao dịch với bao khách hàng quan trọng… Nhiều lần như thế, tôi nghi ngờ, tìm hiểu và vỡ ra một điều: Anh chỉ thích vui chơi như một cái mốt, có bên cạnh mình một cô gái xinh xinh để hãnh diện với bạn bè. Tôi dã giận dữ “Anh có thật yêu em không?”. Anh cố giải thích với muôn ngàn lý do, nhưng tôi biết anh sợ trách nhiệm khi phải làm chủ một gia đình, anh sợ ràng buộc, anh chỉ thích vui vẻ vô tư… Còn lấy tôi làm vợ. Anh lo không thể làm tốt vị trí người chồng. Tôi chủ động bỏ anh. Không luyến tiếc. Chấm dứt một cuộc tình không buồn, không đau khổ.

Tiếp theo là mối tình với Quang. Anh đẹp, hào hoa, phong nhã, lắm tài. Ở anh tóat ra sự lịch thiệp ngọt ngào quyến rũ. Được là người yêu của anh, tôi thấy hãnh diện và có ý kiêu hãnh với cả một đám con gái luôn bu xung quanh anh, mà trong số đó có người xinh đẹp giỏi giang hơn tôi. Anh quá đẹp, quá giỏi, lại luôn lịch sự với mọi người. Có lẽ vì thế mà nhiều lần anh từ chối thẳng thừng những mời gọi của bao cô gái, song hình như họ vẫn không chịu buông anh ra. Còn tôi, cứ luôn trong tình trạng căng thẳng, thấp thỏm, lo lắng. Đến ngày lễ Tình yêu đầu năm, anh hẹn tôi trong một nhà hàng ăn theo phong cách cổ điển Au Châu, đẹp,thơ mộng. Cầm tay tôi anh ngỏ lời, muốn tôi sẽ thuộc về anh, là vợ của anh… Tiếng nhạc nhè nhẹ dịu dàng, đưa tôi bồng bềnh trong hạnh phúc được yêu thương, nhưng bất chợt có cái gì bất an cứ chẹn ngang ngực, trái tim tôi đập không đều, mơ hồ lo lắng. Tôi yêu Quang, và biết anh yêu tôi lắm, nhưng làm vợ anh, tôi phải suy nghĩ kỹ, bởi khi ấy sự bất an ở trong tôi phải nhân lên mấy lần. Anh nhìn tôi chờ đợi, còn tôi ngập ngừng nói với anh những băn khoăn, anh cười cho là tôi suy nghĩ vô lý. Anh hứa anh sẽ không có ai ngòai tôi, anh không bao giờ để cho các cám dỗ khác ngòai tôi. Nhưng tôi nhớ lại những gì mình được biết, kinh nghiệm của bao người đàn bà đi trứơc, có chồng đẹp, chồng giỏi, dễ bị người khác bao vây quyến rũ mất chồng. Tôi cũng đã bao lần chứng kiến, ngay cả khi tôi đang đi bên anh, anh giới thiệu là người yêu của anh, nhưng vẫn có vài người ngang nhiên lôi kéo, mời mọc, rủ rê anh đi chơi với họ, rồi bao cuộc điện thọai kêu réo… Anh không hiểu nỗi lo của tôi, cho là tôi kiếm cách từ chối anh, tôi kén chọn… Anh giận tôi. Và tôi mất anh. Tình yêu bay xa. Tôi không buồn lắm, chỉ hơi tiếc. Có lẽ duyên số chưa tới. Và bởi vì tôi không thích người đàn ông chồng mình, luôn làm tôi hồi hộp mỗi lần anh bước ra khỏi nhà, không biết khi trở về anh có còn nguyên vẹn của tôi, hay là anh sẽ đi mãi mãi…?

Tôi lại một mình suốt mấy năm với cái dấu vô hình đóng trên trán “ế…”. Gặp bất kỳ người đàn ông nào tôi cũng đem Quang ra so sánh, và thấy không người nào được như ý, mất cái này, thiếu cái kia… Quang ám ảnh tôi như một mẫu bảo lưu khá vững chắc trong tôi, không ai thay thế. Thế rồi cũng có một người để ý và yêu tôi. Anh tên Lưu, tính tình cao ngạo, bất cần, phóng khoáng và hơi dễ dãi, tử tế với mọi người. Trong đám đông, anh luôn là tâm điểm bởi những câu nói ý nhị, vui vẻ hơi tiếu lâm, đồng thời anh hay trổ tài mọn như “xuất khẩu thành thơ”, đánh đàn, hát… có nhiều người thèm muốn địa vị của tôi, là người được anh yêu. Anh yêu tôi với tình yêu có phần mãnh liệt, lúc nào cũng hừng hực như sợ tôi sẽ bay biến đi đâu mất, không giờ nào anh không nhắn tôi, kể cả đến lúc đi ngủ… Anh lôi tôi đến tất cả những cuộc hội hè đình đám của bạn anh… đôi lần tôi tưởng như mình sắp bị thiêu cháy với tình yêu đầy lửa của anh. Mẹ tôi lo lắng và lại sốt ruột giục giã. Còn tôi, thu hết can đảm đặt vấn đề: “Em muốn chúng mình làm đám cưới”. Lưu tròn mắt nhìn tôi và phá lên cười: “Em có nói thật không đấy?”. Tôi gật đầu và chợt lạnh cả người khi Lưu dửng dưng nguội đến buốt người: “Anh thật sự chưa muốn làm đám cưới với em. Hay em muốn, chúng mình sống thử vợ chồng… Nếu được thì… còn không…”. Chưa đợi anh nói hết, tôi nghiến răng tát anh và hét lên: “Anh coi em là lọai con gái gì?”. Lưu ôm má nhìn tôi, rồi thản nhiên buông một câu đầy khinh miệt: “Anh thấy em sống phóng khóang, rất Tây, em lại ngần này tuổi, lại có vài mối tình, anh ngỡ em…”. Tay tôi đau vì tát anh, tim tôi còn đau hơn vì anh rẻ rúng tôi, coi thường tôi từ trước đến giờ mà tôi không hề biết. Tôi không đủ sức thốt lên câu mắng đuổi anh ra khỏi nhà tôi, chỉ khóat tay ra dấu, nhưng tôi có sức mạnh đến cùng đuổi anh ra khỏi trái tim tôi và quên hẳn cái tên anh từ lúc đó.

Sinh nhật gần 30 tuổi, tôi gặp được Minh trong tâm trạng mình đã không còn hứng thú gì để tìm gặp bạn trai. Minh hơn tôi một giáp, có địa vị xã hội, chững chạc, nề nếp, kiến thức rộng, anh cẩn trọng từng lời nói, từng suy nghĩ, từng hành động. Tôi ngại nhất ở anh một điều, là anh rất đảm đang, cái đảm của người đàn bà quán xuyến, chi li, tỉ mỉ, cặn kẽ. Anh yêu tôi kín đáo, chừng mực, đằm thắm, anh thường tặng tôi những món quà rất thực tế, có thể sử dụng thường xuyên, anh không hề tặng hoa cho tôi bao giờ dù biết tôi rất thích hoa. Mẹ tôi thích anh. Ở bên anh tôi thấy yên tâm lắm, như được chăm sóc, che chở bao bọc, không có gì đe dọa. Anh là một mẫu người chủ gia đình rất lý tưởng. Tôi nghĩ chắc lần này mìng sẽ yên bề, và hồi hộp chờ anh ngỏ lời cầu hôn. Nhưng đến lúc anh ngỏ ý chuẩn bị làm đám cưới, tôi bỗng chao đảo như bước hụt một nhịp, tôi rụt rè xin anh cho suy nghĩ ít ngày. Anh cười, đồng ý và cho đó chỉ là trò làm nũng của tôi vì không thể ai từ chối một người như anh. Mẹ tôi ngày nào cũng rối rít: “Còn chỗ nào để chê nữa, không gật thì chờ đến bao giờ, kén mãi hối không kịp”. Còn tôi, y như bị mộng du, lờ đờ, vật vã, xơ xác như đánh mất cái gì, ba đêm không ngủ chỉ quẩn quanh trong đầu – Tôi sẽ là vợ Minh – được hay không được, hình như có một chỗ nào đó không khớp. Tôi gặp lại anh, như người mất hồn, lắc đầu, khóc, xin anh tha lỗi: “Em sợ không đảm đương nổi vai trò làm vợ anh. Anh hòan hảo quá, em sẽ làm anh thất vọng”. Minh không tin đó là quyết định của tôi mà nghĩ tôi còn trẻ, thích làm mình làm mẫy với anh như thói thường hay dỗi hờn. Anh an ủi, vỗ về, dỗ ngọt tôi, anh hứa sẽ chiều chuộng tôi, rồi sẽ điều chỉnh từ từ, rồi tôi sẽ dần quen, rồi tôi và anh sẽ thật hạnh phúc… Nhưng tôi nhất định chối từ. Anh buồn và khó hiểu. Anh làm sao có thể hiểu là tôi sợ lắm, tôi sợ một người đàn ông có quá nhiều ưu điểm sẽ càng làm cho tôi thấy mình vụng về, khiếm khuyết hơn nhiều lần. Không lâu sau, tôi được tin anh đã hứa hôn và chuẩn bị làm đám cưới với một cô giáo dạy nữ công gia chánh ở Câu lạc bộ Phụ nữ.Tôi thầm chúc mừng anh và nghĩ có lẽ phải thế anh mới hạnh phúc hơn là cưới tôi làm vợ.Còn tôi, hơi tiếc một người tốt, yêu tôi, nhưng không thể hợp với cá tính của tôi.

Biết nhau từ rất lâu qua điện thọai trao đổi công việc, chỉ khi gặp nhau bất ngờ giữa hành lang hội trường của một cuộc Hội nghị ngành, tôi và anh như bị trúng sét, mũi tên thần Ai tình đâm xuyên hai trái tim. Không còn là trẻ con, ngây thơ, cuồng dại, không phải là một thóang chốc của phút phù vân tình cảm, nhưng tình yêu của tôi và anh ngay từ phút đầu say mê đắm đuối vẫn linh cảm nhiều nỗi buồn mất mát, vì chúng tôi ở xa nhau quá, khỏang cách là trở ngại đến đắng lòng. Hai năm yêu nhau chỉ nghe nhau qua điện thọai, mà chỉ tòan tận dụng giây phút hiếm hoi khi trao đổi công việc xong. Nhớ nhung, yêu thương dày đặc qua tin nhắn và những nụ hôn xa trong tưởng tượng. Đôi lần gặp nhau qua các cuộc Hội nghị, nhưng công việc cứ cuốn hết những giờ phút bên nhau, nhìn nhau cứ nghẹn ngào hơn cả Ngưu Lang-Chức Nữ. Rồi lại biền biệt xa nhau. Hàng đêm, tôi gặp anh trong mơ, thì thầm gọi anh: “Biển của em”. Người yêu tôi ở vùng biển, trong những câu chuyện của tôi và anh là những giấc mơ biển đầy mộng mị, sóng, gió, cát, nắng, núi đảo… Tôi cứ say đắm với anh đêm đêm trong giấc mơ… Và rồi đến một ngày, có lẽ vì xa xôi quá, cách trở quá, anh đã hòa vào đại dương nơi anh, bỏ lại tôi nỗi buồn mất tình yêu, tình yêu mà tôi cảm thấy là của riêng mình chưa trao cho ai bao giờ. Tôi cứ chìm trong nỗi buồn, và nghĩ rằng tim đã lạnh, lòng mình không còn chỗ nào để mà chất chứa thêm cuộc tình nào. Ôi duyên phận của tôi, có lẽ nào Ông Tơ Bà Nguyệt trớ trêu lại thêm một lần thử thách tôi, cho tôi thêm đau đớn. Tôi gặp Nguyên.

4. Tôi quen Nguyên trong những ngày buồn mất tình yêu. Cái cảm giác chống chếnh, đơn côi đưa tôi đến quán nước ven hồ có nhiều cành liễu rũ đẹp ảo não, nao lòng. Tôi đến đây để đếm thời gian cho lặng đi nỗi nhớ tình đã mất. Và tôi gặp Nguyên. Anh cũng thương đến đây, và như sau này anh nói cũng là cho trôi bớt thời gian, để khi trở về nhà giam trong tù túng gỉ tạo một gia đình hạnh phúc, anh còn sống sót để hôm sau lại tiếp tục cái vòng lẩn quẩn nghĩa vụ, trách nhiệm. Khi mới quen Nguyên, tôi không biết anh đã có một gia đình, và anh chỉ kể với tôi về công việc, về những mong muốn ao ước của anh có một gia tình yêu thật đẹp với một người con gái như tri âm tri kỉ. Tôi biết anh là người đàn ông thành đạt qua vị trí xã hội của anh, nhưng điều đó không quan trọng với tôi bằng những cử chỉ chăm sóc, nâng niu tôi, đóan được ý tôi dù tôi chưa nói gì, anh luôn làm tôi bất ngờ với những quà tặng dễ thương rất hợp ý tôi, những lời mật ngọt của anh cũng làm tôi cảm động. Dần dần anh xoa dịu làm lành vết thương mất tình yêu trong tôi. Tôi yêu anh lúc nào không rõ, chỉ biết là ngày nào không được nhìn thấy anh, nghe anh nói, hay không nhận tin nhắn của anh đôi khi vỏn vẹn ba chữ “Anh yêu em”, hay “Anh nhớ em” là tôi thấy thiếu vắng, quay quắt đến quắt lòng. Đến khi tôi không thể chịu nỗi ý nghĩ – sẽ không thiếu anh trong cuộc đời, tôi cần có anh biết mấy, thì anh cho tôi biết anh đã có gia đình, có một đứa con gái lên 5 tuổi. Anh xin lỗi tôi, anh giải thích với tôi bao lời: Nào là anh đã thương hại họ vì họ quá yêu anh, nào là họ đã giúp đỡ cho anh thời anh gặp khó khăn, anh không yêu họ nhưng anh có trác nhiệm với con gái anh… Tai tôi ù lên, tim tôi như hóa đá, tôi không thể chảy được một giọt nước mắt, nó đông cứng lại. Tôi muốn hét lên: “Anh là kẻ dối lừa”, lại muốn không tin những lời anh nói: “Anh muốn thử lòng em phải không?”. Nguyên lặng lẽ mở ví lấy ra tấm ảnh… ba cái đầu chụm vào nhau, anh và đứa bé gái giống hệt anh và người đàn bà mặt sệ, son phấn lòe lọet, mắt híp cả lại với nụ cười thỏa mãn… Tim tôi bị đâm đau buốt. Tôi thấy mình rơi xuống vực.

Thế nhưng tôi không bỏ được Nguyên. Hình như tất cả dũng khí của tôi đã dồn vào sự từ chối các cuộc tình trước, cũng như nỗi đau mất tình yêu với “Biển của em” đã làm tôi trở thành kẻ yếu mềm. Bao lần cố tự nhủ chấm dứt với Nguyên, nhưng rồi khi nhìn thấy anh với ánh mắt tha thiết, nồng nàn, những lời mật ngọt, vòng tay vỗ về của anh, tôi lại vẽ cho mình ảo tưởng. Người anh yêu là tôi, và chỉ mình tôi. Anh gắm với người đàn bà kia là vì nghĩa, vì ơn, vì cô con gái. Anh chỉ là cái xác bên người đó, còn cả tâm hồn trái tim anh là thuộc về tôi… Tôi lại huyền hoặc mối tình của tôi và anh, và không dứt được. Để chấp nhận một thực tế xót xa, đau nhói hàng đêm – Khi tôi đối diện với tôi trong căn phòng lạnh lẽo, thì Nguyên đang đầm ấm bên người đàn bà kia, dù họ không còn yêu nhau nữa?

5. Mẹ tôi thở dài hết đêm này sang đêm khác. Còn tôi bám víu vào một tình yêu chẳng biết sẽ ra sao, chỉ thấy mỗi ngày nỗi buồn nhân lên, nỗi đau đầy hơn.

Tôi yêu Nguyên. Tôi cũng hiểu là Nguyên không bao giờ từ bỏ gia đình để đến với tôi vì Nguyên không chịu mất bất cứ cái gì – Gia đình và Tình yêu. Nhưng nếu Nguyên có từ bỏ gia đình để đến với tôi, tôi cũng lại từ chối. Tôi không thích, không muốn gắn đời mình vào một người đàn ông thiếu chung thủy, tôi không muốn một ngày nào đó tôi cũng lại rơi vào hòan cảnh như vợ của Nguyên – một hạnh phúc giả dối ./.

Cổ tích Bạch Mã

CỔ TÍCH BẠCH MÃ

Hoài Hương

Một vóc dáng rất đàn ông, một đôi mắt hơi u uẩn buồn, anh không có gì đặc biệt lắm ngòai việc là người Việt Nam duy nhất trong nhóm lữ khách du lịch đi lên núi Bạch Mã. Gần đến giờ khởi hành, sếp tôi đưa anh ra xe và dặn dò tôi một câu nửa thân mật, nửa "lệnh": "Chăm sóc chu đáo anh bạn thân của anh nghen chú mày". Tôi chào anh với vẻ hơi kính cẩn, bạn sếp mà, nhưng anh khóat tay dễ dãi: "Tự nhiên. Chú làm việc của chú đừng bận tâm đến anh". Anh nhảy lên xe trước, ngồi ở hàng ghế sau cùng. Khi tất cả mọi người đã ở trong xe, tôi nhìn anh hơi áy náy vì phía trên còn ghế trống, nhưng anh ra dấu để mặc anh. Suốt quãng đường đi, tôi kín đáo quan sát anh với sự tò mò, trong khi miệng vẫn liếng thoắng giới thiệu cảnh quan dọc đường cho các vị khách. Anh lơ đãng nhìn ra ngòai cửa xe, hình như đang suy nghĩ điều gì đó, anh tên gì, làm gì, ở đâu, tôi chưa được biết. Nhìn anh vừa giống một lãng tử phong trần vừa có nét lịch lãm của một người hiểu biết qua cách ăn mặc và cách anh cười khi nghe tôi nói một chuyện vui với khách. Mà sao anh đi Bạch Mã có một mình, không giống lắm người đi du lịch,càng không phải là người đi làm việc. Sếp tôi không nói rõ ràng ngòai hai chữ "bạn thân", hay đây cũng là mẫu người "quái quái" như sếp, thôi thì như sếp dặn "chăm sóc chu đáo", nhưng có vẻ như anh không cần đến cái "chăm sóc chu đáo" đó.

Xe tới chân núi Bạch Mã, tôi thấy anh có một cái gì đó thật lạ. Vẻ bồn chồn, anh đẩy cửa kính xe, chồm hẳn ra ngòai nhìn, gương mặt không còn vẻ lãnh đạm thờ ơ như nãy giờ trên đường đi. Chương trình của tôi ở Bạch Mã có nghỉ đêm nên tôi cho làm thủ tục nhận phòng ở khách sạn Bạch Mã ngay lưng chừng núi. Mải giúp khách nhận chìa khóa nên tôi không để ý đến anh; hơn nữa, anh và tôi chung phòng, phải ưu tiên mấy vị khách nước ngòai trước. Xong hết, tôi quay ra kêu anh, nhưng hình như anh không nghe dù chỉ đứng cạnh tôi có mấy bước chân. Anh đứng như bị thôi miên trước bức tranh thêu một tiên nữ đang vui đùa giữa hoa lá chim muông rất đẹp, sống động... Tôi lại gần chạm vào anh, anh mới giật mình, môi lắp bắp: "Hương Phong...là nàng...". Anh đi theo tôi nhưng không quên ngóai đầu lại nhìn bức tranh, ánh mắt thật lạ, như cười như pha chút băn khoăn, khắc khỏai thế nào ấy.

Buổi tối, sau khi cùng đòan tham gia chương trình tour, trở về khách sạn,tôi lại thấy anh đứng như bị thôi miên trước bức tranh thêu tiên nữ, mắt lộ vẻ gì đó van lơn tha thiết, chen nét trìu mến...Tôi kéo anh ra khỏi mộng mị bức tranh, hơi thắc mắc tại sao anh có vẻ "lụy" trước một bức tranh như thế, vì nó cũng chỉ đẹp như nhiều tranh phong cảnh khác. Đêm đó, sau mấy tuần rượu giữa hai người, cởi mở thân tình hơn, tôi được nghe anh kể chuyện tình của anh, ngỡ như người trong mơ đang tưởng tượng, cứ mông lung kỳ ảo không hiểu thực hư, ngay cả tôi cũng lâng lâng say nên ngồi nghe trong sự lơ mơ hình như đang lạc vào câu chuyện lạ lùng xa xưa lắm...

... Bốn năm trước tôi đến Huế dự Festival, là một nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc, nên Huế không xa lạ lắm, dù còn nhiều bí ẩn vẫn cần khám phá. Trước ngày khai mạc, tôi lang thang ở khu Thành Nội, xách theo máy ảnh định chụp kĩ mấy bức chạm nổi trên chín cái Đỉnh đồng ở nhà Thế Miếu, có rất nhiều nhà nghiên cứu nói về nó, nhưng tôi muốn tìm thêm những thông điệp, tôi tin là vẫn còn ẩn giấu, người xưa thâm thúy lắm, mà nghệ nhân làm ra các tuyệt tác nghệ thuật lại là bậc thầy của những ẩn dụ thời gian, nối quá khứ, hiện tại với tương lai. Đang loay hoay ngồi chỉnh ống kính vì cần phải cận cảnh, rõ ràng, sắc nét...một làn gió thỏang qua đưa mùi hương rất lạ,mũi tôi khá nhạy cảm với mùi, chợt thấy ống kính bị giật nhẹ, tối sầm lại, đồng thời tôi nghe tiếng kêu: "Ui chao...". Ngẩng lên, không thể tin vào mắt mình, một "nàng" Huế chính gốc, áo dài tím nhạt, đẹp không tả được, mắt nhìn vào tôi như muốn nhấn chìm tất cả, cứ vời vợi long lanh, tóc mượt dài như mây, da trắng mịn màu men sứ, dáng mềm như liễu...Đẹp đến muốn nín thở, tôi ngây người ra nhìn quên cả đứng lên, quên cả phép lịch sự tối thiểu... "Ui chao. Anh ni lạ rứa hè!". Tôi cứ như gã khờ thốt ra một câu ngờ nghệch: "Đẹp quá...". "Anh ni lạ rứa...Gỡ áo em ra cho em đi..."; ôi trời ạ, tà áo sau của nàng quấn lấy ống kính của tôi vẫn chưa gỡ ra. "Xin lỗi...". Tưởng nàng sau đó đi luôn, nhưng hình như nàng chùng chình, bất chợt nàng mỉm cười "Anh ni lạ rứa"... còn tôi cũng bất ngờ lúng túng, muốn nói một câu gì để giữ nàng lại làm quen, nhưng lại muốn nàng đi thật nhanh, vì hình như tim tôi hơi bất thường, một sự rung động khó diễn thành lời, giữa tôi và nàng có một giao cảm huyền bí nào đó.

Vâng! Tôi là một thằng đàn ông hơi khó tính, hơn ba mươi tuổi vẫn chưa có một mảnh tình làm phép, trong mắt tôi phái yếu là một thế giới xa lạ, bí hiểm, rắc rối, mà tôi thì chưa muốn bị ràng buộc, tôi đam mê công việc nghiên cứu, lâu dần tôi bị coi là kẻ lập dị, không đàn bà con gái nào để ý, có vài người còn bóng gió cho là tôi "đồng tính". Tôi mặc kệ thiên hạ, không quan tâm.
Nhưng rồi nàng, bất ngờ như lúc xuất hiện, lướt nhanh qua tôi, đi như một làn gió về phía cửa lớn hướng ra Thành Nội. Còn tôi, từ lúc đó người cứ bần thần không tập trung được việc gì. Tôi bỏ dở ý định chụp Cửu đỉnh, ra về, vơ vẩn đi dọc sông Hương, trong đầu ám ảnh về nàng, bất chợt thấy mình cô đơn quá, nhất là ở xứ Huế thơ mộng này. Liệu có còn gặp lại nàng...

Lễ hội Festival khai mạc, cùng với rất nhiều chương trình khơi dậy một Huế xưa cuốn hút tôi. Tôi vẫn không quên gương mặt tuyệt đẹp của nàng, đi bất cứ đâu ở Huế, tôi luôn chú ý tìm nàng trong số những đám đông thiếu nữ, song không ai mang gương mặt siêu thóat ấy...Chợt thấy lòng mình hơi chùng lại, tim se sắt một nỗi buồn khó hiểu. Đến đêm thứ ba của lễ hội, tôi đi dự dạ tiệc cung đình có biễu diễn nhã nhạc trong Thành Nội , đúng lúc tôi chuẩn bị ngồi xuống hàng ghế dành cho khách mời, mũi tôi thóang bắt gặp mùi hương lạ theo làn gió thỏang qua, một cái rùng mình. Trước mặt tôi là nàng, dưới ánh đèn rực rỡ còn đẹp hơn cái buổi tôi gặp ở nhà Thế Miếu, vẫn màu áo dài tím nhạt nhẹ như sương chiều, vẫn một câu nói "Anh ni lạ rứa"... Nàng ngồi xuống ngay cạnh tôi... Đêm đó thật tình tôi không còn nhớ những gì đang diễn ra trên sân khấu, ngay cả bữa dạ tiệc tôi cũng không biết mình đã ăn những thức gì, chỉ biết một điều duy nhất bên tôi là nàng, một nàng Huế đẹp như thần tiên trong tranh. Một đêm Huế thật đặc biệt trong cuộc đời. Sau khi rời khỏi Thành Nội, tôi và nàng đi dạo dọc theo hồ sen Tịnh Tâm... Nàng có tên Hương Phong, cái tên nghe hay hay lạ lạ và hiếm thấy ai có ở đất Huế này. Lần đầu tiên tôi đi bên một cô gái, cảm giác hư thực như đang ngấm một thứ men rượu ngọt cứ lâng lâng dễ chịu. Dù mới gặp nhau nhưng cả tôi và nàng như thể quen nhau lâu lắm, nàng nói cho tôi biết nhiều chuyện về Huế. Những câu chuyện của nàng rất đặc biệt, tôi có cảm giác nàng rất am hiểu về kinh thành Huế xưa, cả lịch sử, triều đại đến những lĩnh vực văn hóa cung đình. Hình như tôi đang nắm trong tay báu vật của Huế-nàng Hương Phong. Cảm giác ấm áp lạ thường, tôi muốn đêm dài mãi, để được đi mãi bên nàng. Tôi không còn hiểu mình khi có một ý nghĩ:nàng sẽ mãi là của tôi. Ừ! Mà sao nàng lại tin tôi, đi với người đàn ông lạ mà không tỏ ra e ngại gì. Hay chính Ông Trời đã tặng nàng cho tôi, hay chính kiếp trước tôi và nàng là hai nửa của nhau. Nhưng rồi tôi cũng phải chia tay nàng không thể đi hết đêm được. Tôi ngỏ ý đưa nàng về nhà, nàng lắc đầu quầy quậy: "Nỏ được mô. Nhà em xa ngái, ngòai Thành. Em đi xem hội, ở nhà dì. Dì khó dữ. Anh để em tự về... Mai em đến anh". Rồi nàng quay đi rất nhanh về phía trong xóm sau hồ Tịnh Tâm, không kịp cho tôi phản ứng gì, thóang đã thấy mất hút bóng nàng, chỉ còn phảng phất mùi hương trong gió...Hương Phong. Đêm đó tôi mất ngủ- mất ngủ vì một nàng con gái đầu tiên ám ảnh tôi trong đời.

Ngày hôm sau, tôi dự định đi sang bên Kim Long để tránh cái nắng gay gắt giữa hạ và để cảm cái chất thơ của hoa lá cây kiểng ở mấy khu nhà vườn nổi tiếng đất thần kinh bên ấy. Lời hẹn của nàng. Ừ. Sao tôi vô tâm quá, không cho nàng biết tôi ở đâu thì làm sao nàng đến được. Không lẽ tôi lại lạc mất nàng lần nữa. Nhưng tôi linh cảm mối giao cảm kỳ lạ, nhất định nàng sẽ tìm được tôi. Tôi xuống dưới sảnh chờ. Nàng Hương Phong của tôi đang nhìn tôi cười, dấu ấn, đóng vào tim tôi vị ngọt ngào. Tôi và nàng có những giây phút lãng mạn đầy thơ mộng bên nhau trong bóng mát rợp và hương thơm của cây trái hoa lá. Và cũng thêm một lần tôi khâm phục sự hiểu biết của nàng về các lọai cây trái, nàng kể tên từng lọai, nguồn gốc, tính cách đặc điểm, thời điểm đơm hoa kết trái, như chính nàng là người chăm sóc cây. Hương Phong, nàng của tôi chừng hai mươi tuổi, mà có một kiến thức không dễ gì ai sánh được.

Quá trưa, tôi và nàng trở về Thành Nội, tôi đưa nàng đi ăn bên Gia Hội, nhưng vừa gần tới chợ Đông Ba, nàng nói đi theo nàng đến nơi này. Lòng vòng qua vài con đường nhỏ bên trong Thành, nàng đưa tôi đến một tiệm ăn. Rất đặc biệt, lối vào rải sỏi tròn trắng, hai bên trồng tòan hoa đủ màu sắc tỏa hương thơm ngát, tiệm ăn là một tòa nhà xinh xắn bằng gỗ lợp ngói lưu ly, bước vào trong không khí mát rượi không hề thấy cái nóng ngòai kia, nhưng tuyệt nhiên không thấy một cái quạt hay máy lạnh nào. Cách sắp đặt cũng thật đặc biệt, bàn ghế gỗ cẩn xà cừ trông rất cổ kính. Những tiếp viên đẹp đến không ngờ, như tranh Tố nữ bước ra, ăn mặc xiêm áo ba tầng bảy lớp, tóc búi cài trâm giắt lược, tay chân đeo vòng nhạc mỗi cử động nghe leng keng rất vui. Tôi thầm nghĩ, Huế làm Festival, muốn phục dựng khung cảnh xưa để thu bút khách. Nhưng ý nghĩ của tôi bị lung lay khi các thức ăn được dọn ra, tôi là nhà nghiên cứu văn hóa, nên có chút hiểu biết về cổ vật, tôi không thể tin vào mắt mình, tất cả đồ sứ gia dụng, cốc, chén, bát, đĩa là đồ cổ chính hiệu mang tên đồ sứ men lam đặc trưng của thế kỷ mười sáu, mười bảy, cả đôi đũa ngà được chạm trổ tinh xảo như tác phẩm nghệ thuật cũng phải có tuổi vài trăm năm. Tiếp thị đến mức này có quá đáng không hay đây là "giả" tinh vi, khéo léo. Nhưng không, tôi cầm lên xem kỹ. Nó hòan hảo và hòan tòan thật. Còn thức ăn, tôi chưa bao giờ được ăn những món lạ và tuyệt ngon đến thế, dù tôi không phải người sành ăn nhưng rõ ràng đây là những món chưa từng thấy trong các thực đơn nhà hàng nào. Nàng ngồi bên tôi, gần như không ăn gì, chỉ gắp cho tôi thức này đến thức khác và tủm tỉm cười mỗi khi tôi buột lời khen. Tách trà sau bữa ăn là một thứ danh trà có lẽ lần đầu tôi được uống. Nước xanh vị ngọt và hương thơm như của muôn lòai hoa hòa quyện, uống đến đâu người thấy sảng khóai, thanh thóat lạ lùng. Chưa hết dư vị của tách trà, đã thấy một cô tiếp viên xiêm áo lả lướt bước tới cười tươi:"Rất lâu rồi bọn em mới được chị tới thăm, hôm nay chị có khách quí, có chi thất lễ và chưa ưng ý, chị bỏ qua". Cô quay sang tôi nháy mắt: "Khách quí...Cảm ơn đã chiếu cố". Tôi chưa kịp phản ứng gì, thì nàng đã kéo tôi đứng dậy: "Đi anh". "Nhưng còn thanh tóan?". "Đừng bận tâm". Thấy tôi còn băn khoăn, nàng cười: "Anh ni lạ rứa". Chỉ thế thôi mà tôi thấy yên lòng. Nhất định tôi sẽ giới thiệu cho mọi người biết về tiệm ăn này.
Nàng hỏi tôi: "Ngày mai anh đi đâu?". Tôi nói nàng muốn đi ngắm mây Bạch Mã, nàng hớn hở: "Ôi...Nhà em ở đó...Em đưa anh đi" và nàng líu lo một khúc hát rất lạ, giai điệu cũng lạ lắm, tôi chỉ biết là rất hay. Mà cũng kỳ, ở nàng có gì đó không giống các cô gái thời nay. Nàng không thích đến những nơi như quán café nhạc, nàng có vẻ xa lạ với những vật dụng thời thượng như điện thọai di động, nàng thờ ơ với những cửa hàng thời trang và rất thích thú khi xem bộ trang phục cung đình trong triển lãm. Trang phục đi với tôi là áo dài một màu tím nhạt như sương. Với những thông tin như nhạc trẻ, hay các trào lưu văn hóa du nhập vào Việt Nam, nàng gần như không hiểu biết gì, nhưng nói tới văn hóa xưa, lịch sử, kể cả âm nhạc cung đình nàng say sưa nói với vốn kiến thức mà ngay cả tôi cũng thua kém và thấy mình còn thiếu hiểu biết hơn nàng.

Sáng ngày đi Bạch Mã, tôi mượn chiếc xe gắn máy và phóng thẳng một lèo đến chân núi khi trời còn mờ sương. Nàng nói, nhà ở núi Bạch Mã, tôi định đi lòng vòng hỏi thăm, chưa đi được vài thước, tôi đã thóang ngửi thấy mùi hương thơm, mùi của nàng, rất riêng không giống mùi nước hoa. Và nàng, không biết đi từ hướng nào, đã thấy đến cạnh tôi, gọn gàng trong bộ đồ đi núi của người dân tộc, nhìn đẹp và lạ với những hoa văn thêu khá cầu kỳ như bức tranh. Nàng đeo một cái túi nhỏ cùng màu áo cũng đẹp và lạ không kém. Nàng leo lên xe, ôm lấy tôi và giục: "Đi anh...". Tôi nhìn lên chiếc barie chắn ngang đường lên núi, người gác có lẽ chưa thức, vì có ai lên núi sớm như tôi. Tôi lại nghe giục phía sau "Đi anh". Cái barie đã kéo lên cao, tôi rồ máy xe chạy qua, không kịp thắc mắc hình như không có ai ở đó. Đường lên đỉnh Bạch Mã ngoằn nghoèo, dốc, hơi khó đi, xe tôi gài số hai, bò lê ậm ạch, nhưng được một lát tôi có cảm giác xe đang chạy trên đường bằng, dù đường vẫn ngoằn nghoèo, hết dốc này đến dốc khác... Mặt trời đã lên, cảnh vật hai bên đường núi đẹp quá. Vừa chạy vừa ngắm, chẳng để ý gì đến đường đi xe chạy như thế nào. Những con thác nhỏ từ trên núi đổ xuống giống như những dải mây trắng, bắn vô vàn hạt nước li ti, lóng lánh phản chiếu ánh nắng như một tấm màn voan dát kim cương. Con thác trượt trên các phiến đá ngắt từng đọan như cụm mây trườn xuống, những vạt rừng đỏ rực hoa đỗ quyên, cùng hàng đàn bướm đủ màu bay lượn như vườn hoa di động.
Chúng tôi dừng xe ngay nơi một con thác cao đổ xuống năm cái hồ, lạ một điều khi dòng nước vừa chạm mặt hồ, hình như dòng thác đứng lại, mặt hồ phẳng lặng hiền hòa, nước trong vắt, nhìn thấy hàng ngàn con cá đủ màu bơi lội tung tăng. Cây cối nơi này rất cao thẳng, tán lá rộng , rợp mát. Đúng là tiên cảnh. Tất cả những nơi này đều là điểm tham quan du lịch của Bạch Mã, không ai lên đây không đến chiêm ngưỡng. Nhưng sao tôi có cảm giác khang khác, cảnh vật có vẻ lung linh kỳ ảo hơn những gì tôi đã nghe qua hay xem qua từ sách báo, phim ảnh. Nơi này đẹp nguyên sơ mang chút hoang dại như chưa hề có bước chân người qua lại.
Một cảnh tượng thần tiên. Nàng Hương Phong của tôi, đẹp như tiên nữ đang nhảy múa trên bãi cỏ xanh mượt, giữa hàng vạn cánh bướm dập dờn lộng lẫy sắc màu, xung quanh là bầy chim trĩ xòe cái đuôi có những chấm sao lóng lánh, rồi mấy chú nai, hoẵng nhịp nhịp gõ chân, trên cao cơ man nào là chim vừa bay vừa đậu đặc trên mấy cây cổ thụ véo von hót những giai điệu bất tận âm vang cả rừng núi. Đúng là một đại cảnh rừng hoang tuyệt đẹp. Tôi gần như nín thở, chỉ sợ động đậy là mọi cái tan biến. Không có gì để nói lên cảm xúc lúc này bởi sự kỳ vỹ của vẻ đẹp Bạch Mã, thiên nhiên con người hòa vào nhau. Và cũng không thể ngờ, nàng không cho tôi đứng yên để ngắm, nàng kéo tôi vào vũ điệu thiên nhiên hoang dã đó. Cảm xúc được thăng hoa tới tận cùng. Tôi- nàng- Bạch Mã khắc dấu trong tôi không phai được. Và nàng, thêm vào hương vị rừng bằng một bữa ăn mà tôi không thể biết đã được chuẩn bị như thế nào, nhưng điều làm tôi kinh ngạc là tất cả những đồ để đựng thức ăn đều bằng loại đá ngọc với nét chạm nổi và hình dáng cực kỳ tinh xảo và lạ, tôi chưa hề thấy ở bất cứ đâu, hơn thế nó hoàn toàn rất cổ, không phải tuổi mấy trăm năm mà phải là mấy ngàn năm trở lên. Đặc biệt nhất là bình rượu bằng ngọc xanh biếc trong suốt, màu rượu cũng xanh như thế, uống vào, hương thơm như theo từng mạch máu lan tỏa khắp người, cảm giác dễ chịu thư thái thoát tục. Nàng đã đem lại cho tôi những giây phút ngọt ngào kỳ lạ nhưng cũng đầy thơ mộng.

Từ Bạch Mã trở về, tim tôi thật sự không còn bình yên nữa. Tôi đã thành con người khác. Hình ảnh nàng choán hết trong tôi, ngự trị trong tôi. Tôi đã yêu... Một tình yêu "sét đánh", không lý giải được. Nàng và cái tên Hương Phong cùng mùi hương thơm rất lạ rất riêng của nàng ám ảnh tôi không chỉ vì cái buổi đầu tiên ở nhà Thế Miếu mà như từ tiềm thức. Nàng vẫn còn nhiều bí ẩn, luôn mang cho tôi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, hình như ở nàng ẩn dấu cả bí mật kinh thành Huế. Những nơi nàng đưa tôi đến đều hết sức lạ lùng, không hề có dấu vết đổ nát, phôi phai của thời gian, nhưng rõ ràng là ở một thời xa xưa hàng mấy thế kỷ. Nhưng tôi không hề để ý điều đó. Được gần bên nàng cảm giác thật dễ chịu, như tôi và nàng gắn kết với nhau. Trong tôi không hề nghĩ sẽ phải xa nàng...

Festival kết thúc, tôi phải trở về nhà với công việc nghiên cứu đang đợi tôi. Ngày cuối ở Huế với tôi thật ngắn, tôi không muốn xa nàng và nàng cũng cảm thấy thời khắc chia tay, gương mặt xinh đẹp của nàng gợn nét buồn làm tim tôi cứ nhói lên. Tôi tự an ủi mình. Đây chỉ là cuộc chia tay tạm thời, thời này khoảng cách địa lý đâu có là trở ngại. Đêm cuối, khi ôm xiết nàng trong vòng tay, hôn lên môi mắt nàng, tôi vẫn nghĩ tôi sẽ gặp lại nàng sớm nhất khi có thể. Tôi không nghĩ đó là lần cuối tôi được bên nàng.

Sáng hôm sau, cứ ngỡ nàng sẽ đến gặp để tiễn tôi đi, tôi đã đợi nàng ở trên cầu Tràng Tiền, đứng nơi tôi và nàng hay dừng chân ngắm sông Hương. Đợi rất lâu... sắp tới giờ phải về khách sạn trả phòng ra ga. Không thấy nàng. Bấy giờ tôi mới chợt nhớ là tôi chưa hề biết địa chỉ của nàng. Thật lú lẫn. Làm sao đây? Tôi bối rối và tự trách mình. Một làn gió thổi qua. Mùi hương của nàng... Tôi dáo dác nhìn. Từ phía xa có một chú bé bán báo dạo đang đi về phía tôi... "Thưa cậu... có một cô nhờ con đưa vật ni". Tôi chưa kịp nói hỏi gì, đã thấy chú bé vụt đi rất nhanh. Trên tay tôi là một chiếc hộp gỗ chạm tinh tế có vẻ rất xưa, tỏa mùi trầm. Tôi mở ra. Một chú rùa nhỏ và một lá thư..."Anh yêu... Đành phụ tình anh... Giữa hai ta là khoảng cách không thể vượt qua. Hãy quên em và cầu chúc anh hạnh phúc. Gởi anh chú rùa Bạch Mã, bạn em nay là bạn anh...- Hương Phong". Tim tôi muốn ngừng đập, cổ muốn nghẹn lại... Không thể... Tại sao... Đêm qua... Nàng có nói gì, tỏ ý gì đâu... Hương Phong... Một làn gió thoảng mùi hương của nàng. Tôi run lên. Bất chợt lá thư trên tay tôi vuột bay xuống dòng sông. Tôi muốn hét to lên gọi nàng nhưng người cứ như mất trọng lượng. Tôi trở về với trái tim bị thương mà không hiểu vì lẽ gì.

Tôi đã trở lại Huế nhiều lần. Tôi không thể quên nàng và những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi. Tôi đi tìm nàng. Hai năm trước, cũng mùa Festival, tôi lại đến Huế, nàng nói thích đi xem Hội, biết đâu tôi sẽ gặp nàng. Tôi ghé lại những nơi nàng đã đưa tôi đến. Cảnh vật hoàn toàn khác, chỉ là những hoang phế đổ nát, không lẽ mới vài năm mà đã bị tàn phá như vậy. Hay là tôi đã nhớ sai địa điểm. Ngay cả cái tiệm ăn cung đình kiểu cổ nàng đưa tôi đến ăn buổi trưa, tôi cũng không thấy, nơi đó là một khu vườn trống bỏ hoang. Tôi hỏi nhiều người, ai cũng lắc đầu "không biết", và họ còn nói ở đây chưa bao giờ có tiệm ăn, ở Huế cũng không có tiệm ăn nào như thế... Mùa hội năm nay tôi lại đến Huế, hy vọng tìm được nàng. Cách đây mấy ngày, tôi đến khu nhà vườn Huyền Không, vẩn vơ trong vườn, nhớ lại kỷ niệm xưa với nàng, trái tim cứ muốn thổn thức, nhoi nhói, không biết nàng ở đâu, ra sao...Gặp một ông cụ râu tóc bạc phơ, chợt muốn hỏi chuyện, những bí ẩn không tên, làm cho tôi không yên, cứ thắc mắc hoài. Tôi hỏi chuyện tiệm ăn, cụ nói thong thả: "Có đấy, nhưng là bốn trăm năm trước. Thời vua Minh Mạng, gặp hạn hán đói kém mất mùa, nghe lời khuyên, vua giải phóng cho vài trăm cung phi về với dân gian, để lập đàn tế Trời cầu mưa. Các cung phi mang danh "vợ Vua", ra ngoài khó sống quá, tập hợp lại mở một quán ăn chuyên nấu đồ ngự thiện để cho các quan trong thành đãi khách và các nhà quyền quý vương tôn hoàng tộc đến ăn... Trong sách sử có ghi chép về việc này". Một cảm giác mơ hồ trong tôi, lạnh cả sống lưng, tôi run run hỏi: "Ông có nghe một cái tên Hương Phong?". Và tôi thật sự toát mồ hôi lạnh khi nghe ông cụ nói: "Hương Phong là nàng tiên Gió của núi Bạch Mã. Một huyền thoại của cư dân vùng đó. Có điện thờ ở dưới chân núi...". Tôi không biết mình đang tỉnh hay mơ. Tôi quyết định đi Bạch Mã để tìm hiểu.

…Chú biết không? Bức tranh thêu ở dưới sảnh khách sạn chính là cái cảnh Hương Phong nhảy múa với bầy chim muông hoa bướm ở Bạch Mã, tôi vừa kể chú nghe... Tôi cũng dò hỏi người quản lý khách sạn này về bức tranh, họ nói, đúng là ở núi Bạch Mã cư dân thờ nàng tiên Gió. Đây là bức tranh thêu họa lại bức tranh thờ ở miếu dưới núi, do một nghệ nhân thêu tặng. Nàng tiên Gió là vị thần hộ mệnh cho vùng này. Tôi không tin. Nàng Hương Phong của tôi không thể là nàng tiên Gió... Tôi đã có biết bao nhiêu kỷ niệm, bao giây phút ngọt ngào êm dịu bên nàng... Nàng là thật không phải là gió... Nhất định tôi sẽ gặp được nàng...

... Tôi nghĩ anh đã say, tôi cũng say, nên không biết nói với anh thế nào. Câu chuyện của anh mơ màng, kỳ ảo, hơi hoang đường như trong giấc mơ. Có lẽ anh là một người đa tình và lãng mạn. Tôi dìu anh lên giường. Ngày mai chúng tôi sẽ có cuộc khám phá Bạch Mã.
Nhưng rồi, tất cả suy nghĩ của tôi bị đảo lộn. Sáng hôm sau, khi tôi xuống sảnh đưa khách đi tham quan Bạch Mã, hơi tò mò, tôi dừng lại ngắm kỹ bức tranh... Dường như tôi bị hoa mắt. Nhưng không, tôi chớp mắt mấy cái, rõ ràng nàng tiên nữ trong bức tranh bước ra đứng trước mặt tôi, mỉm cười và nháy mắt. Một làn gió thổi qua, trong sảnh rất kín không có cửa sổ hay lỗ hổng nào, và mùi hương thơm thật lạ... Tôi gai hết cả người. Không lẽ câu chuyện anh kể có thật. Có một nàng Hương Phong, một nàng tiên Gió. Thời đại này còn có những câu chuyện kỳ lạ như thế sao?
Và tôi kể lại như một câu chuyện cổ tích của núi Bạch Mã./.


HH

Trong tim tôi có một vị tướng

Trong Tim Tôi Có Một Vị Tướng

Hoài Hương


30.04.1975 - Hà Nội.

Tôi chỉ là một cô bé, bé như viên kẹo, sống ở phố lính - nơi tôi ở được người lớn gọi như thế... Vào buổi trưa đó, tôi thật ngạc nhiên vì thấy mọi người ôm nhau vừa nhảy vừa cười vừa khóc vừa hét to đến khản cổ: "Giải phóng rồi" "Giải phóng Miền Nam rồi" "Hoà bình rồi"... Mọi người cứ thế tuôn ra ngoài đường, nhà cửa mở toang hoang không thèm khoá, chẳng biết quen lạ gặp ai cũng ôm mà nói "Giải phóng rồi, hoà bình rồi". Không lâu sau, tôi nghe tiếng loa phóng thanh đọc cái gì đó mà tôi chỉ nghe được bằng đôi tai và trí óc non nớt của cô bé tuổi mẫu giáo hai chữ "giải phóng" "hoà bình", hệt những lời mọi người đang hét vang ngoài phố. Và một khúc nhạc rộn rã cứ lặp đi lặp lại "Việt Nam - Hồ Chí Minh". Vài ngày sau thì tôi biết và thuộc, hát bằng giọng ngọng nghịu bài hát này "Như có Bác trong ngày vui đại thắng". Tôi bé quá, không thể hiểu được tầm cỡ của sự kiện trọng đại này, nhưng nhìn những người lớn khóc cười reo vui, nghe tiếng nhạc âm vang trên loa phóng thanh suốt ngày, rồi pháo hoa, và từng đoàn người cờ hoa rợp trời, tôi biết đây là một ngày vui, ngày vui lớn lắm chưa từng có và không gì sánh được.
Ngày hôm sau, ba tôi đem báo về, chăm chú xem và trong mắt ba tôi thấy những tia lấp lánh vui và hình như có nước mắt. Tôi chưa biết chữ, chỉ nhớ góc tờ báo có ngôi sao năm cánh, tôi bắt chước ba cầm báo lên xem, trang báo có nhiều ảnh chụp và không hiểu sao, đập vào ấn tượng trẻ thơ của tôi là hình ảnh một người lính giải phóng quân, áo quần bụi bặm, vai khoác khẩu súng mũi hướng về một nhóm người, tay đặt tại cò súng, nét mặt hơi căng thẳng nhưng toát lên sự cương quyết và oai nghiêm, nhóm người kia mặt mày ủ rũ thiểu não có chút gì lo sợ. Không đủ trí để hiểu sự việc gì đang diễn ra trong tấm ảnh, nhưng hình ảnh người giải phóng quân đã in đậm trong trí óc tôi, như một chàng dũng sĩ trong những câu chuyện cổ tích đi diệt trừ ác quỉ. Cũng thật lạ, tấm ảnh đó cùng hình ảnh người giải phóng quân đã luôn hiện trong giấc mơ của tôi... Nhiều năm sau lớn lên, đi học, tôi đã biết ý nghĩa ngày 30.4.1975, tôi cũng được biết rõ nội dung tấm ảnh đã in trong đầu óc tôi ngày đó. Nó được đăng nhiều lần trên các báo mỗi khi đến ngày 30.4 hàng năm - Đó là hình ảnh cuối cùng của nội các chính quyền Sài Gòn, đang đầu hàng vô điều kiện quân giải phóng ở Dinh Độc lập trưa 30.4.1975. Và người giải phóng quân - chàng dũng sĩ thần thoại tuổi thơ tôi là một sĩ quan chỉ huy trẻ của một đơn vị xe tăng đánh chiếm Dinh Độc lập. Ông đã trở thành một chỉ huy cao cấp của một Quân khu chiến lược phía Bắc.
Ít tháng sau ngày 30.4.1975, ba đưa tôi vào Thành phố Hồ Chí Minh, quê hương của cha mẹ tôi. Và giấc mơ có hình ảnh người giải phóng quân - chàng dũng sĩ thần thoại của tôi vẫn thỉnh thoảng hiện về. Thật lạ. Tôi nhớ như in gương mặt đó, như được khắc dấu...

30.4.1995 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Tôi đã là một nhà báo, gương mặt trẻ của thành phố trong ngày lễ kỷ niệm 20 năm giải phóng Sài Gòn - thống nhất đất nước. Và như không thể tin được vào mắt, trên lễ đài, trước hàng ghế tôi ngồi ở khu vực báo chí, ngồi ghế danh dự chính là người trong ảnh - người giải phóng quân - chàng dũng sĩ thần thoại trong giấc mơ tôi, tuy có già hơn, nhưng trong bộ lễ phục tướng màu trắng, cành tùng trên ve áo, dây biểu chương vàng vắt ngang ngực, nụ cười thật tươi, đẹp ngời ngợi. Tôi muốn nghẹn thở vì hồi hộp... vội liên lạc với lãnh đạo xin phép một cuộc phỏng vấn "người trong mơ" - của tôi - khách danh dự của thành phố.
Không khó khăn mấy, tôi đã có được cuộc hẹn. Tôi gọi điện thoại đến nơi ông nghỉ để thống nhất giờ làm việc. Tất cả dũng khí được rèn luyện của con nhà lính, cũng như bản lĩnh nhà báo của tôi như bị mềm đi, tôi lúng túng lắp bắp không thể nói trọn vẹn một câu qua điện thoại.
- Dạ... thưa... Chú... Ông...
- Vâng! Tôi đây... Nào bình tĩnh... Phải cô nhà báo không?
- Dạ... cháu...
- Ta hẹn giờ nào có thể làm việc...
Đúng hẹn, tôi đến, đã thấy ông ngồi đó. 20 năm, kể từ ngày tôi nhìn thấy ông trong tấm ảnh trên báo Quân đội Nhân dân - sau này tôi biết tên tờ báo, từ giấc mơ thành hiện thực. Không hiểu sao tim tôi cứ đập loạn hết cả lên, nhìn tôi lúc đó chắc rất buồn cười, nhưng thật kỳ diệu, nụ cười ấm áp thân tình của ông làm tôi trấn tĩnh, cảm giác thân thuộc, quen biết như những giấc mơ có hình ảnh ông suốt 20 năm qua trong tôi. Tôi lại thêm một lần lúng túng không biết phải xưng hô thế nào với ông. "Chú", e già quá vì nhìn ông còn rất trẻ so với tuổi, kêu "anh" thì có vẻ mạo phạm và không thích hợp vì ông có lẽ phải gấp đôi tuổi tôi. Một chút lóe lên trong tôi, tôi nhớ đến câu chuyện "Con gái viên đại úy" của văn hào Puskin, có một kiểu xưng hô rất hay... Tôi quyết định gọi "ông" xưng "em". Ông lắc đầu cười nhìn tôi, nhưng không tỏ ý gì phản đối.
Cuộc phỏng vấn tiến hành thuận lợi, hoàn tất. Tôi không thể ngờ một người lính chiến - một vị tướng chuyên về chiến thuật đánh trận ở chiến trường như ông lại có cách nói chuyện lôi cuốn và thật sự hấp dẫn, diễn đạt rất hay, ngôn ngữ chuẩn xác giàu hình tượng. Tôi chợt nghĩ, nếu như không phải đất nước có chiến tranh, thì có lẽ ông sẽ là một nhà văn. Rồi không thể kìm giữ, tôi buột nói ra ý nghĩ đó, ông cười to.. "Cô bé ơi, thế thì cả thế hệ chúng tôi thành nhà văn hết".
Đêm đó về nhà, trong tôi cứ lâng lâng chếnh choáng giống người uống rượu không quen, một cảm xúc khó tả, tôi nằm ôn lại từng chi tiết, nhớ lại từng câu nói nụ cười của ông, hình ảnh trong giấc tuổi thơ tôi đã thật sự có hình hài. Và bây giờ không phải là chàng dũng sĩ thần thoại, mà là một vị tướng vừa kiêu hùng vừa phong nhã đầy hấp lực trong những giấc mơ con gái của tôi...

Một năm sau, cũng đúng ngày 30.4, nhà báo Ngọc, một trong những nhà báo đầu tiên có mặt trong Dinh Độc lập trưa 30.4.1975, điện thoại cho tôi, nói có một người quen muốn gặp.. Không nghĩ ra là ai, tôi lơ đễnh cầm máy chờ đầu dây bên kia.
- Alô... Chào cô bé nhà báo... Tôi bỗng run lên lắp bắp:
- Ôi... Ông... em...
- Cô bé vẫn thế... nào bình tĩnh...
Tôi không nhớ mình đã nói những gì với ông, một bất ngờ, một niềm vui... Từ sau cuộc phỏng vấn 30.4 năm trước, đã nghĩ không biết bao giờ mới gặp lại ông... Ông vẫn còn nhớ đến tôi, gọi điện thoại cho tôi. Tim tôi lỗi nhịp. Đêm đó, tôi thao thức, nhớ lại từng câu nói của ông, nhưng khác hơn một năm trước tôi đã có số điện thoại của ông với một lời mời: "Khi nào có dịp ra Hà Nội công tác, báo cho biết đón lên chơi nơi đóng quân". Còn ông, ông cũng có được địa chỉ và số điện thoại của tôi. Có một chút xao động trong tôi. Những giấc mơ về ông nhiều hơn.
Không lâu sau, tôi nhận được một lá thư dán con tem quân đội, địa chỉ người gửi là Hộp thư số 1A..., linh cảm đó là thư ông làm tôi hồi hộp, nhưng tôi không vội mở, muốn để dành đến đêm, khi tất cả mọi việc trong ngày hoàn tất, tôi muốn có cảm giác trọn vẹn của lần đầu đọc thư ông...
Một lá thư ngắn, độ mươi dòng, với nét chữ chân phương rõ ràng. Ông hỏi thăm công việc của tôi, nói có nghe vài chương trình tôi làm về quân đội trên sóng phát thanh và khen, ông còn tỏ ý lo ngại sức khoẻ của tôi vì trông mảnh mai quá làm nhà báo đi nhiều sẽ vất vả... Một lá thư thăm hỏi rất bình thường nhưng với tôi từng câu từng chữ làm cho tôi xúc động, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần, như cố tìm thêm những gì đằng sau mấy dòng chữ ngắn ngủn kia... Và ngay trong đêm tôi viết gửi ông một lá thư dài, dài chưa từng có của tôi cho đến lúc ấy. Tôi kể ông nghe chuyện về giấc mơ "dũng sĩ thần thoại" 20 năm trước, tôi kể ông nghe cảm xúc của tôi khi gặp ông lần đầu - đối diện người trong ảnh và trong mơ...
Thế rồi, từ đó tháng nào tôi cũng nhận được thư ông, những lá thư có độ dài tăng dần theo thời gian, những lá thư dán con tem quân đội. Qua các lá thư, tôi đã có ít nhiều hiểu biết về ông, ông không còn là một hình ảnh mơ hồ trong những giấc mơ của tôi ngày xưa, mà ông đang hiện diện bên tôi. Ông kể trong thư về làng quê nơi ông sinh ra, một làng quê êm đềm rất đặc trưng của đồng bằng châu thổ sông Hồng, có con sông quê tắm đẫm tâm hồn trẻ thơ quê ông, có những ngôi chùa tĩnh lặng trầm tư thâm nghiêm dưới bóng rợp của các cây si, cây bồ đề cổ thụ, có đình làng thờ thần hoàng linh thiêng và những hội làng đầy náo nhiệt màu sắc y hệt trong cổ tích. Ông cũng kể tôi biết về thời niên thiếu đầy gian nan vất vả, chính những tháng ngày khổ cực khó khăn đó đã rèn cho ông nghị lực và sức chịu đựng để sau này nhập ngũ, vào chiến trường, đối diện với cái chết - sự sống trong gang tấc giữa các cuộc chiến đấu khốc liệt ngoài mặt trận, ông đã vượt qua được...
Tôi say sưa đọc thư ông, nhớ từng câu chuyện ông kể qua thư, những câu chuyện chiến đấu như huyền thoại, sống động và hấp dẫn, những câu chuyện còn hay hơn thần thoại về việc di chuyển đội hình xe tăng đảm bảo bí mật bất ngờ suốt dọc đường Trường Sơn, cả xe lẫn người hoà vào rừng cây, hoà vào màu đất đỏ... Tôi dù đã đọc và xem phim về những chiến dịch xe tăng ta đánh giặc, nhưng khi đọc thư ông kể về cuộc chiến đấu của xe tăng quân chủ lực ở chiến dịch Khe Sanh 1969, lần đầu tiên khi những chiếc tăng mang trên mình ngôi sao năm cánh màu lửa xuất hiện đã làm bọn Mỹ bị bất ngờ choáng váng, các chiến thuật của chúng đều bị vô hiệu hoá tê liệt dưới sự tấn công dũng mãnh của xe tăng ta, đưa đến sự thất bại về chiến lược của Mỹ ở Tây Nguyên và chiến trường Miền Nam. Tôi thấy như hiện ngay trước mắt mình cuộc chiến đấu của xe tăng ta đang lao mình trong khói lửa, truy kích bọn giặc Mỹ, nghiền nát các căn cứ địch... Và nổi bật lên là ông người chiến sĩ người chỉ huy xe tăng... Ông là người thật việc thật, nên thư ông kể lại sinh động hiện thực hơn tất cả. Ông không chỉ kể về chiến thắng, ông còn viết cho tôi về sự mất mát hy sinh, lời thư của ông hình như cũng nghẹn ngào khi nói về những đồng đội đã hy sinh trước cửa ngõ Sài Gòn trưa 30.4.1975, người lính đã hy sinh trước cửa Dinh Độc lập chỉ vài phút trước khi lá cờ quân giải phóng tung bay trên nóc Dinh...
Ngược lại với thư ông, thư tôi viết gửi ông toàn những vụn vặt đời thường đôi khi có vẻ trẻ con, tôi viết lan man lung tung, và hình dung khi ông đọc thư tôi chắc ông sẽ rất buồn cười. Cũng có khi tôi viết về những suy nghĩ của mình trước hiện thực cuộc sống, tôi không lý giải được nhiều điều. Và ông, qua những câu chuyện mà chính ông trải nghiệm và kiến thức cuộc đời nhân tình thế thái, thực tế và sách vở xưa nay, ông đã cho tôi lời giải đáp. Tôi nhờ ông mà có cái nhìn đúng đắn về con người, xã hội, không bị giao động trước sự thay đổi của các trào lưu nhập ngoại đối với giới trẻ, đặc biệt ông giúp cho tôi trong công việc nhà báo những ý kiến rất giá trị về cách tiếp cận vấn đề, đối tượng để phản ánh chính xác, đạt hiệu quả...
Mà cũng lạ, giữa hai chúng tôi, trong những bức thư không hề có một lời nào bày tỏ tình cảm kiểu như "nhớ", "mến"... nhưng hình như chúng tôi hiểu nhau rất nhiều. Thư ông không chỉ đơn thuần là chuyện lính, mà còn rất nhiều điều về quan niệm sống của ông, ông hay viết câu: "quá khứ để hồi tưởng, hiện tại để nếm trải, tương lai để ước mơ". Và tôi nghĩ về ông không chỉ là một vị tướng oai dũng chỉ biết đánh trận mà là một người đàn ông từng trải rất phong phú về tâm hồn, trái tim ông là trái tim rất nhạy cảm đầy nhân ái bao dung, chiến tranh không hề làm ông chai lì cảm xúc. Chúng tôi viết cho nhau như hai người bạn - nhưng riêng tôi, tôi cảm thấy trong tôi càng ngày càng khác lạ khi viết cho ông. Tim tôi thật sự không nằm yên nữa khi nghĩ về ông. Tôi muốn bóng gió tình cảm của mình, song có gì đó làm tôi ngập ngừng. Có lẽ ông luôn chừng mực và có một khoảng cách với tôi dù rất mơ hồ. Tôi bắt đầu đem ông ra so sánh với những người con trai xung quanh tôi. Cho tới giờ này, tôi vẫn chưa có một tình yêu với bất kỳ ai, tim tôi im lặng trước mọi lời tỏ tình. Và mỗi lần nghĩ, nhớ tới ông thì đập nhanh đến khó hiểu. Tôi cảm giác hình như thầm yêu ông...

Thế rồi tôi cũng có dịp ra Hà Nội công tác. Trước khi đi tôi điện thoại báo ông biết. Cảm nhận trong giọng nói ông qua điện thoại có gì đó rất vui dù chỉ là những lời rất giản đơn, song tôi nghĩ linh cảm con gái không đánh lừa tôi. Công việc hoàn tất nhanh hơn dự định. Tôi đến nơi ông cùng một người bạn đồng nghiệp - biết đường đi. Nơi ông ở và đảm trách nhiệm vụ chỉ huy cao nhất là một vùng đất trung du đẹp hơn cổ tích. Vào lúc tôi đi, là mùa thu, phong cảnh hai bên đường đẹp như tranh vẽ, những cánh đồng lúa xanh mượt đang thì ngậm đòng thơm hương, xa xa là dải núi xám mờ, dòng sông uốn lượn như dải lụa bạch ôm lấy chân núi, nắng vàng như mật ong phủ trên mấy quả đồi ngắt xanh chè, cọ, bầu trời xanh cao trong vắt. Ông đón chúng tôi ngay ngoài phòng trực ban Quân khu bộ. Vừa nhìn thấy ông, không hiểu sao tôi lại bối rối, chẳng thốt lên nổi câu chào, cứ ngây người nhìn ông. Kể từ ngày 30.4 gần 2 năm tôi mới được gặp lại ông bằng xương bằng thịt, chứ không phải là những dòng chữ "sứ giả". Trong bộ quân phục hàng ngày gọn gàng, nụ cười ấm áp, giọng nói trầm vui vẻ, ông vẫn y hệt ngày gặp nhau ở thành phố của tôi, một vẻ đẹp đầy hấp lực toát ra từ ông không tả được, chỉ cảm nhận mà thôi.
Đêm ấy, sau khi ông cho tôi và người bạn tham dự buổi sinh hoạt văn hoá văn nghệ của lính trẻ mới nhập ngũ, trong tôi còn đầy ắp cảm xúc về những người lính, và rất gần... ngay sát phòng nghỉ Quân khu bộ là phòng làm việc và phòng nghỉ của ông. Tôi không sao ngủ được, lạ chỗ chỉ là chuyện nhỏ với cánh nhà báo, mà là vì trái tim tôi không muốn ngủ, cứ thao thức không yên, đêm trung du, vào mùa trăng đẹp liêu trai sương khói, nhìn ra ngoài trời mờ mờ ảo ảo lung linh... tôi vùng dậy khoác thêm áo ra ngoài, định dạo một chút ở khuôn viên dưới trăng sương trung du, để thả hồn cho những mơ mộng. Bất chợt tôi giật mình, ông ngồi ở ngay chiếc ghế gần phòng tôi từ bao giờ, tôi bỗng hồi hộp đến nghẹn thở, phải cố hít sâu mấy cái để trấn tĩnh.
Tôi có một đêm không thể quên. Trăng thượng tuần thung du phủ tấm voan mỏng sáng bạc xuống màn đêm, sương rơi khẽ trên lá cây trong sự yên tĩnh lạ lùng, tôi ngồi bên ông thật gần, như nghe được hơi thở của nhau, cả hai không nói với nhau câu nào nhưng hình như lại cảm thấy nói với nhau rất nhiều, không phải một vị tướng chỉ huy Quân khu và một cô bé nhà báo, mà như hai người tri âm tri kỷ. Thật lâu, không biết lâu đến đâu, ông phá tan không khí tĩnh lặng bằng giọng nói trầm hơi khàn:
- Nói gì đi chứ... im lặng mãi thế này sao?
- Em muốn được nghe ông nói... nói gì cũng được.
- Nói gì bây giờ...? Giọng ông trầm hơn:
- Mỗi người lính đi qua chiến tranh đều mang một vết thương, một nỗi buồn.
Và rồi ông kể cho tôi nghe vết thương của ông - nỗi buồn của ông, trong những lá thư gửi tôi ông chưa hề viết về nó. Đó là sự mất mát, và cả sự hy sinh của những người lính từ cuộc chiến trở về. Người vợ của ông, do một thông tin nhầm lẫn tưởng rằng ông đã hy sinh, đã đi lấy chồng sau 3 năm để tang thờ ông chăm sóc mẹ chồng. Ông càng buồn hơn và càng đau đớn hơn khi biết người vợ của ông không được hạnh phúc vì gặp người chồng sau quá ích kỷ luôn dằn vặt ghen tuông với quá khứ nhất là khi biết ông còn sống trở về. Ông không biết làm sao, để dành lại người vợ thì không thể, nhưng phải chứng kiến cuộc sống đầy nước mắt của bà, trong lòng ông như bị dao cứa nát đứt từng đoạn, ông luôn cảm thấy có lỗi với người vợ dù thật sự không phải do ông tạo nên. Là nỗi buồn chiến tranh. Chỉ có công việc, những bận rộn của chiến dịch huấn luyện, tập trận, những kế hoạch tác chiến phòng thủ... thuộc việc quân là làm cho ông khuây khoả, cho ông tạm quên.
Tôi lặng người nghe... Thương ông quá. Những tưởng một người lính đi qua chiến tranh với nhiều chiến công, ngực đầy huân chương, mang quân hàm tướng, sống trong vinh quang như thế, không thể có những nỗi đau "đời" như vậy. Trong mắt tôi lúc này, ông không còn là một vị tướng kiêu dũng mà là một người đàn ông có nhiều tâm sự cần được chia sẻ. Tôi không biết nói gì với ông, nhưng trong tôi trào dâng cảm xúc, tôi nắm tay ông..., phút giây đó hình như cả hai chúng tôi cảm thấy một cơn chấn động..., chúng tôi thật gần, một sợi dây vô tình nối hai người.

Tôi trở về thành phố phương Nam, với một trái tim không còn bình yên như trước, tôi luôn nghĩ đến ông, nhớ đến ông, trong những giấc mơ của tôi có lúc ông là một chàng trai trẻ, lúc là vị tướng tóc hoa râm lẫn lộn. Không lẽ tôi yêu ông thật rồi? Tôi không thể xác định gọi rõ tên tình cảm của tôi đối với ông. Những lá thư của tôi gửi ông ít đi những chuyện trẻ con, tôi thi thoảng dùng chữ "nhớ" để bóng gió nói tình cảm của tôi với ông. Thư ông gửi lại vẫn như trước, chân tình nhưng không có một ý nào liên quan đến chữ "nhớ" của tôi, cảm giác ông tránh né hay ông thật sự không để ý. Ông đối với tôi như một người cha, một người anh, người bạn không hơn.
Thư ông gửi tôi dày lên thành một chồng trong ngăn kéo riêng tôi dành cho ông, tôi nghĩ đến ông cũng nhiều hơn, hình ảnh ông choán hết trong tôi không còn chừa chỗ cho ai khác xen vào. Mọi người lấy làm lạ lắm, cứ thấy tôi đi về một mình không hẹn hò ai, bạn bè vài người mai mối giới thiệu, nhưng rồi mỗi khi gặp họ tôi lại nghĩ đến ông và thấy họ vô vị tẻ nhạt, cuộc sống của họ quá giản đơn và ít ý nghĩa, vài lần họ chán và tôi cũng chán nên chấm dứt, bạn bè nản luôn mặc kệ tôi. Dần dần thú vui của tôi sau giờ làm việc, nếu không lang thang nhà sách thì tôi lại đem thư ông ra đọc, đắm mình vào những trang thư và hình dung mình đang được sống cùng thời với ông, vui buồn cùng ông. Tôi nhớ ông, nỗi nhớ cồn cào nôn nao... Tôi yêu ông??? Tôi muốn hụt hơi khi nghĩ đến đó. Người ta có thể yêu một người lớn tuổi hơn mình thật nhiều, có thể yêu một vị tướng đầy chiến tích vinh quang thời chiến tranh. Và rồi ông... ông có tình cảm gì với tôi, yêu như tình yêu trai gái, hay thương như một cô em gái, một cô bé con như trong các lá thư ông viết cho tôi, ông có vượt được qua khoảng cách tuổi tác, địa vị xã hội mà sống cho tình yêu nếu có... Tim tôi loạn nhịp. Không kìm nén nổi lòng mình, tôi viết một lá thư dài, rất dài, chẳng nhớ bao nhiêu trang gửi ông. Tôi viết về kỷ niệm ngày thơ, tôi viết về cảm nghĩ khi lần đầu gặp ông, tôi kể ông nghe những giấc mơ có ông và những mộng mị lãng mạn, tôi nhắc lại đêm trung du phương Bắc, tôi và ông thật gần nhau... Tôi bày tỏ tình cảm không là chữ "nhớ", mà hơn thế. Tôi nghĩ ông sẽ hiểu, ông sẽ đón nhận, chúng tôi thân thiết đến thế mà. Gửi đi rồi, bỗng dưng tôi lo sợ, nếu ông chối từ, nếu ông cho là tôi trêu đùa... Tôi phấp phỏng chờ đợi... một tuần, hai tuần, rồi một tháng trôi qua không thư ông, tôi hơi buồn buồn, định gọi điện thoại, nhưng không đủ can đảm, lại chờ đợi trong hồi hộp. Chờ mãi đến lúc tưởng chừng cạn kiệt sự kiên nhẫn thì thư ông tới. Tôi run run mở, áp lá thư vào ngực nhắm mắt thầm cầu mong nó đem lại cho tôi niềm hạnh phúc như mơ ước... Nhưng tôi không thể đọc hết lá thư dù chỉ có một trang giấy. Ngay từ những dòng đầu ông viết: "... Tôi hiểu tình cảm vô giá dành cho tôi, tôi rất cảm động và trân trọng, nhưng tôi không thể... không chỉ là khoảng cách tuổi tác hay vị trí xã hội mà vì trái tim tôi đã nguyện cống hiến cho cuộc đời quân ngũ. Tôi không còn thời gian để có thể bắt đầu... Hãy nghĩ đến tương lai đang rộng mở của tuổi trẻ. Đừng vì tôi..."
Như một đứa trẻ bị đánh đòn oan ức, tôi bật khóc tức tưởi. Ông làm tim tôi đau, tôi như chơi vơi, trong tôi ông đã chiếm địa vị độc tôn, những lời trong thư ông làm tôi hụt hẫng. Tôi buồn suốt một thời gian dài, như kẻ thất tình, không viết thư gửi ông. Nhưng rồi chỉ một thời gian sau bình tâm lại, tôi và ông lại trở lại vạch xuất phát, thư tôi và ông đều đặn gửi cho nhau như trước và cả tôi lẫn ông như cố tình quên đi hai lá thư kia. Tôi vẫn luôn nằm mơ thấy ông, nhưng tôi không kể về những giấc mơ đó, tôi giữ riêng ông trong tôi, và tôi không thể yêu ai, tôi không đẩy ông ra khỏi trái tim tôi được. Hình ảnh ông hằn sâu, sống trong tôi...

30.4.2005 - Thành phố Hồ Chí Minh.

30 năm thành phố tôi cùng cả nước kỷ niệm ngày giải phóng thống nhất Tổ quốc. Ông lại được mời làm vị khách danh dự của thành phố. Vẫn đẹp ngời ngời trong mắt tôi trên lễ đài. Vẫn làm tim tôi hồi hộp nôn nao xao động. Và khi tác nghiệp y hệt 10 năm trước, tôi vẫn lúng túng bối rối trước ông... dù tôi đã thật sự trưởng thành là người lớn không phải cô bé ngày trước. Khi những cuộc diễu hành biểu dương lực lượng và lễ kỷ niệm kết thúc, tôi gặp ông, giữa chúng tôi hình như có thật nhiều điều muốn nói, ánh mắt nhìn nhau nói lên tất cả, vì chúng tôi thật hiểu nhau, dù không gần nhau.
Đêm thành phố đầy sao, gió lồng lộng từ mé sông Sài Gòn thổi vào, tôi và ông ngồi ở sân thượng toà nhà cao nhất thành phố ngắm Sài Gòn lung linh trong muôn vạn ánh đèn màu. Rất gần nhau, như chính đêm trung du phương Bắc năm nào, vẫn im lặng thật lâu, nhưng hình như cả hai đều hiểu đang nghĩ về điều gì... Vẫn là ông phá tan sự im lặng.
- Mỗi người lính đi qua chiến tranh đều mang một vết thương một nỗi buồn.
Tôi thở hắt ra, như đêm phương Bắc lập lại. Giọng ông trầm xuống.
- Vết thương dù lành nhưng vết sẹo không lành được, mỗi khi trái gió nó lại tấy lên. Nỗi buồn cũng khó xoá, dù thời gian có trôi qua, nó vẫn luôn ám ảnh trong cuộc đời. Tôi là con người của quá khứ, nửa đời chinh chiến mang trong mình nhiều vết thương nhiều nỗi buồn. Tôi còn mắc nợ cuộc đời nhiều lắm, nợ với người đã khuất, nợ với người còn sống, nợ với chính mình. Trong tôi cũng có thật nhiều mâu thuẫn mà tôi không giải quyết được, nó làm tôi vướng vất, đau khổ. Tuổi trẻ của tôi đã qua rồi. Tôi hiểu chân tình dành cho tôi lớn lắm. Chúng ta hãy giữ mãi tình cảm trân trọng, yêu quí nhau như hai người tri kỷ thuộc về hai thế hệ...
Dù có thể đoán trước được những gì ông sẽ nói, tôi vẫn cảm thấy hụt hẫng. Trong tôi cứ trào lên những cảm xúc lẫn lộn tủi hờn, giận dỗi. Nhưng tôi không thể không nhận ra ông rất buồn, ánh mắt ông nói với tôi, ông không muốn nói những điều đó nhưng bắt buộc phải nói. Bản thân ông có những lời khác để nói với tôi.
Thế rồi tôi và ông kẻ Nam người Bắc, một già một trẻ, như hai người tri âm vong niên gắn kết với nhau bằng những lá thư xuyên Việt đầy tình cảm, nhưng không có một lời nào đề cập đến tình yêu. Ông vẫn luôn chúc tôi "có niềm vui", tôi hiểu ông muốn nói gì. Trái tim có tiếng nói riêng mà lý trí đôi khi không điều khiển được. Tôi đã qua tuổi 30, đã thật sự trưởng thành cả trong cuộc sống và nghề nghiệp, không ai có thể bắt tôi gạt bỏ hình ảnh ông ra khỏi tôi. Ông đã là hình ảnh in đậm trong tôi từ thời thơ ấu và khi lớn lên hình ảnh càng rõ nét, sâu đậm hơn. Không có người nào làm lu mờ hay thay thế ông trong tôi. Trái tim tôi qua thời gian thử thách, đã khẳng định tôi yêu ông, một tình yêu trọn vẹn, với tôi hạnh phúc không cứ phải được sống chung với nhau cả đời. Hạnh phúc vẫn đến, vẫn cứ tuyệt đẹp và xúc động, đó là hạnh phúc được nghĩ được nhớ về nhau. Tôi tin sẽ có một ngày chân tình của tôi sẽ làm ông cảm động. Trong tim tôi luôn có một vị tướng.

Vĩ thanh:

Tình cờ tôi được biết câu chuyện của cô nhà báo, và cũng thật tình cờ trong chuyến đi công tác lên miền trung du tôi được gặp ông tướng trong tim cô. Có lẽ cảm động vì câu chuyện tôi kể về cô cho ông nghe, có lẽ cần được chia sẻ tâm sự nặng trĩu, ông đã đưa tôi xem cuốn nhật ký. Mạn phép ông tôi trích vài đoạn, hy vọng cô nhà báo đọc được.

30.4.1995... Tôi gặp em, như một làm gió mát thổi vào tôi giữa vầu trời nóng nực mùa khô phương Nam. Một đôi mắt trong veo ngây thơ, một giọng nói Sài Gòn nhỏ nhẹ, một vóc dáng thanh xuân tươi trẻ và vẻ lúng túng bối rối... Tôi thèm được trở về tuổi 20.

Ngày... Tôi làm sao thế, tóc đã hoa râm nhưng lại vấn vương một cô gái nhỏ. Tôi nhớ em. Tôi hay mở đài, hy vọng được nghe em trên sóng phát thanh. Cám ơn nhà báo Ngọc. Tôi đã nối sợi dây với em. Những lá thư, sứ giả tuyệt vời của tôi. Em như một nàng tiên đang dần chữa lành các vết thương nỗi buồn trong tôi.

Ngày... Tôi cảm nhận được đằng sau câu chữ của em là tình cảm thiêng liêng, nhưng tôi sợ gọi tên. Tôi không dối lòng, trong tôi cũng đã nhen nhóm ngọn lửa. Nhưng tuổi tác tôi và em và còn bao nhiêu khoảng cách vô hình dư luận, xã hội... làm tôi do dự, tôi không thể. Số phận đang đánh đố tôi, thử thách tôi còn nghiệt ngã hơn ngày chiến tranh.
Đêm... Tôi biết tôi làm em buồn, thật ra tôi rất yêu em nhưng tôi không đủ dũng cảm thú nhận điều đó trước em. Tôi sợ tôi làm cuộc đời em khổ vì tôi không còn trẻ.
Đêm... 10 năm, em vẫn mang hình ảnh tôi trong em không phai nhạt. Tôi làm sao có thể thờ ơ được. Tôi không thể để em như thế. Trái tim tôi mách bảo, tôi phải dũng cảm lên, đến với em đáp lại chân tình của em, tình yêu của em dành cho tôi... Tôi yêu em.

H.H