Liên hoan phim quốc tế Việt Nam lần 1
Thước đo văn hóa ứng xử của những người làm văn hóa
Kể từ Liên hoan phim Châu Á-Thái Bình Dương năm 1999, thì Liên hoan phim Quốc tế Việt Nam lần 1- 1sVNIFF , vừa diễn ra tại Hà Nội từ 17-21.10.2010 là sự kiện điện ảnh được trông đợi nhất của những người làm điện ảnh và công chúng yêu điện ảnh VN suốt bao nhiêu năm qua. Nhưng không thể không“chạnh lòng” khi văn hóa ứng xử của chủ nhà đã không theo kịp tầm của sự kiện.
Khi chủ nhà chỉ ưu tiên chủ nhà
Nếu ai có theo dõi lễ khai mạc 1sVNIFF tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội và qua truyền hình trực tiếp vào 20 giờ ngày 17.10.2010, mới thấy sự không hiếu khách đến mức lạnh nhạt của nước chủ nhà.
Thảm đỏ được trải dài từ ngòai vào tới cửa Hội trường dài gần 400m, một chiều dài rất dài, hứa hẹn sự kiện thảm đỏ chắc sẽ long trọng, lộng lẫy và sôi động, hâm nóng bầu không khí của 1sVNIFF.
Nhưng, như người miền Nam hay hài hước:”Tưởng thế mà không phải thế, mà tệ hơn thế”. Công việc đón khách, theo truyền thống hiếu khách của người VN, làm gì thì làm cũng phải ưu tiên khách đến nhà mình. Nhưng cứ nhìn những gì diễn ra thì không khỏi buồn lòng những ai thật sự xem trọng văn hóa giao tiếp- nhất là ngọai giao.
Từ hai MC của VTV, gần như không làm gì ngòai “hét” tên các diễn viên, ca sĩ, hoa hậu…VN, những người khá quen mặt, còn thì những người bạn nước ngòai, trong đó có cả các vị khách quý của Venice, Cannes, Berlin, các vị trong Ban giám khảo là những nhà làm điện ảnh uy tín, những nghệ sĩ, đạo diễn thế hệ “khai quốc công thần” của nền điện ảnh VN thì gần như bị “quên”.
Không biết có phải hai MC không biết tên, không biết mặt, không kiểm tra xem khách tham dự là ai để có lời dẫn chính xác, nên “im lặng là vàng”. Các fan cổ động viên cũng theo sự nhiệt tình của hai MC. Gặp “người quen” thì vỗ tay reo hò, chụp ảnh, xin chữ ký đến nhốn nháo, còn khi gặp khách lạ cả bạn lẫn ta thì lẹt đẹt vỗ tay chừng vài tiếng cho có lệ.
Không người hướng dẫn, không có chủ nhà long trọng tiếp rước, khách bơ vơ trên thảm đỏ, lúng túng không biết phải đi đến tận đâu, làm gì, có ai cần chụp ảnh mình không, chưa kể MC nam còn kéo giật một minh tinh Trung Quốc phỏng vấn ngay tại thảm đỏ làm anh ta khá bối rối.
Các NSND của VN như “lão ông” Bùi Đình Hạc, đạo diễn “cây đa cây đề” Hải Ninh, bậc kỳ tài Đặng Nhật Minh… thì cứ tư nhiên mà sải bước trên thảm đỏ trong ánh mắt thơ ơ ngơ ngác của các fan hâm mộ, tai giả điếc khi nghe rất to những câu hỏi, câu trả lời không biết nên buồn hay vui:Ai nhỉ? Không biết.
Điều này không chỉ diễn ra trong đêm khai mạc mà còn cả vào chiều ngày 20.10.2010 ở Nhà hát TP.Hà Nội và sự kiện thảm đỏ đêm bế mạc 1sVNIFF ở Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình tối 21.10.2010.
Báo chí truyền thông thì sao? Cũng là “nhất bên trọng, nhất bên khinh”.
Dày đặc trên chuyên trang văn hóa của các báo in, báo điện tử, báo mạng và cả VTV, suốt 5 ngày diễn ra 1sVNIFF, chỉ thấy “ưu tiên” hình ảnh những diễn viên trẻ VN với các kiểu đầm dạ hội gợi cảm lộng lẫy, lễ phục nam sang trọng lịch thiệp, những cặp đôi diễn viên “hot” trong giới trẻ trên thảm đỏ, nhưng vắng bóng những người bạn quốc tế sang VN tham dự 1sVNIFF, ngọai trừ hai minh tinh Trung Quốc- vì hai anh quá quen với các bộ phim Trung Quốc được chiếu ở VN, và vài nhân vật được phỏng vấn.
Ban tổ chức có lẽ “lực bất tòng tâm” hay vì với một sự kiện văn hóa tầm quốc tế nên bị ngợp, đuối sức, không bao quát được, luôn bị động từ giờ giấc, địa điểm tới việc đón khách. Ngay trong đêm khai mạc, các thành viên của các Ban giám khảo đều được trân trọng giới thiệu, nhưng duy một người, không biết do vô ý hay do lý do gì mà MC đã quên không một lời xin lỗi, không giới thiệu Chủ tịch Ban giám khảo Philip Noyce, trong khi ông ngồi trên hàng nghế danh dự.
Buổi giao lưu với công chúng hâm mộ và phỏng vấn báo chí vào chiều ngày 20.10.2010, khi thảm đỏ được (hay bị) rút từ 700m xuống còn 150m, thì khách càng lạc lõng hơn trong không khí “ưu tiên ngươi nhà” của các fan hâm mộ (độ chừng hơn trăm người). Rồi khi vào phòng Gương của Nhà hát Lớn, với vài chiếc ghế, người thì vừa đông, vừa nhộn nhao: khách, diễn viên, nghệ sĩ, báo chí…nên nhiều đòan điện ảnh các nước lúng túng, không biết sẽ làm gì tiếp theo. Kết quả, đòan điện ảnh Pháp đã rút lui lặng lẽ, kéo theo vài đòan khác sau khi ngơ ngác nhìn trứơc ngó sau không thấy ai đóai hòai tới mình cũng âm thầm ra về.
Ban Tổ chức không chơi đẹp
Chiều ngày 17.10.2010, trong khuôn khổ 1sVNIFF, chương trình tôn vinh điện ảnh, NSND-đạo diễn Hồng Sến được đông đảo công chúng yêu điện ảnh và đồng nghiệp trong ngòai nước tưởng nhớ và tôn vinh sự nghiệp điện ảnh của ông. Bộ phim “Cánh đồng hoang” với các giải thưởng điện ảnh VN và quốc tế cũng được chiếu trong dịp này
“Chủ nhân” thì đã là người thiên cổ, nhân vật chính “Ba Đô” – diễn viên Lâm Tới cũng đã về “thế giới khác”. Song còn nhiều diễn viên, các thành viên khác góp phần làm nên thành công cho bộ phim này cũng như các bộ phim khác của ông như “Mùa gió chướng”, “Vùng gió xóay”, “Hòn Đất”… không thấy có mặt trong buổi tôn vinh. Đặc biệt là nhà văn Nguyễn Quang Sáng, người viết kịch bản như cặp bài trùng với đạo diễn Hồng Sến làm nên thành công của phim cũng vắng bóng.
Do Ban Tổ chức không mời? Sự vắng mặt của họ làm cho buổi tôn vinh trở nên ít ý nghĩa. Nói rộng hơn, nhìn vào số khách mời của 1sVNIFF, thấy thiếu vắng nhiều những thế hệ điện ảnh VN, trong khi quá thừa những diễn viên “tay ngang”, những diễn viên phim thị trường, phim truyền hình, hoa hậu, ca sĩ trẻ, chưa thật sự có nhiều đóng góp cho điện ảnh VN.
Ngay cả Liên hoan phim hay Cánh diều của VN, thì báo chí cũng được ưu tiên tác nghiệp tốt nhất. Nhưng trong 1sVNIFF có hai “hệ thống” truyền thông, một của BHD-nhà tài trợ, một của Cục Điện ảnh. Chưa kể số “phóng viên dự bị”- vừa là fan vừa là sinh viên báo chí được nhà tài trợ thuê làm tin. Thế là chồng chéo.
Tác nghiệp báo chí chưa khi nào bệ rạc như ở 1sVNIFF, báo chí không có chỗ tác nghiệp riêng ở sự kiện thảm đỏ, ở các rạp chiếu phim, ở các cuộc giao lưu… nên cứ “tự mình cứu mình”. Chạy, chen, ngồi bệt dứơi đất, vừa chạy vừa chen vừa chụp, vừa thở hổn hển vừa dí micro vào nhân vật phỏng vấn… Miễn là được việc.
Lại còn có cả việc phỏng vấn “kín”, chỉ vài báo được ưu tiên phỏng vấn nhân vật, hay tranh giành phỏng vấn, để cuối cùng một nhân vật, như Trưởng ban giám khảo phim truyện nhựa Philip Noyce đành “nhất cử, nhiều tiện” phải trả lời phỏng vấn tập thể báo chí.
Và có hay không sự thiếu công bằng của Ban tổ chức lẫn của báo chí truyền thông VN khi tiêu chí của 1sVNIFF là giới thiệu nền điện ảnh Châu Á-Đông Nam Á, phim dự thi cũng là của Châu Á?
Ngòai các nhân vật nổi tiếng như các giám đốc của Cannes, Venice, Pusan, Berlin…, đạo diễn trong Ban giám khảo, các nhà làm phim của điện ảnh Pháp được các phóng viên quan tâm, xem ra điện ảnh châu Á- Đông Nam Á chỉ có hai minh tinh Trung Quốc là đựoc ưu ái, còn Thái Lan, Philippine, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Campuchia
… thì gần như không ai đóai hòai.
Có một chi tiết, chưa biết lỗi của ai, nhưng trong chương trình nghệ thuật đêm khai mạc 17.10.2010 của 1sVNIFF, trong tiết mục múa “Câu chuyện của những chiếc giầy”- biên đạo múa Tấn Lộc, nhưng âm nhạc của ai thì không giới thiệu, kể cả hàng chữ chạy trên VTV1 truyền hình trực tiếp cũng không.
Và chưa kể đêm bế mạc, trên trang web của VNIFF vẫn đề hàng chữ VTV1 truyền hình trực tiếp, nhưng cuối cùng là VTV2. Trong khi MC của VTV giới thiệu đầy đủ 8 chuyên mục giải thưởng, nhưng mới chỉ có 5 giải thưởng được công bố thì MC của VTV tuyên bố Lễ bế mạc 1sVNIFF kết thúc, không thêm một lời giải thích vì sao thiếu vắng 3 giải còn lại.
Điều đó chỉ được công bố trong buổi họp báo ngay sau lễ bế mạc, làm cánh truyền thông “chạy đua” đến tận khuya lắc mới xong tin về tòa sọan.
Có thể xem như đó là một cách hành xử chưa đẹp của Ban Tổ chức?
Giữa chốn đông người, họ có phải là nghệ sĩ không?
Một cuộc xô xát có động tay động chân với đồng nghiệp ở nơi công cộng, trứớc mặt nhiều người, của một đạo diễn trẻ đang đình đám với phim chiếu giới thiệu trong 1sVNIFF.
Một trận “văng” vào nhau những ngôn từ không có trong từ điển của người có văn hóa ngay ở Văn Miếu trong đêm họat động khuôn khổ 1sVNIFF giữa một đạo diễn-giám đốc với bạn đồng nghiệp. Nghe nói là có bia-rượu góp phần?
Một phen cử tọa trong một cuộc hội thảo về điện ảnh VN nín thở hồi hộp lo lắng “chiến tranh” xảy ra giữa hai đạo diễn, đại diện hai trường phái phim Thị trường- Nhà nước, có xung đột về ngôn từ khá căng thẳng, bất chấp lịch sự tối thiểu. May mà khách nước ngòai không hiểu tiếng Việt.
Một cô ca sĩ kiêm diễn viên vài phim thị trường cứ hồn nhiên trả lời phỏng vấn truyền thông, tự nhiên để phóng viên chụp ảnh, mặc cho dây áo tụt xuống quá vai đe dọa “sự cố” hở vòng 1.
Một cô diễn viên có lẽ tự nhủ đã” 100%” trên phim ( 1/10 phim được tham dự tranh giải phim truyện), nên rất tự nhiên diện chiếc váy trong suốt trên thảm đỏ buổi khai mạc 1sVNIFF và sau đó thì tiếp tục “cống hiến” mãn nhãn công chúng bởi chiếc váy siêu ngắn trên thảm đỏ Nhà hát Lớn Hà Nội buổi sau.
Một diễn viên nữ nổi lên từ một phim của đạo diễn Việt kiều trong mấy ngày diễn ra các sự kiện công cộng, không ngần ngại khoe vòng 1 “ngồn ngộn” với nhiều kiểu váy bó, tưởng chừng thở mạnh một cái là tung hết, làm “nóng” bao ánh nhìn trần tục…
Còn nhiều cách ứng xử bi-hài của 1sVNIFF, không thể kể hết ra được. Nhưng chỉ vài nét chấm phá qua 5 ngày diễn ra 1sVNIFF, có thể nói chính xác, là thước đo “tầm” văn hóa của những người được cho là có văn hóa vẫn chưa có văn hóa ứng xử đúng mực trong vai trò người có văn hóa.
Nhìn rộng ra, từ những “tiểu tiết” tưởng như là “chuyện thường ngày”, có thể như một cảnh báo không thừa về văn hóa ứng xử. Nó đang bị xem nhẹ và dần trở thành một thứ xa xỉ ít ai quan tâm./.
Phương Nam
Tình bạn và tình yêu đi trên đường đời bằng đôi môi ngậm kín và chiếc mạng che mặt. Người ta có thể nói về tình bạn nhưng chỉ có thể cảm nhận được tình yêu.
Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2010
Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân
Đọc sách:
Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân
Lễ Vu lan & Lễ cúng cô hồn
Rằm tháng Bảy đã qua, nhưng ý nghĩa của ngày rằm trong văn hóa tâm linh của người VN vẫn luôn hiện diện hàng ngày qua sinh họat và nhất là trong mỗi nếp nhà truyền thống.
Nhưng để hiểu thấu đáo ý nghĩa thực theo quan niện tâm linh của người VN về ngày Rằm tháng Bảy xá tôi vong nhân với hai lễ lớn: Lễ Vu lan- Báo hiếu cha mẹ; Lễ cúng cô hồn- Lễ cho các linh hồn không nơi nương tựa hương khói thờ cúng, thì không phải ai cũng có được sự hiểu biết rõ ràng, mà chỉ là làm theo phong tục, tập quán truyền thống của người xưa, như một sinh họat văn hóa tâm linh nằm trong chuỗi các nghi thức hàng năm của tín ngưỡng Phật giáo.
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Việt Ngữ, có lẽ trong quá trình đi sâu nghiên cứu về các lọai hình văn hóa truyền thống VN, đặc biệt là các tác phẩm ca diễn xướng cổ điển có liên quan đến tín ngưỡng Phật giáo, đã phát hiện ra nhiều vấn đề lý thú xung quanh tích “Mục Liên Thanh Đề”, gắn với lễ Xá tội vong nhân ngày Rằm tháng Bảy ở VN. Và những phát hiện này đã được ông chú ý nghiên cứu, sưu tầm, khảo cứu, phân tích qua thực tiễn, qua tư liệu và cả những “nhân chứng” vật thể, phi vật thể, trong một thời gian dài từ những năm 1960 đến tháng 9. 2010, ông tập hợp những nghiên cứu của mình, viết thành cuốn “Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân- Lễ Vu lan & Lễ Cúng cô hồn”- Ban Văn hóa Thành hội Phật giáo Hà Nội ấn tống, Phật lịch 2554.
Cuốn sách thật sự là một công trình khảo cứu có giá trị về ý nghĩa của một phong tục tín ngưỡng Phật giáo “Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân- Lễ Vu lan & Lễ Cúng cô hồn” của người VN trong sinh họat tâm linh. Ngòai ra, qua những khảo cứu minh họa, đây còn là cuốn sách có giá trị sưu tầm những trò diễn xướng dân gian truyền thống mang tính tôn giáo rất lý thú. Sách được chia làm ba phần.
Phần một: Phần mang tính nghiên cứu sâu của tác giả,Tháng Bảy ngày rằm, xá tội vong nhân. Rất khúc triết, rất khoa học, nhưng lại dễ hiểu và thuyết phục, với những phát hiện cùng chú giải tưởng chừng như rất khó lĩnh ngộ trong kinh sách Phật hay các điển tích Phật giáo phương Đông, các tích diễn xướng cổ điển dân gian VN… , tác giả Trần Việt Ngữ đã dẫn dắt người đọc dần khám phá ra ý nghĩa của phong tục từ thời xa xưa đến nay, những “biến thể” qua thời gian và dị biệt trong câu chuyện gốc tạo nên sự khác biệt khi được du nhập và “VN hóa” trong tín ngưỡng dân gian của ta. Từ những phong tục “Rằm tháng Bảy với tích Cứu mẹ và tục cúng vong”, “Lễ Vu lan bồn và lễ Cúng Cô hồn”, giải thích cặn kẽ ý nghĩa của từng phong tục, tìm cái chung cái riêng, để có được cái nhìn chính xác về một phong tục mang tính nhân văn cao của tình người với các đấng sinh thành cũng như với chúng sinh. Điều thú vị ở phần này là tác giả đã đưa ra những “nhân chứng” phi vật thể và cả vật thể để minh họa cho những phát hiện, nghiên cứu của mình về phong tục” Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân” với “Đàn tràng Vu lan”, qua những tác phẩm văn hóa nghệ thuật diễn xướng dân gian truyền thống như vở Chèo: Mục Liên báo ân, Tuồng: Ban sắc xá cách, Cải lương: Mục Liên- Thanh Đề… với nhiều cách hát xướng diễn trò. Đặc biệt “đàn tràng” hay “đàn trai” của phong tục này, được tác giả trình bày rất chi tiết về cách thức nghi lễ có lớp lang, ngòai ý nghĩa về một nghi thức trong sinh họat tâm linh ngày rằm tháng Bảy, nó còn mang giá trị như một nghiên cứu sâu về trò diễn xướng trong kho tàng văn hóa dân gian VN mang tính tôn giáo và các sinh họat nghi lễ tâm linh của người Việt.
Phần hai: Đây là phần tác giả sưu tầm, cống hiến cho người đọc những tác phẩm diễn xướng dân gian gần như là kinh điển của tích “Mục Liên Thanh Đề” liên quan đến phong tục Lễ Vu lan và Lễ Cúng Cô hồn. Ngòai ba vở chèo, tuồng, cải lương đã được nêu trên, còn có phần diễn xướng theo đúng lớp lang của đàn tràng trong cúng lễ ngày rằm tháng Bảy: Bảo đường ca, Triệu linh thần, Văn thỉnh thập lọai cô hồn, Kế hạnh thập ân, Chèo thuyền ca cách.
Phần ba: Phần phụ lục, ngòai hai bài mang tính Phật pháp thuyết giáo: Giới vong và Phật thuyết Vu lan bồn kinh, còn có một bài viết: Địa ngục luận- của Sư Thầy Thích Tuệ Nhuận, giải nghĩa về địa ngục và ngày rằm tháng Bảy theo triết học Kinh Phật Đại thừa, như một bài văn tham khảo.
“Tâm thức của người xem nằm trong vùng thăng hoa của nghệ thuật, cung kính chư Phật, chí hiếu Mẹ Cha, từ ái với chúng sinh, sửa mình quy thiện, tâm ấy tức Phật tính, là tỉnh thức, là Giác…”- trích Lời đề từ cho cuốn sách của Thượng tọa Thích Minh Hiền, Trưởng Ban Văn hóa Thành hội Phật giáo Hà Nội.
Bạch Tùng Lâm
Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân
Lễ Vu lan & Lễ cúng cô hồn
Rằm tháng Bảy đã qua, nhưng ý nghĩa của ngày rằm trong văn hóa tâm linh của người VN vẫn luôn hiện diện hàng ngày qua sinh họat và nhất là trong mỗi nếp nhà truyền thống.
Nhưng để hiểu thấu đáo ý nghĩa thực theo quan niện tâm linh của người VN về ngày Rằm tháng Bảy xá tôi vong nhân với hai lễ lớn: Lễ Vu lan- Báo hiếu cha mẹ; Lễ cúng cô hồn- Lễ cho các linh hồn không nơi nương tựa hương khói thờ cúng, thì không phải ai cũng có được sự hiểu biết rõ ràng, mà chỉ là làm theo phong tục, tập quán truyền thống của người xưa, như một sinh họat văn hóa tâm linh nằm trong chuỗi các nghi thức hàng năm của tín ngưỡng Phật giáo.
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Việt Ngữ, có lẽ trong quá trình đi sâu nghiên cứu về các lọai hình văn hóa truyền thống VN, đặc biệt là các tác phẩm ca diễn xướng cổ điển có liên quan đến tín ngưỡng Phật giáo, đã phát hiện ra nhiều vấn đề lý thú xung quanh tích “Mục Liên Thanh Đề”, gắn với lễ Xá tội vong nhân ngày Rằm tháng Bảy ở VN. Và những phát hiện này đã được ông chú ý nghiên cứu, sưu tầm, khảo cứu, phân tích qua thực tiễn, qua tư liệu và cả những “nhân chứng” vật thể, phi vật thể, trong một thời gian dài từ những năm 1960 đến tháng 9. 2010, ông tập hợp những nghiên cứu của mình, viết thành cuốn “Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân- Lễ Vu lan & Lễ Cúng cô hồn”- Ban Văn hóa Thành hội Phật giáo Hà Nội ấn tống, Phật lịch 2554.
Cuốn sách thật sự là một công trình khảo cứu có giá trị về ý nghĩa của một phong tục tín ngưỡng Phật giáo “Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân- Lễ Vu lan & Lễ Cúng cô hồn” của người VN trong sinh họat tâm linh. Ngòai ra, qua những khảo cứu minh họa, đây còn là cuốn sách có giá trị sưu tầm những trò diễn xướng dân gian truyền thống mang tính tôn giáo rất lý thú. Sách được chia làm ba phần.
Phần một: Phần mang tính nghiên cứu sâu của tác giả,Tháng Bảy ngày rằm, xá tội vong nhân. Rất khúc triết, rất khoa học, nhưng lại dễ hiểu và thuyết phục, với những phát hiện cùng chú giải tưởng chừng như rất khó lĩnh ngộ trong kinh sách Phật hay các điển tích Phật giáo phương Đông, các tích diễn xướng cổ điển dân gian VN… , tác giả Trần Việt Ngữ đã dẫn dắt người đọc dần khám phá ra ý nghĩa của phong tục từ thời xa xưa đến nay, những “biến thể” qua thời gian và dị biệt trong câu chuyện gốc tạo nên sự khác biệt khi được du nhập và “VN hóa” trong tín ngưỡng dân gian của ta. Từ những phong tục “Rằm tháng Bảy với tích Cứu mẹ và tục cúng vong”, “Lễ Vu lan bồn và lễ Cúng Cô hồn”, giải thích cặn kẽ ý nghĩa của từng phong tục, tìm cái chung cái riêng, để có được cái nhìn chính xác về một phong tục mang tính nhân văn cao của tình người với các đấng sinh thành cũng như với chúng sinh. Điều thú vị ở phần này là tác giả đã đưa ra những “nhân chứng” phi vật thể và cả vật thể để minh họa cho những phát hiện, nghiên cứu của mình về phong tục” Tháng Bảy ngày rằm xá tội vong nhân” với “Đàn tràng Vu lan”, qua những tác phẩm văn hóa nghệ thuật diễn xướng dân gian truyền thống như vở Chèo: Mục Liên báo ân, Tuồng: Ban sắc xá cách, Cải lương: Mục Liên- Thanh Đề… với nhiều cách hát xướng diễn trò. Đặc biệt “đàn tràng” hay “đàn trai” của phong tục này, được tác giả trình bày rất chi tiết về cách thức nghi lễ có lớp lang, ngòai ý nghĩa về một nghi thức trong sinh họat tâm linh ngày rằm tháng Bảy, nó còn mang giá trị như một nghiên cứu sâu về trò diễn xướng trong kho tàng văn hóa dân gian VN mang tính tôn giáo và các sinh họat nghi lễ tâm linh của người Việt.
Phần hai: Đây là phần tác giả sưu tầm, cống hiến cho người đọc những tác phẩm diễn xướng dân gian gần như là kinh điển của tích “Mục Liên Thanh Đề” liên quan đến phong tục Lễ Vu lan và Lễ Cúng Cô hồn. Ngòai ba vở chèo, tuồng, cải lương đã được nêu trên, còn có phần diễn xướng theo đúng lớp lang của đàn tràng trong cúng lễ ngày rằm tháng Bảy: Bảo đường ca, Triệu linh thần, Văn thỉnh thập lọai cô hồn, Kế hạnh thập ân, Chèo thuyền ca cách.
Phần ba: Phần phụ lục, ngòai hai bài mang tính Phật pháp thuyết giáo: Giới vong và Phật thuyết Vu lan bồn kinh, còn có một bài viết: Địa ngục luận- của Sư Thầy Thích Tuệ Nhuận, giải nghĩa về địa ngục và ngày rằm tháng Bảy theo triết học Kinh Phật Đại thừa, như một bài văn tham khảo.
“Tâm thức của người xem nằm trong vùng thăng hoa của nghệ thuật, cung kính chư Phật, chí hiếu Mẹ Cha, từ ái với chúng sinh, sửa mình quy thiện, tâm ấy tức Phật tính, là tỉnh thức, là Giác…”- trích Lời đề từ cho cuốn sách của Thượng tọa Thích Minh Hiền, Trưởng Ban Văn hóa Thành hội Phật giáo Hà Nội.
Bạch Tùng Lâm
Hà Nội- Động và Tĩnh
Triển lãm ảnh nghệ thuật Hà Nội- Động và Tĩnh
Một Hà Nội đan xen thiền và thơ
Hà Nội- Việt Nam, luôn là cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của các nghệ sĩ. Mỗi người có một góc nhìn, cách cảm nhận riêng về Hà Nội và mang đến công chúng khán giả những cảm xúc, rung động khác biệt.
Nghệ sĩ nhiếp ảnh(NSNA) Trần Việt Văn, trong 5 năm qua với 6 cuộc triển lãm ảnh nghệ thuật cá nhân“Hai giờ, một ngày”, “Đạo và Đời”, “Tồn tại hay không tồn tại”, “Đạo và Đời 2”, “Màu mặt trời”, “Tướng trận thời bình” với nhiều sự khám phá về cuộc sống muôn màu qua các khỏanh khắc và khuôn hình độc đáo, đã tạo một dấu ấn riêng khá thành công trên con đường sáng tạo nghệ thuật của anh.
Là người Hà Nội, năm 2010, cảm xúc sáng tạo nghệ thuật về Thủ đô 1000 năm tuổi trong người NSNA Trần Việt Văn như một dòng chảy ngầm, và khi không khí sôi động của Đại lễ Thăng Long- Hà Nội 1000 năm qua đi, anh mới ra mắt công chúng triển lãm ảnh nghệ thuật thứ 7 mang tên “Hà Nội- Động & Tĩnh”, gồm 39 ảnh.
Trong những đề tài dài hơi về nghệ thuật nhiếp ảnh của anh, thì “Thiền” là một trong những chủ đề được NSNA Việt Văn quan tâm, theo đuổi đặc biệt. Nhưng với công việc thường ngày là một nhà báo, nên những hình ảnh về cuộc sống đương đại cũng là một đề tài anh không thể bỏ qua trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình.
Tại sao anh lại đặt tên cho triển lãm của mình là “Hà Nội- Động & Tĩnh”?
Khái niệm Động và Tĩnh ở đây thật ra không có ranh giới phân định rõ ràng. Nhiều khi chúng đan xen nhau vì trong Động có Tĩnh và trong Tĩnh có Động, như triết lý vô thường của đạo Phật: tất cả mọi vật, hiện tượng đều biến đổi không ngừng.
Trong sự phát triển không ngừng của văn minh, là dấu ấn của đời sống hiện đại hôm nay cùng “chung sống” hoặc “đè bẹp” những vết tích cũ của một xã hội nghèo. Cái cũ và mới có khi “đối đầu” một mất một còn có khi cùng hòa hợp trong một trạng thái bấp bênh bởi không ai đoán định chính xác tương lai. Và những giá trị văn hóa, bề dày những lớp lang, những trầm tích văn hóa của một Thủ đô ngàn năm tuổi vẫn còn đó, với bao bí ẩn mà muôn đời sau vẫn chưa khám phá hết được.
Bộ ảnh “Hà Nội- Động và Tĩnh” đến từ ý tưởng đó, trong một nỗ lực khám phá lại chính bản thân tôi. Nghệ thuật là vô hạn nhưng nội lực của nghệ sỹ là có hạn, bởi thế đây vẫn chỉ là những phác thảo đầu tiên cho một dự án lâu dài.
Theo một cách sắp đặt ảnh liên tục, không phân chia ra thành từng nhóm nhỏ, có chủ đề hay tên gọi riêng, không cả chú thích ảnh, nhưng người xem có thể cảm nhận được ý tưởng tác giả gửi vào trong khuôn hình. Có thể thấy chất “tĩnh”- Thiền, không chỉ riêng một ảnh nào, từ hình ảnh cột đồng hồ và chiếc đèn giao thông màu xanh- đỏ, những bức tượng cổ và các nhà sư, đến bức ảnh cuối cùng là phin cà phê đang nhỏ từng giọt bên một bàn tay giở trang sách từ điển.
Hay chất “động” không chỉ ở hình ảnh đòan tàu chạy trên cầu Long Biên, những người bán rong bên các tấm panô quảng cáo… mà còn “động” trong cái tĩnh lặng trăm năm của ngôi nhà cổ tưởng chừng tất cả đồ vật đang ngủ yên, hay một mâm cơm như tĩnh vật song cảm như có sự “ngọ nguậy” của những chiếc đũa gắp thức ăn, mùi vị các món ăn tỏa ra trong không khí…
“Hà Nội- Động & Tĩnh” với nhiều bức ảnh mang gam màu rêu phong bàng bạc, màu nâu nhạt như nhuốm thời gian phôi pha được xử lý trên ảnh, tạo cho bộ ảnh đậm chất lãng mạn của thơ. Có thể nhiều người sẽ tần ngần, hòai niệm trước bức ảnh 2 người nam nữ rất trẻ bên chiếc xe đạp trong trời hòang hôn trên cầu Long Biên, như mấy chục năm về trước.
Cũng có thể ai đó trầm tư bên bức ảnh về một nghề cổ- vẽ truyền thần, những người xưa như đang kể về huyền thọai xưa Hà Nội.Và bên cạnh đó lại như đang đọc một bài thơ cuộc sống đương đại với hình ảnh cô dâu, chù rể bên tay trong tay, nụ cười rạng rỡ bên tháp Hòa Phong.
Chất thơ còn như phảng phất trong những khuôn hình mang dấu ấn di tích xưa của Hà Nội như Nhà hát Lớn, Văn Miếu, cầu Long Biên… đặc biệt hình ảnh đôi trai gái bên bờ Hồ Gươm là một hình ảnh không thể phai trong bất cứ ai, dù chỉ một lần đặt chân đến Hà Nội….
39 ảnh (không biết có phải trùng với số tuổi của NSNA Trần Việt Văn- nhưng tác giả chỉ cười, không nói gì), ngòai sự liên kết như kể một câu chuyện lớn về Hà Nội xưa- nay, động- tĩnh, nhưng tách từng ảnh ra để ngắm, để “đọc”, lại giống như 39 câu chuyện riêng biệt về một Hà Nội có cả bề dày lịch sử oai hùng, có cả những nét tinh tế của văn hóa Hà Nội, rồi những cuộc đời lam lũ, những nghề cổ đang dần mai một…
Khi những sôi động của Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội qua đi, xem triển lãm ảnh “Hà Nội- Động & Tĩnh” của NSNA Trần Việt Văn, cảm giác như được tĩnh lặng và suy ngẫm về một Hà Nội ngày hôm qua và ngày hôm nay cũng như trong tương lai./.
Nam Hòang
Box:Triển lãm “Hà Nội- Động & Tĩnh” của NSNA Trần Việt Văn tại Không gian Sáng tạo trung Nguyên, 36 Điện Biên Phủ, Hà Nội.
Từ 12- 19.11.2010.
NSNA Trần Việt Văn là tác giả Việt Nam duy nhất từng hai lần đoạt giải ảnh màu quốc tế London (Anh), Giải thưởng nhiếp ảnh quốc tế (IPA- Mỹ) và Giải thưởng nhiếp ảnh Paris (Pháp) và được Win –Intiniative (Mỹ) sưu tập ảnh.
Một Hà Nội đan xen thiền và thơ
Hà Nội- Việt Nam, luôn là cảm hứng sáng tạo nghệ thuật của các nghệ sĩ. Mỗi người có một góc nhìn, cách cảm nhận riêng về Hà Nội và mang đến công chúng khán giả những cảm xúc, rung động khác biệt.
Nghệ sĩ nhiếp ảnh(NSNA) Trần Việt Văn, trong 5 năm qua với 6 cuộc triển lãm ảnh nghệ thuật cá nhân“Hai giờ, một ngày”, “Đạo và Đời”, “Tồn tại hay không tồn tại”, “Đạo và Đời 2”, “Màu mặt trời”, “Tướng trận thời bình” với nhiều sự khám phá về cuộc sống muôn màu qua các khỏanh khắc và khuôn hình độc đáo, đã tạo một dấu ấn riêng khá thành công trên con đường sáng tạo nghệ thuật của anh.
Là người Hà Nội, năm 2010, cảm xúc sáng tạo nghệ thuật về Thủ đô 1000 năm tuổi trong người NSNA Trần Việt Văn như một dòng chảy ngầm, và khi không khí sôi động của Đại lễ Thăng Long- Hà Nội 1000 năm qua đi, anh mới ra mắt công chúng triển lãm ảnh nghệ thuật thứ 7 mang tên “Hà Nội- Động & Tĩnh”, gồm 39 ảnh.
Trong những đề tài dài hơi về nghệ thuật nhiếp ảnh của anh, thì “Thiền” là một trong những chủ đề được NSNA Việt Văn quan tâm, theo đuổi đặc biệt. Nhưng với công việc thường ngày là một nhà báo, nên những hình ảnh về cuộc sống đương đại cũng là một đề tài anh không thể bỏ qua trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình.
Tại sao anh lại đặt tên cho triển lãm của mình là “Hà Nội- Động & Tĩnh”?
Khái niệm Động và Tĩnh ở đây thật ra không có ranh giới phân định rõ ràng. Nhiều khi chúng đan xen nhau vì trong Động có Tĩnh và trong Tĩnh có Động, như triết lý vô thường của đạo Phật: tất cả mọi vật, hiện tượng đều biến đổi không ngừng.
Trong sự phát triển không ngừng của văn minh, là dấu ấn của đời sống hiện đại hôm nay cùng “chung sống” hoặc “đè bẹp” những vết tích cũ của một xã hội nghèo. Cái cũ và mới có khi “đối đầu” một mất một còn có khi cùng hòa hợp trong một trạng thái bấp bênh bởi không ai đoán định chính xác tương lai. Và những giá trị văn hóa, bề dày những lớp lang, những trầm tích văn hóa của một Thủ đô ngàn năm tuổi vẫn còn đó, với bao bí ẩn mà muôn đời sau vẫn chưa khám phá hết được.
Bộ ảnh “Hà Nội- Động và Tĩnh” đến từ ý tưởng đó, trong một nỗ lực khám phá lại chính bản thân tôi. Nghệ thuật là vô hạn nhưng nội lực của nghệ sỹ là có hạn, bởi thế đây vẫn chỉ là những phác thảo đầu tiên cho một dự án lâu dài.
Theo một cách sắp đặt ảnh liên tục, không phân chia ra thành từng nhóm nhỏ, có chủ đề hay tên gọi riêng, không cả chú thích ảnh, nhưng người xem có thể cảm nhận được ý tưởng tác giả gửi vào trong khuôn hình. Có thể thấy chất “tĩnh”- Thiền, không chỉ riêng một ảnh nào, từ hình ảnh cột đồng hồ và chiếc đèn giao thông màu xanh- đỏ, những bức tượng cổ và các nhà sư, đến bức ảnh cuối cùng là phin cà phê đang nhỏ từng giọt bên một bàn tay giở trang sách từ điển.
Hay chất “động” không chỉ ở hình ảnh đòan tàu chạy trên cầu Long Biên, những người bán rong bên các tấm panô quảng cáo… mà còn “động” trong cái tĩnh lặng trăm năm của ngôi nhà cổ tưởng chừng tất cả đồ vật đang ngủ yên, hay một mâm cơm như tĩnh vật song cảm như có sự “ngọ nguậy” của những chiếc đũa gắp thức ăn, mùi vị các món ăn tỏa ra trong không khí…
“Hà Nội- Động & Tĩnh” với nhiều bức ảnh mang gam màu rêu phong bàng bạc, màu nâu nhạt như nhuốm thời gian phôi pha được xử lý trên ảnh, tạo cho bộ ảnh đậm chất lãng mạn của thơ. Có thể nhiều người sẽ tần ngần, hòai niệm trước bức ảnh 2 người nam nữ rất trẻ bên chiếc xe đạp trong trời hòang hôn trên cầu Long Biên, như mấy chục năm về trước.
Cũng có thể ai đó trầm tư bên bức ảnh về một nghề cổ- vẽ truyền thần, những người xưa như đang kể về huyền thọai xưa Hà Nội.Và bên cạnh đó lại như đang đọc một bài thơ cuộc sống đương đại với hình ảnh cô dâu, chù rể bên tay trong tay, nụ cười rạng rỡ bên tháp Hòa Phong.
Chất thơ còn như phảng phất trong những khuôn hình mang dấu ấn di tích xưa của Hà Nội như Nhà hát Lớn, Văn Miếu, cầu Long Biên… đặc biệt hình ảnh đôi trai gái bên bờ Hồ Gươm là một hình ảnh không thể phai trong bất cứ ai, dù chỉ một lần đặt chân đến Hà Nội….
39 ảnh (không biết có phải trùng với số tuổi của NSNA Trần Việt Văn- nhưng tác giả chỉ cười, không nói gì), ngòai sự liên kết như kể một câu chuyện lớn về Hà Nội xưa- nay, động- tĩnh, nhưng tách từng ảnh ra để ngắm, để “đọc”, lại giống như 39 câu chuyện riêng biệt về một Hà Nội có cả bề dày lịch sử oai hùng, có cả những nét tinh tế của văn hóa Hà Nội, rồi những cuộc đời lam lũ, những nghề cổ đang dần mai một…
Khi những sôi động của Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội qua đi, xem triển lãm ảnh “Hà Nội- Động & Tĩnh” của NSNA Trần Việt Văn, cảm giác như được tĩnh lặng và suy ngẫm về một Hà Nội ngày hôm qua và ngày hôm nay cũng như trong tương lai./.
Nam Hòang
Box:Triển lãm “Hà Nội- Động & Tĩnh” của NSNA Trần Việt Văn tại Không gian Sáng tạo trung Nguyên, 36 Điện Biên Phủ, Hà Nội.
Từ 12- 19.11.2010.
NSNA Trần Việt Văn là tác giả Việt Nam duy nhất từng hai lần đoạt giải ảnh màu quốc tế London (Anh), Giải thưởng nhiếp ảnh quốc tế (IPA- Mỹ) và Giải thưởng nhiếp ảnh Paris (Pháp) và được Win –Intiniative (Mỹ) sưu tập ảnh.
Một góc văn hóa Thang Long- Gioi thieu sách.
Một góc lịch sử Thăng Long
Qua Đồ sứ ký kiểu Việt Nam thời Lê-Trịnh
(1533- 1788)
Đồ sứ ký kiểu Việt Nam
Thời Lê -Trịnh (1533- 1788)
Tác giả: Trần Đình Sơn
Nhà xuất bản Văn nghệ
Số trang: 315. Song ngữ Việt- Anh
Tháng 9.2010
Thủ đô Hà Nội đang bước vào những ngày Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, với một tình cảm thiêng liêng của người phương Nam hướng về nguồn cội, nhà nghiên cứu cổ học Trần Đình Sơn cho ra mắt giới thưởng ngọan cổ vật cuốn “Đồ sứ ký kiểu Việt Nam thời Lê- Trịnh (1533- 1788)”, như một món quà tặng Thủ đô 1000 năm tuổi.
400 năm trước, vào khỏang thế kỷ 16-18, trong giai đọan lịch sử VN có nhiều biến cố từ “Lê tồn- Trịnh tại” đến trào Tây Sơn “Trịnh bại- Lê vong”, ngòai những sự kiện xảy ra trong triều đình chốn cung Vua phủ Chúa đã được các nhà chép sử ghi lại tỉ mỉ, thì những “tiểu tiết” trong nội cung như :phẩm phục (áo mặc theo phẩm vị),hành nghi (nghi thức đi đường), đồ dùng thường ngày, trong đó có đồ sứ ngự dụng và hòang thất, quan lại dùng … hoa văn, tiểu tiết phải theo một quy chế- sắc lệnh theo “Lê triều chiếu lịnh thiện chính”, vẫn còn là điều cần khám phá, tìm hiểu không chỉ trong giới nghiên cứu, sưu tầm cổ vật , mà còn là sự tò mò của những người yêu thích những tác phẩm nghệ thuật gốm sứ ở VN.
Nhà nghiên cứu cổ học, đặc biệt là về đồ sứ ký kiểu VN Trần Đình Sơn, qua cuốn sách thứ ba “ Đồ sứ ký kiểu Việt Nam thời Lê- Trịnh (1533- 1788)”, đã “triển lãm” bằng hình ảnh bộ sưu tập những đồ sứ cổ được dùng trong cung Vua, phủ Chúa thời ấy, phác họa một góc lịch sử Thăng Long mấy trăm năm trước theo một chiều khác khá lý thú, thông qua nghệ thuật trang trí trên các vật dụng sứ ngự dụng cách đây hơn 400 năm. Sách có phần so sánh niên biểu VN thời Lê- Trịnh với niên biểu cùng thời của Trung Quốc để người đọc có thêm cái nhìn khái quát về lịch sử thời này.
Ngay từ phần “Dẫn nhập”, tác giả đã tóm lược một giai đọan lịch sử nhiều thăng trầm và biến động suốt từ thế kỷ 15-18 thời nhà Lê đến trước thời Tây Sơn và nhà Nguyễn, để dẫn dắt người đọc “đi sâu tìm hiểu nội cung” có gì lạ.
Về phép tắc: Những người được phong tước Công…, hòang tử (con Vua), vương tử(con trai Chúa),các quan Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo (Tam Thái- chính nhất phẩm), Thiếu Sư, Thiếu Phó, Thiếu Bảo (Tam Thiếu- chính nhị phẩm): Được phép dùng y phục may bằng gấm vóc dệt hìng lân, phượng và các màu sắc; bát đĩa dùng đồ sứ Tàu bịt vàng, cấm vẽ hình rồng và các màu sắc.
Hay các quan Thượng thư (chính nhị phẩm), Đô ngự sử (chính tam phẩm)…thì bát đĩa dùng đố sứ Tàu bịt bạc, cấm các kiểu vẽ rồng, kỳ lân, phượng và các màu sắc.
Các Xá nhân, Án lại, Tướng thần lại, Lịnh sử, Nội thư tả ở các nha môn (lục phẩm trở xuống), các chức từ Cai ty, Cai hợp, Thủ hợp trở lên… bát đĩa dùng đồ gốm Nam(đồ gốm làm trong nước),các hình vẽ rồng, lân, phượng, gấm vóc các màu đều cấm xử dụng….
Đặc biệt, và hấp dẫn nhất của cuốn sách chính là phần sưu tầm những đồ sứ ký kiểu được ghi chữ “Nội phủ”- Kho tàng của nhà Vua- thị trung, thị hữu, thị đông, thị đòai, thị nam, thị bắc và “Khánh Xuân”.
Nội phủ thị trung: Được dùng chính điện, trang trí đặc biệt dành cho Vua, Chúa là rồng 5 móng bay lượn giữa mây lành và sóng nước: Lưỡng long chầu nguyệt, Lưỡng long tranh châu, Độc long hí châu, hay Tường Vân-Mây lành,Mỹ nhân- Người đẹp, Sơn thủy- Phong cảnh…
Khánh xuân thị tả: Dùng cho cung điện bên trái. Biểu tượng trang trí là rồng 5 móng với 1-2 kỳ lân bay giữa mây và nước như: Long Lân hí châu, Long Lân khánh thọ, Độc Long hiến thọ. Độc đáo là bộ đồ trà lấy tích Hứa Do rửa tai: Lười nghe việc ngòai đời/ Lấy nước sạch rửa tai.
Nội phủ thị hữu: Được dùng cho cung điện bên phải. Biểu tượng trang trí chính là rồng, phượng: Long Phượng khánh thọ, Long Phượng trình tường,Long Phượng hí châu. Độc đáo là bộ trà “Ngô đồng phượng”:Chín phượng đậu cây ngô đồng hót vang/Người đánh cá cùng vui đùa với người đốn củi
Nội phủ thị đông: Dùng cho cung điện phía đông. Thường trang trí rồng, lân, chim, hoa như: Long Lân khánh hội, Song Lân hí thủy,Tam Thái đằng vân, Dục báo xuân lai, Hỷ báo xuân quang…
Nội phủ thị đòai: Cho cung điện phía tây, thường lấy hình phượng và phong cảnh, nhân vật. Nội phủ thị nam: Dùng cho cung điện phía nam, có các hình vẽ như: Hoa sen,côn trùng, lau lách, các đề tài cát tường, đăng khoa. Nội phủ thị bắc: Vật phẩm dành riêng cung điện phía bắc, biểu trưng trang trí là hoa mẫu đơn và bướm, phong cảnh, nhân vật, tứ dân-tứ thú (ngư, tiều, canh, độc)…
Trong cuốn sách, ngòai bộ sưu tập đồ sứ cổ dùng trong cung Vua, phủ Chúa “chính thống”, theo niêm chế, quy định trong lễ nghi, còn có một bộ sưu tầm khác về đồ sứ hảo hạng có hiệu đề chữ Tho, Trân Ngọan. Căn cứ vào quy định trong triều luật, thì đây là đồ sứ do hòang thân quốc thích của Vua, Chúa sai đặt làm ở các lò gốm sứ nổi tiếng Trung Quốc lúc đó.
Một chút tâm sự của tác giả:”Thời còn niên thiếu ngồi trên ghế nhà trường, thế hệ chúng tôi ở Miền Nam chỉ biết Thăng Long- Hà Nội qua sử sách, thơ văn. Cảnh vật Thăng Long hiện lên trong trí tưởng tượng ngây thơ thật buồn như Bà Huyện Thanh Quan cảm tác: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Lầu cũ lâu đài bóng tịch dương. Hoặc nồng nàn tình cảm hướng về nguồn cội: Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long- Hùynh Văn Nghệ..
Rồi từ cái tô mang chữ “Nội phủ thị trung” mà tôi có duyên với đồ sứ cổ…Nay ngàn năm một thuở, nhân dân Việt khắp nơi đều hướng về đại lễ kỷ niệm “Thăng Long thiên tuế”. Tôi vô cùng hoan hỷ xuất bản tác phẩm “Đồ sứ ký kiểu Việt Nam thời Lê- Trịnh(1533-1788)”.
Mong sao tập sách này như nén tâm hương tưởng nhớ công đức Tiền nhân. Góp thêm tư liệu về thời đại Vua Lê, Chúa Trịnh, 400 năm trước trong lịch sử ngàn năm Thăng Long- Đại Việt”…
Hòai Hương giới thiệu
Qua Đồ sứ ký kiểu Việt Nam thời Lê-Trịnh
(1533- 1788)
Đồ sứ ký kiểu Việt Nam
Thời Lê -Trịnh (1533- 1788)
Tác giả: Trần Đình Sơn
Nhà xuất bản Văn nghệ
Số trang: 315. Song ngữ Việt- Anh
Tháng 9.2010
Thủ đô Hà Nội đang bước vào những ngày Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, với một tình cảm thiêng liêng của người phương Nam hướng về nguồn cội, nhà nghiên cứu cổ học Trần Đình Sơn cho ra mắt giới thưởng ngọan cổ vật cuốn “Đồ sứ ký kiểu Việt Nam thời Lê- Trịnh (1533- 1788)”, như một món quà tặng Thủ đô 1000 năm tuổi.
400 năm trước, vào khỏang thế kỷ 16-18, trong giai đọan lịch sử VN có nhiều biến cố từ “Lê tồn- Trịnh tại” đến trào Tây Sơn “Trịnh bại- Lê vong”, ngòai những sự kiện xảy ra trong triều đình chốn cung Vua phủ Chúa đã được các nhà chép sử ghi lại tỉ mỉ, thì những “tiểu tiết” trong nội cung như :phẩm phục (áo mặc theo phẩm vị),hành nghi (nghi thức đi đường), đồ dùng thường ngày, trong đó có đồ sứ ngự dụng và hòang thất, quan lại dùng … hoa văn, tiểu tiết phải theo một quy chế- sắc lệnh theo “Lê triều chiếu lịnh thiện chính”, vẫn còn là điều cần khám phá, tìm hiểu không chỉ trong giới nghiên cứu, sưu tầm cổ vật , mà còn là sự tò mò của những người yêu thích những tác phẩm nghệ thuật gốm sứ ở VN.
Nhà nghiên cứu cổ học, đặc biệt là về đồ sứ ký kiểu VN Trần Đình Sơn, qua cuốn sách thứ ba “ Đồ sứ ký kiểu Việt Nam thời Lê- Trịnh (1533- 1788)”, đã “triển lãm” bằng hình ảnh bộ sưu tập những đồ sứ cổ được dùng trong cung Vua, phủ Chúa thời ấy, phác họa một góc lịch sử Thăng Long mấy trăm năm trước theo một chiều khác khá lý thú, thông qua nghệ thuật trang trí trên các vật dụng sứ ngự dụng cách đây hơn 400 năm. Sách có phần so sánh niên biểu VN thời Lê- Trịnh với niên biểu cùng thời của Trung Quốc để người đọc có thêm cái nhìn khái quát về lịch sử thời này.
Ngay từ phần “Dẫn nhập”, tác giả đã tóm lược một giai đọan lịch sử nhiều thăng trầm và biến động suốt từ thế kỷ 15-18 thời nhà Lê đến trước thời Tây Sơn và nhà Nguyễn, để dẫn dắt người đọc “đi sâu tìm hiểu nội cung” có gì lạ.
Về phép tắc: Những người được phong tước Công…, hòang tử (con Vua), vương tử(con trai Chúa),các quan Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo (Tam Thái- chính nhất phẩm), Thiếu Sư, Thiếu Phó, Thiếu Bảo (Tam Thiếu- chính nhị phẩm): Được phép dùng y phục may bằng gấm vóc dệt hìng lân, phượng và các màu sắc; bát đĩa dùng đồ sứ Tàu bịt vàng, cấm vẽ hình rồng và các màu sắc.
Hay các quan Thượng thư (chính nhị phẩm), Đô ngự sử (chính tam phẩm)…thì bát đĩa dùng đố sứ Tàu bịt bạc, cấm các kiểu vẽ rồng, kỳ lân, phượng và các màu sắc.
Các Xá nhân, Án lại, Tướng thần lại, Lịnh sử, Nội thư tả ở các nha môn (lục phẩm trở xuống), các chức từ Cai ty, Cai hợp, Thủ hợp trở lên… bát đĩa dùng đồ gốm Nam(đồ gốm làm trong nước),các hình vẽ rồng, lân, phượng, gấm vóc các màu đều cấm xử dụng….
Đặc biệt, và hấp dẫn nhất của cuốn sách chính là phần sưu tầm những đồ sứ ký kiểu được ghi chữ “Nội phủ”- Kho tàng của nhà Vua- thị trung, thị hữu, thị đông, thị đòai, thị nam, thị bắc và “Khánh Xuân”.
Nội phủ thị trung: Được dùng chính điện, trang trí đặc biệt dành cho Vua, Chúa là rồng 5 móng bay lượn giữa mây lành và sóng nước: Lưỡng long chầu nguyệt, Lưỡng long tranh châu, Độc long hí châu, hay Tường Vân-Mây lành,Mỹ nhân- Người đẹp, Sơn thủy- Phong cảnh…
Khánh xuân thị tả: Dùng cho cung điện bên trái. Biểu tượng trang trí là rồng 5 móng với 1-2 kỳ lân bay giữa mây và nước như: Long Lân hí châu, Long Lân khánh thọ, Độc Long hiến thọ. Độc đáo là bộ đồ trà lấy tích Hứa Do rửa tai: Lười nghe việc ngòai đời/ Lấy nước sạch rửa tai.
Nội phủ thị hữu: Được dùng cho cung điện bên phải. Biểu tượng trang trí chính là rồng, phượng: Long Phượng khánh thọ, Long Phượng trình tường,Long Phượng hí châu. Độc đáo là bộ trà “Ngô đồng phượng”:Chín phượng đậu cây ngô đồng hót vang/Người đánh cá cùng vui đùa với người đốn củi
Nội phủ thị đông: Dùng cho cung điện phía đông. Thường trang trí rồng, lân, chim, hoa như: Long Lân khánh hội, Song Lân hí thủy,Tam Thái đằng vân, Dục báo xuân lai, Hỷ báo xuân quang…
Nội phủ thị đòai: Cho cung điện phía tây, thường lấy hình phượng và phong cảnh, nhân vật. Nội phủ thị nam: Dùng cho cung điện phía nam, có các hình vẽ như: Hoa sen,côn trùng, lau lách, các đề tài cát tường, đăng khoa. Nội phủ thị bắc: Vật phẩm dành riêng cung điện phía bắc, biểu trưng trang trí là hoa mẫu đơn và bướm, phong cảnh, nhân vật, tứ dân-tứ thú (ngư, tiều, canh, độc)…
Trong cuốn sách, ngòai bộ sưu tập đồ sứ cổ dùng trong cung Vua, phủ Chúa “chính thống”, theo niêm chế, quy định trong lễ nghi, còn có một bộ sưu tầm khác về đồ sứ hảo hạng có hiệu đề chữ Tho, Trân Ngọan. Căn cứ vào quy định trong triều luật, thì đây là đồ sứ do hòang thân quốc thích của Vua, Chúa sai đặt làm ở các lò gốm sứ nổi tiếng Trung Quốc lúc đó.
Một chút tâm sự của tác giả:”Thời còn niên thiếu ngồi trên ghế nhà trường, thế hệ chúng tôi ở Miền Nam chỉ biết Thăng Long- Hà Nội qua sử sách, thơ văn. Cảnh vật Thăng Long hiện lên trong trí tưởng tượng ngây thơ thật buồn như Bà Huyện Thanh Quan cảm tác: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Lầu cũ lâu đài bóng tịch dương. Hoặc nồng nàn tình cảm hướng về nguồn cội: Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long- Hùynh Văn Nghệ..
Rồi từ cái tô mang chữ “Nội phủ thị trung” mà tôi có duyên với đồ sứ cổ…Nay ngàn năm một thuở, nhân dân Việt khắp nơi đều hướng về đại lễ kỷ niệm “Thăng Long thiên tuế”. Tôi vô cùng hoan hỷ xuất bản tác phẩm “Đồ sứ ký kiểu Việt Nam thời Lê- Trịnh(1533-1788)”.
Mong sao tập sách này như nén tâm hương tưởng nhớ công đức Tiền nhân. Góp thêm tư liệu về thời đại Vua Lê, Chúa Trịnh, 400 năm trước trong lịch sử ngàn năm Thăng Long- Đại Việt”…
Hòai Hương giới thiệu
Khỏanh khắc vàng 2010
Giải thưởng ảnh báo chí “Khỏanh khắc Vàng-03”
Nhìn lại ảnh báo chí Việt Nam
Ngày 15.9 tại HN, lễ trao giải và triển lãm cuộc thi ảnh báo chí “Khoảnh khắc vàng-03” do Thông tấn xã VN phối hợp với Hội nghệ sỹ nhiếp ảnh VN tổ chức.
Số lượng kỷ lục 8307 tác phẩm, trong đó có 5947 ảnh đơn và 1731 bộ ảnh dự thi đã tạo nên cuộc thi “Khoảnh khắc vàng-03” thành công ban đầu về mặt số lượng…Nhưng cũng từ số lượng thi và đọat giải, thẳng thắn nhìn lại chất lượng ảnh báo chí VN hiện tại thực chất như thế nào.
Từ con số đặt vấn đề ảnh báo chí VN
Theo thông tin từ Ban tổ chức cuộc thi, thì số ảnh lọt vào chung khảo chỉ còn 206 tác phẩm (ảnh đơn và bộ ảnh), để qua vòng chung khảo chỉ còn 92 tác phẩm được chọn, và tổng giải thưởng chính thức gồm các giải nhất, nhì, ba, khuyến khích là 17 tác phẩm (không tính 4 giải thưởng tác phẩm ảnh chụp bằng điện thọai di động của nhà tài trợ), không có giải thưởng lớn.
Có thể nhìn nhận ở hai khía cạnh: Chất lượng ảnh báo chí VN cần xem xét lại, hay do ban giám khảo (nhất là ở vòng sơ khảo) có thật sự công tâm và chính xác khi quyết định lọai bỏ số lượng lớn tác phẩm ảnh dự thi.
Không thể nói tác phẩm ảnh dư thi là không có chọn lựa. Bản thân tác giả khi mang tác phẩm đi thi, đã có một sự lựa chọn riêng, mang tác phẩm được xem là thành công nhất của mình. Thế nhưng chỉ qua vòng lọai thì gần 80% tác phẩm đã bị lọai không vào được vòng trong. Phải chăng chất lượng ảnh quá kém, dù là ảnh tốt nhất được mang đi dự thi? Và như thế đặt một dấu hỏi về ảnh báo chí VN đang có vấn đề về chất lượng hay bản thân phóng viên ảnh báo chí VN đang “đi xuống” về nghề nghiệp chuyên môn?
Nhưng cũng không thể bỏ qua vai trò của ban giám khảo. Có quyền đặt dấu hỏi về trình độ thẩm định ảnh của các thành viên. Họ có quá khắt khe, như một thành viên trong vòng chung khảo đã nửa đùa nửa thật phát biểu:” Nếu là tôi thì không quá 10 tác phẩm đọat giải”. Hay họ không thẩm định chính xác tác phẩm theo tiêu chí ảnh báo chí, mà mang những cảm tính bản thân để nhìn và đọc tác phẩm, dẫn đến là lọai bỏ trực tiếp một số lượng ảnh lớn? Đó là chưa kể, nếu tính thời gian thẩm định khối lượng tác phẩm dự thi khổng lồ kia ở vòng sơ khảo, một thời gian quá ngắn, không biết có bị sai vì “tốc độ” thẩm định dành cho một tác phẩm gần như chỉ vài phút.
Ảnh đọat giải có thật xuất sắc?
Việc không có giải thưởng lớn có lẽ là quyết định sáng suốt của Ban giám khảo “Khỏanh khắc Vàng 03”. Nhìn vào 17 tác phẩm ảnh đọat giải có thể thấy ảnh báo chí VN rõ ràng chưa thể có tác phẩm lớn, tác phẩm gây ám ảnh, hay tác phẩm mang hiệu ứng xã hội cao.
Giải nhất ảnh đơn “Tự hào Việt Nam”- Đức Tám, là bức ảnh đẹp, hai nụ cười của vị nguyên thủ quốc gia Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Giáo sư Ngô Bảo Châu, người VN vừa được giải thưởng tóan học danh giá Fields, như đồng điệu, như niềm tự hào chung… Nhưng đây là bức ảnh mà những người trong nghề đều có thể hiểu, bởi tác giả có điều kiện (hay được) tiếp cận với nhân vật ở góc tốt nhất. Ảnh đẹp là tất nhiên. Sự kiện lại đang “nóng”, là tiêu điểm của truyền thông VN thời điểm này.. Nhưng tác phẩm chưa có được cảm xúc mạnh.
Bộ ảnh “Cứu dân trong bão lũ”- Dương Thanh Xuân, giải nhất nhóm ảnh.Có thể thấy sự lăn xả của tác giả khi tác nghiệp ở một thời điểm nguy hiểm tới tính mạng, nhưng nhìn qua các bức ảnh, thấy rõ tác giả vẫn chưa có điểm nhấn đặc trưng tinh thần “Vì nhân dân quên mình” của bộ đội trong bão lũ sông nước, thiếu ảnh tòan cảnh mà chỉ đặc tả những cảnh rời rạc, mà ảnh cũng chưa phải ở “độ gần”.Bão lũ thiên tai ở VN hàng năm là chuyện “thường tình”, nên bộ ảnh này chưa đủ sức lay động.
Bộ ảnh đồng giải nhất “Phạm Thế Minh, một tấm gương điển hình”- Vũ Dũng, dù đưa được nhân vật “da cam”, dù đưa vào sinh họat thời sự tiêu điểm :Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng thật sự ảnh vẫn chỉ mang tính chất minh họa, ít điểm nhấn về nhân vật điển hình, thậm chí có ảnh còn rất “thô”- ảnh nhận bằng khen.
Ảnh đơn “Nỗi lo lúc vượt sông Pô Kô”- Nguyễn Vinh Hiển, giải ba. Nếu lấy tiêu chí ảnh báo chí thì bức ảnh này thiếu rất nhiều thông tin. Trong ảnh không thấy sông, suối, chỉ mờ mờ rừng cây, cảnh ba người đu trên dây vượt sông cũng không rõ sự căng thẳng- kịch tính của “nỗi lo”, ảnh không mang lại điều gì cho ngừoi xem về cảm xúc…Thật sự mà nói, ảnh này thua cả ảnh minh họa cho mấy bài báo viết về sự việc này trên các báo.
Các tác phẩm đọat giải khác, phần lớn đều rơi vào khuyết điểm thông tin thiếu, hay hình ảnh không có điểm nhấn, khá chung chung… Và một đặc trưng hay thói quen của ảnh báo chí VN là sự can thiệp của kỹ thuật photoshop quá nhiều, nhìn đôi khi như ảnh giả, làm tác phẩm thiếu tính chân thực, thiếu thuyết phục cảm xúc của người xem.
Nick Út- Phóng viên ảnh báo chí AP nói về ảnh báo chí VN
Ông là một thành viên của tổ chức IMMF- Quỹ tưởng niêm các nhà báo Đông Dương, đã tham gia giảng dạy và cùng đi tác nghiệp với phóng viên ảnh VN trong mấy khóa Workshop về ảnh báo chí ở VN. Ông có một vài ý kiến trao đổi về ảnh báo chí VN hiện nay.
Ông là phóng viên ảnh (PVA) của một tập đòan truyền thông danh tiếng AP- Mỹ, được đi nhiều, chụp nhiều. Ông có thể truyền đạt vài kinh nghiệm bản thân về nghề ?
Nói về thành công của một nghề không giản dị, đòi hỏi dài dòng và nhiều yếu tố. Khuôn khổ báo chí, tôi cố gắng vắn tắt.
Một tấm hình gọi là thành công, hình đó phải chụp đúng lúc của một đề tài đang được nhiều độc giả quan tâm, mang nhiều yếu tố nhạy cảm. Khó có tấm hình thành công khi thiếu yếu tố nhạy cảm. Một đề tài không quan trọng, không mang nhiều tính cách khó khăn, vất vả khi chụp, chụp đúng lúc… thì cũng chỉ là tấm hình thường.
PVA hành nghề vất vả như một chiến sĩ ngòai chiến trường. PVA chấp nhận sự nguy hiểm của vấn đề nhạy cảm để có thể chụp ra tấm hình không ai có, tấm hình tạo ra do chấp nhận khó khăn kể cả nguy hiểm, thường là hình dễ nổi tiếng. Sự nổi tiếng của tấm hình như chiến sĩ được vinh danh.
Muốn chụp đúng lúc, PVA phải chịu khó. Chỉ có làm việc nhiều, ngày đêm thì mới có thể chụp đúng lúc. Lâu lâu chụp một lần, khó có thể đúng lúc thường xuyên. Còn làm sao chụp đúng lúc giống như chiến sĩ bắn trúng địch. PVA không chỉ có đầy đủ máy chụp, dụng cụ mà phải học hỏi cách xử dụng, thực tập và trao dồi kiến thức bằng cách xem hình ảnh của những bậc thầy, tìm hiểu cách chụp và thực tập khi cơ hội đến, ta có tấm hình chụp đúng lúc….
Làm thế nào để có được một bức ảnh tốt kể cả thông tin trong ảnh lẫn hình thức thể hiện (bố cục, ánh sáng, kỹ thuật…)
Để có tấm hình tốt, đầu tiên là PVA phải nắm yếu tố thời sự- thông tin. PVA phải thuộc lòng về cách bố cục tấm hình, giống như họa sĩ bố cục tấm tranh, nhưng khác họa sĩ, vì PVA chỉ có một vài giây xoay sở bố cục. Bạn muốn đặt chủ đề vào đúng điểm mạnh, dĩ nhịên ai cũng muốn thế, nhưng PVA đâu có bao nhiêu thời gian để sắp xếp bối cảnh cho hợp với chủ đề mình chụp.
Ánh sáng , kỹ thuật…. ai cũng muốn Thượng Đế ưu đãi PVA để anh ta hay cô ta có tấm ảnh đẹp. Nếu không được ưu đãi, chẳng lẽ bạn bó tay trước một việc xảy ra quá lý tưởng cho một PVA hành nghề?. Bạn phải ghi tên học ngay làm sao xử dụng được máy ảnh trong mọi trường hợp. Bạn phải có dụng cụ tối thiểu và bạn phải biến dụng cụ tối thiểu thành dụng cụ chụp được trong mọi hòan cảnh. Nhiều năm trong nghề, Nick Út vẫn phải mua thêm máy, vẫn học cách xử dụng máy, vẫn trao dồi nghề nghiệp….Đề tài cần yếu tố thời sự.
Riêng ông có cái nhìn như thế nào về ảnh báo chí VN thời chiến tranh và thời hòa bình? Đặc biệt là vào thời điểm hiện tại? Ông có quan tâm tới những ảnh báo chí VN đọat các giải thưởng trong nước?
Mỗi người có chủ đề khác nhau khi chụp. Họ cầm máy chụp cho ai?, Mục đích gì? Ai đặt hàng?.... Riêng Nick Út, khi chụp hình, tôi nghĩ đến độc giả. Họ muốn biết gì về chuyện xảy ra. Chiến tranh thường dễ cho PVA chụp hình hơn là hòa bình. Riêng hình ảnh VN, đối với báo chí thế giới, vẫn còn nhiều hình “ăn khách” vì lạ.
Nick Út có quan tâm những hình được giải thưởng trong nước. Hình được giải thường ca tụng một chủ đề nào đó do nhà nước đưa ra. Nhưng lại không là chủ đề đang được lưu ý ở quốc gia khác hay thế giới.
Qua mấy khóa worlkshop ở VN, ông có thể nhận xét về khả năng tác nghiệp của PVA báo chí VN như thế nào? Ảnh của họ có đạt chuẩn của một bức ảnh báo chí như cách đánh giá của ông và của truyền thông thế giới (Anh- Pháp- Mỹ là đại diện)?
Về khả năng tác nghiệp của PVA báo chí ở VN qua mấy khóa work shop, tôi nhận thấy họ có nhiều khả năng chụp ra những tác phẩm có thể cạnh tranh với thế giới, nhưng hình như họ ít có sự sáng tạo sáng tác, mà thường bị gò bó vào một chủ đề có tính cách tuyên truyền, nên ảnh nhiều khi khô cứng, nhàm chán.
Chưa kể có nhiều PVA mà tôi quen biết qua workshop (mà họ là những PVA đã qua chọn lựa như thi tuyển), có khi không nắm được kiến thức cơ bản của ảnh báo chí là như thế nào mà chụp như chụp kỷ niệm, hoặc ảnh như của người mới cầm máy, thiếu nhiều yếu tố của một PVA chuyên nghiệp.
Ông thấy phóng viên ảnh báo chí Việt Nam thiếu điều kiện gì để có thể tác nghiệp tốt hơn, hòan thiện hơn trong nghề?
PVA báo chí VN, nhiều người có phương tiện, máy móc dồi dào hơn cả phóng viên ngọai quốc, nhiều máy tối tân hơn cả PVA quốc tế (họ chỉ cần máy móc vừa đủ theo nhu cầu). Nhưng việc xử dụng hết tính năng của máy thì PVA báo chí VN chưa phát huy hết tác dụng.
Muốn họ hòan thiện hơn, ngòai trao đổi kiến thức về kỹ thuật chuyên môn của nghề báo chí, nghề nhiếp ảnh, còn cần sao cho họ có được tư duy sáng tạo thay vì giới hạn vào chủ đề với mục đích gò bó, hay theo một lối mòn mặc định sẵn từ trước tới nay của báo chí VN
Phần khác, theo cảm quan riêng của Nick Ut, thì ảnh báo chí của VN chưa được chú ý nhiều ngay cả ở báo chí VN, nên PVA báo chí VN có lẽ thế mà cũng không được rèn luyện nhiều, tự mình dễ dãi với bản thân, lười tư duy.
Lâu nay ảnh báo chí VN gần như ít được truyền thông thế giới nhắc tới hay được xử dụng. Với các giải thưởng ảnh báo chí danh tiếng như WPP, Pulitzer thì xem như khó mà chạm tới. Theo ông lý do?
Báo chí thế giới ít nhắc tới hay đăng ảnh VN vì báo chí thế giới đang đặt trọng tâm vào cuộc chiến ở một nơi nào khác như Iran, Iraq… . Biển Đông đang dậy sóng, nếu ai chụp được những hình này, những nơi phát giải thưởng thế giới về nhiếp ảnh như WPP hay Pulitzer .. sẽ lưu tâm ngay vì độc giả thế giới đang khao khát đề tài này…
Tôi cũng hy vọng PVA báo chí VN một ngày nào đó cũng đọat được những giải thưởng danh giá, uy tín về ảnh báo chí như WPP, Pulitzer. Những bức ảnh theo tôi là ứng viên của các giải thưởng lớn, có thể là thiên tai, hay những xung đột mâu thuẫn trong cuộc sống xã hội hôm nay ở nhiều khía cạnh…
Hòai Hương
Box: Một số tiêu chí của ảnh báo chí
- Ảnh có bố cục rõ ràng. Trình bày thông tin chuẩn xác, không gây hiểu lầm cho độc giả. Mỗi bức ảnh phải có trọng tâm – điểm nhìn, để tất cả các thành phần quan trọng của nó hiện lên trước mắt độc giả ngay khi họ nhìn thấy..
- Ảnh nhìn tự nhiên và sống động. Chụp người thật, làm việc thật, không nên dàn dựng. Khi nhân vật đã hòa với bối cảnh thì cần phải bắt được "khoảnh khắc vàng." Tại đó, cái thần của nhân vật thực sự được bộc lộ.
- Ảnh có chú thích rõ ràng. Nhân vật là ai, đang làm gì, như thế nào, tại đâu và khi nào..
- Ảnh phải có nội dung. Các bức ảnh phải cung cấp thông tin chứ không phải để trang trí.
- Trình bày ảnh có sự phân định, không để các bức ảnh có nền màu sáng chìm trên các trang báo nền trắng
- Khuôn mặt của nhân vật chính trong bức ảnh phải có kích thước đủ để nhìn thấy.
Nhìn lại ảnh báo chí Việt Nam
Ngày 15.9 tại HN, lễ trao giải và triển lãm cuộc thi ảnh báo chí “Khoảnh khắc vàng-03” do Thông tấn xã VN phối hợp với Hội nghệ sỹ nhiếp ảnh VN tổ chức.
Số lượng kỷ lục 8307 tác phẩm, trong đó có 5947 ảnh đơn và 1731 bộ ảnh dự thi đã tạo nên cuộc thi “Khoảnh khắc vàng-03” thành công ban đầu về mặt số lượng…Nhưng cũng từ số lượng thi và đọat giải, thẳng thắn nhìn lại chất lượng ảnh báo chí VN hiện tại thực chất như thế nào.
Từ con số đặt vấn đề ảnh báo chí VN
Theo thông tin từ Ban tổ chức cuộc thi, thì số ảnh lọt vào chung khảo chỉ còn 206 tác phẩm (ảnh đơn và bộ ảnh), để qua vòng chung khảo chỉ còn 92 tác phẩm được chọn, và tổng giải thưởng chính thức gồm các giải nhất, nhì, ba, khuyến khích là 17 tác phẩm (không tính 4 giải thưởng tác phẩm ảnh chụp bằng điện thọai di động của nhà tài trợ), không có giải thưởng lớn.
Có thể nhìn nhận ở hai khía cạnh: Chất lượng ảnh báo chí VN cần xem xét lại, hay do ban giám khảo (nhất là ở vòng sơ khảo) có thật sự công tâm và chính xác khi quyết định lọai bỏ số lượng lớn tác phẩm ảnh dự thi.
Không thể nói tác phẩm ảnh dư thi là không có chọn lựa. Bản thân tác giả khi mang tác phẩm đi thi, đã có một sự lựa chọn riêng, mang tác phẩm được xem là thành công nhất của mình. Thế nhưng chỉ qua vòng lọai thì gần 80% tác phẩm đã bị lọai không vào được vòng trong. Phải chăng chất lượng ảnh quá kém, dù là ảnh tốt nhất được mang đi dự thi? Và như thế đặt một dấu hỏi về ảnh báo chí VN đang có vấn đề về chất lượng hay bản thân phóng viên ảnh báo chí VN đang “đi xuống” về nghề nghiệp chuyên môn?
Nhưng cũng không thể bỏ qua vai trò của ban giám khảo. Có quyền đặt dấu hỏi về trình độ thẩm định ảnh của các thành viên. Họ có quá khắt khe, như một thành viên trong vòng chung khảo đã nửa đùa nửa thật phát biểu:” Nếu là tôi thì không quá 10 tác phẩm đọat giải”. Hay họ không thẩm định chính xác tác phẩm theo tiêu chí ảnh báo chí, mà mang những cảm tính bản thân để nhìn và đọc tác phẩm, dẫn đến là lọai bỏ trực tiếp một số lượng ảnh lớn? Đó là chưa kể, nếu tính thời gian thẩm định khối lượng tác phẩm dự thi khổng lồ kia ở vòng sơ khảo, một thời gian quá ngắn, không biết có bị sai vì “tốc độ” thẩm định dành cho một tác phẩm gần như chỉ vài phút.
Ảnh đọat giải có thật xuất sắc?
Việc không có giải thưởng lớn có lẽ là quyết định sáng suốt của Ban giám khảo “Khỏanh khắc Vàng 03”. Nhìn vào 17 tác phẩm ảnh đọat giải có thể thấy ảnh báo chí VN rõ ràng chưa thể có tác phẩm lớn, tác phẩm gây ám ảnh, hay tác phẩm mang hiệu ứng xã hội cao.
Giải nhất ảnh đơn “Tự hào Việt Nam”- Đức Tám, là bức ảnh đẹp, hai nụ cười của vị nguyên thủ quốc gia Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Giáo sư Ngô Bảo Châu, người VN vừa được giải thưởng tóan học danh giá Fields, như đồng điệu, như niềm tự hào chung… Nhưng đây là bức ảnh mà những người trong nghề đều có thể hiểu, bởi tác giả có điều kiện (hay được) tiếp cận với nhân vật ở góc tốt nhất. Ảnh đẹp là tất nhiên. Sự kiện lại đang “nóng”, là tiêu điểm của truyền thông VN thời điểm này.. Nhưng tác phẩm chưa có được cảm xúc mạnh.
Bộ ảnh “Cứu dân trong bão lũ”- Dương Thanh Xuân, giải nhất nhóm ảnh.Có thể thấy sự lăn xả của tác giả khi tác nghiệp ở một thời điểm nguy hiểm tới tính mạng, nhưng nhìn qua các bức ảnh, thấy rõ tác giả vẫn chưa có điểm nhấn đặc trưng tinh thần “Vì nhân dân quên mình” của bộ đội trong bão lũ sông nước, thiếu ảnh tòan cảnh mà chỉ đặc tả những cảnh rời rạc, mà ảnh cũng chưa phải ở “độ gần”.Bão lũ thiên tai ở VN hàng năm là chuyện “thường tình”, nên bộ ảnh này chưa đủ sức lay động.
Bộ ảnh đồng giải nhất “Phạm Thế Minh, một tấm gương điển hình”- Vũ Dũng, dù đưa được nhân vật “da cam”, dù đưa vào sinh họat thời sự tiêu điểm :Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng thật sự ảnh vẫn chỉ mang tính chất minh họa, ít điểm nhấn về nhân vật điển hình, thậm chí có ảnh còn rất “thô”- ảnh nhận bằng khen.
Ảnh đơn “Nỗi lo lúc vượt sông Pô Kô”- Nguyễn Vinh Hiển, giải ba. Nếu lấy tiêu chí ảnh báo chí thì bức ảnh này thiếu rất nhiều thông tin. Trong ảnh không thấy sông, suối, chỉ mờ mờ rừng cây, cảnh ba người đu trên dây vượt sông cũng không rõ sự căng thẳng- kịch tính của “nỗi lo”, ảnh không mang lại điều gì cho ngừoi xem về cảm xúc…Thật sự mà nói, ảnh này thua cả ảnh minh họa cho mấy bài báo viết về sự việc này trên các báo.
Các tác phẩm đọat giải khác, phần lớn đều rơi vào khuyết điểm thông tin thiếu, hay hình ảnh không có điểm nhấn, khá chung chung… Và một đặc trưng hay thói quen của ảnh báo chí VN là sự can thiệp của kỹ thuật photoshop quá nhiều, nhìn đôi khi như ảnh giả, làm tác phẩm thiếu tính chân thực, thiếu thuyết phục cảm xúc của người xem.
Nick Út- Phóng viên ảnh báo chí AP nói về ảnh báo chí VN
Ông là một thành viên của tổ chức IMMF- Quỹ tưởng niêm các nhà báo Đông Dương, đã tham gia giảng dạy và cùng đi tác nghiệp với phóng viên ảnh VN trong mấy khóa Workshop về ảnh báo chí ở VN. Ông có một vài ý kiến trao đổi về ảnh báo chí VN hiện nay.
Ông là phóng viên ảnh (PVA) của một tập đòan truyền thông danh tiếng AP- Mỹ, được đi nhiều, chụp nhiều. Ông có thể truyền đạt vài kinh nghiệm bản thân về nghề ?
Nói về thành công của một nghề không giản dị, đòi hỏi dài dòng và nhiều yếu tố. Khuôn khổ báo chí, tôi cố gắng vắn tắt.
Một tấm hình gọi là thành công, hình đó phải chụp đúng lúc của một đề tài đang được nhiều độc giả quan tâm, mang nhiều yếu tố nhạy cảm. Khó có tấm hình thành công khi thiếu yếu tố nhạy cảm. Một đề tài không quan trọng, không mang nhiều tính cách khó khăn, vất vả khi chụp, chụp đúng lúc… thì cũng chỉ là tấm hình thường.
PVA hành nghề vất vả như một chiến sĩ ngòai chiến trường. PVA chấp nhận sự nguy hiểm của vấn đề nhạy cảm để có thể chụp ra tấm hình không ai có, tấm hình tạo ra do chấp nhận khó khăn kể cả nguy hiểm, thường là hình dễ nổi tiếng. Sự nổi tiếng của tấm hình như chiến sĩ được vinh danh.
Muốn chụp đúng lúc, PVA phải chịu khó. Chỉ có làm việc nhiều, ngày đêm thì mới có thể chụp đúng lúc. Lâu lâu chụp một lần, khó có thể đúng lúc thường xuyên. Còn làm sao chụp đúng lúc giống như chiến sĩ bắn trúng địch. PVA không chỉ có đầy đủ máy chụp, dụng cụ mà phải học hỏi cách xử dụng, thực tập và trao dồi kiến thức bằng cách xem hình ảnh của những bậc thầy, tìm hiểu cách chụp và thực tập khi cơ hội đến, ta có tấm hình chụp đúng lúc….
Làm thế nào để có được một bức ảnh tốt kể cả thông tin trong ảnh lẫn hình thức thể hiện (bố cục, ánh sáng, kỹ thuật…)
Để có tấm hình tốt, đầu tiên là PVA phải nắm yếu tố thời sự- thông tin. PVA phải thuộc lòng về cách bố cục tấm hình, giống như họa sĩ bố cục tấm tranh, nhưng khác họa sĩ, vì PVA chỉ có một vài giây xoay sở bố cục. Bạn muốn đặt chủ đề vào đúng điểm mạnh, dĩ nhịên ai cũng muốn thế, nhưng PVA đâu có bao nhiêu thời gian để sắp xếp bối cảnh cho hợp với chủ đề mình chụp.
Ánh sáng , kỹ thuật…. ai cũng muốn Thượng Đế ưu đãi PVA để anh ta hay cô ta có tấm ảnh đẹp. Nếu không được ưu đãi, chẳng lẽ bạn bó tay trước một việc xảy ra quá lý tưởng cho một PVA hành nghề?. Bạn phải ghi tên học ngay làm sao xử dụng được máy ảnh trong mọi trường hợp. Bạn phải có dụng cụ tối thiểu và bạn phải biến dụng cụ tối thiểu thành dụng cụ chụp được trong mọi hòan cảnh. Nhiều năm trong nghề, Nick Út vẫn phải mua thêm máy, vẫn học cách xử dụng máy, vẫn trao dồi nghề nghiệp….Đề tài cần yếu tố thời sự.
Riêng ông có cái nhìn như thế nào về ảnh báo chí VN thời chiến tranh và thời hòa bình? Đặc biệt là vào thời điểm hiện tại? Ông có quan tâm tới những ảnh báo chí VN đọat các giải thưởng trong nước?
Mỗi người có chủ đề khác nhau khi chụp. Họ cầm máy chụp cho ai?, Mục đích gì? Ai đặt hàng?.... Riêng Nick Út, khi chụp hình, tôi nghĩ đến độc giả. Họ muốn biết gì về chuyện xảy ra. Chiến tranh thường dễ cho PVA chụp hình hơn là hòa bình. Riêng hình ảnh VN, đối với báo chí thế giới, vẫn còn nhiều hình “ăn khách” vì lạ.
Nick Út có quan tâm những hình được giải thưởng trong nước. Hình được giải thường ca tụng một chủ đề nào đó do nhà nước đưa ra. Nhưng lại không là chủ đề đang được lưu ý ở quốc gia khác hay thế giới.
Qua mấy khóa worlkshop ở VN, ông có thể nhận xét về khả năng tác nghiệp của PVA báo chí VN như thế nào? Ảnh của họ có đạt chuẩn của một bức ảnh báo chí như cách đánh giá của ông và của truyền thông thế giới (Anh- Pháp- Mỹ là đại diện)?
Về khả năng tác nghiệp của PVA báo chí ở VN qua mấy khóa work shop, tôi nhận thấy họ có nhiều khả năng chụp ra những tác phẩm có thể cạnh tranh với thế giới, nhưng hình như họ ít có sự sáng tạo sáng tác, mà thường bị gò bó vào một chủ đề có tính cách tuyên truyền, nên ảnh nhiều khi khô cứng, nhàm chán.
Chưa kể có nhiều PVA mà tôi quen biết qua workshop (mà họ là những PVA đã qua chọn lựa như thi tuyển), có khi không nắm được kiến thức cơ bản của ảnh báo chí là như thế nào mà chụp như chụp kỷ niệm, hoặc ảnh như của người mới cầm máy, thiếu nhiều yếu tố của một PVA chuyên nghiệp.
Ông thấy phóng viên ảnh báo chí Việt Nam thiếu điều kiện gì để có thể tác nghiệp tốt hơn, hòan thiện hơn trong nghề?
PVA báo chí VN, nhiều người có phương tiện, máy móc dồi dào hơn cả phóng viên ngọai quốc, nhiều máy tối tân hơn cả PVA quốc tế (họ chỉ cần máy móc vừa đủ theo nhu cầu). Nhưng việc xử dụng hết tính năng của máy thì PVA báo chí VN chưa phát huy hết tác dụng.
Muốn họ hòan thiện hơn, ngòai trao đổi kiến thức về kỹ thuật chuyên môn của nghề báo chí, nghề nhiếp ảnh, còn cần sao cho họ có được tư duy sáng tạo thay vì giới hạn vào chủ đề với mục đích gò bó, hay theo một lối mòn mặc định sẵn từ trước tới nay của báo chí VN
Phần khác, theo cảm quan riêng của Nick Ut, thì ảnh báo chí của VN chưa được chú ý nhiều ngay cả ở báo chí VN, nên PVA báo chí VN có lẽ thế mà cũng không được rèn luyện nhiều, tự mình dễ dãi với bản thân, lười tư duy.
Lâu nay ảnh báo chí VN gần như ít được truyền thông thế giới nhắc tới hay được xử dụng. Với các giải thưởng ảnh báo chí danh tiếng như WPP, Pulitzer thì xem như khó mà chạm tới. Theo ông lý do?
Báo chí thế giới ít nhắc tới hay đăng ảnh VN vì báo chí thế giới đang đặt trọng tâm vào cuộc chiến ở một nơi nào khác như Iran, Iraq… . Biển Đông đang dậy sóng, nếu ai chụp được những hình này, những nơi phát giải thưởng thế giới về nhiếp ảnh như WPP hay Pulitzer .. sẽ lưu tâm ngay vì độc giả thế giới đang khao khát đề tài này…
Tôi cũng hy vọng PVA báo chí VN một ngày nào đó cũng đọat được những giải thưởng danh giá, uy tín về ảnh báo chí như WPP, Pulitzer. Những bức ảnh theo tôi là ứng viên của các giải thưởng lớn, có thể là thiên tai, hay những xung đột mâu thuẫn trong cuộc sống xã hội hôm nay ở nhiều khía cạnh…
Hòai Hương
Box: Một số tiêu chí của ảnh báo chí
- Ảnh có bố cục rõ ràng. Trình bày thông tin chuẩn xác, không gây hiểu lầm cho độc giả. Mỗi bức ảnh phải có trọng tâm – điểm nhìn, để tất cả các thành phần quan trọng của nó hiện lên trước mắt độc giả ngay khi họ nhìn thấy..
- Ảnh nhìn tự nhiên và sống động. Chụp người thật, làm việc thật, không nên dàn dựng. Khi nhân vật đã hòa với bối cảnh thì cần phải bắt được "khoảnh khắc vàng." Tại đó, cái thần của nhân vật thực sự được bộc lộ.
- Ảnh có chú thích rõ ràng. Nhân vật là ai, đang làm gì, như thế nào, tại đâu và khi nào..
- Ảnh phải có nội dung. Các bức ảnh phải cung cấp thông tin chứ không phải để trang trí.
- Trình bày ảnh có sự phân định, không để các bức ảnh có nền màu sáng chìm trên các trang báo nền trắng
- Khuôn mặt của nhân vật chính trong bức ảnh phải có kích thước đủ để nhìn thấy.
Le hội "đâm, chém" thời hội nhập
Lễ hội “đâm, chém” thời hội nhập
Theo thống kê tính đến tháng 6.2010 của Bộ Văn hóa-Thể thao & Du lịch, hiện Việt Nam có 7.966 lễ hội chính thức, chia làm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài vào, lễ hội văn hóa thể thao & du lịch - loại hình lễ hội mới, từ khi đất nước đổi mới và hội nhập. Trong đó có khỏang 500 lễ hội dân gian cấp tỉnh & quốc gia (trong số 7005 lễ hội dân gian truyền thống).
Trong số gần 500 lễ hội dân gian, thì số lượng lễ hội “đâm, chém, chọi” gia súc như trâu, lợn (heo)… không nhiều, chưa hết số đếm hai bàn tay. Nhưng tính chất “đẫm máu” và bạo lực của mấy lễ hội này trong hiện tại và trong xu thế hội nhập, liệu có thích hợp khi thế giới luôn kêu gọi con người hãy sống hiền hòa, nhân bản, nền văn minh trong thế kỷ 21 tôn trọng tất cả sự sống trên trái đất?
Phác thảo vài lễ hội “đâm, chém, chọi”.
Lễ hội đâm trâu: Lễ hội truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên. Hàng năm cứ sau mỗi mùa rẫy bà con dân tộc thiểu số ở các buôn làng thuộc khu vực dãy Trường Sơn- Tây Nguyên và một số vùng khác thuộc miền Trung lại tổ chức lễ hội thần N'du và các vị thần khác nhằm tạ ơn các vị thần đã phù hộ cho dân làng trong một năm được bình an,mùa màng ấm no, mạnh khỏe hạnh phúc. Lễ “Sa-rơpu” (ăn trâu ) thường gọi là Tết Thượng hay lễ Đâm Trâu được tổ chức từ tháng 12 đến tháng 3 âm lịch.
Lễ hội Đâm trâu với biểu tượng “cây nêu thần” là một sinh hoạt văn hoá dân gian nổi bật nhất, mang tính tổng hợp cao, có ý tưởng mong muốn cuộc sống ấm no, hạnh phúc, trở thành một nghi lễ độc đáo trong các ngày hội của buôn làng như lễ hội mừng lúa mới, mừng nhà rông, mừng được mùa. Đây là những ngày hội thực sự mang những nét văn hóa truyền thống như âm nhạc, sân khấu, múa hát, múa kiếm, nghệ thuật tạo hình, thể hiện rõ yếu tố cộng đồng, tình yêu thiên nhiên, thần linh được gắn với nhau chặt chẽ, là sự kế tục truyền thống văn hóa xa xưa của người Tây Nguyên. Từ người Stiêng, Bahnar, Cờ tu, Êđê, Xê đăng, Yẻh, Xeđrá đến người Brâu đâu cũng có lễ hội đâm trâu, dù nghi thức lễ hội mỗi nơi tuy có khác nhau nhưng mục đích thì giống nhau.
Họ dắt một con trâu khỏe mạnh, dáng đẹp, đem buộc chặt vào cột “Gingga” trước sân nhà Rông. Có một cây lồ ô tượng trưng cho tay thần, cắm cao chính giữa. Trói thêm một con heo lớn áp sát vào cột để chứng tỏ sự trù phú của buôn làng. Sau các màn múa hát họ bắt đầu đâm trâu. Chàng nào chỉ đâm một nhát mà trâu chết ngay thì được khen ngợi. Trâu ngã xuống bắt đầu xẻ thịt chia đều cho từng bếp trong buôn làng. Một phần thịt trâu được dành lại ăn uống chung tại nhà Rông. Đầu trâu được gác lên cột lề. Sáng ngày sau còn có lễ rước đầu trâu lên nhà Rông. Đầu trâu được chẻ ra làm món ăn. Riêng cặp sừng được giữ lại và treo lên vách nhà Rông. Người làng còn lấy máu trâu hòa với rượu để rửa những bảo vật truyền kiếp nhà Rông…
Lễ chém lợn: Vào ngày 6.1 âm lịch, thuộc thôn Ném Thượng, xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội liên quan đến tín ngưỡng phồn thực: chém lợn tế thánh. Tục truyền rằng: có một vị tướng cuối đời Lý tên Lý Đoàn Thượng, khi đánh trận chạy đến vùng núi này đồn trú đã chém lợn rừng nuôi quân. Từ đó, người dân đã mở hội chém lợn hằng năm để tưởng nhớ đến người có công khai khẩn vùng đất hoang vu này.Theo tín ngưỡng dân gian của vùng quê Kinh Bắc, máu lợn trong lễ tế thánh tượng trưng cho sự sung túc, khả năng sinh sản, sức sống tràn trề, mùa màng bội thu...
Lễ hội "Chạy lợn" làng Diền. Được tổ chức từ ngày 5- 8.1 âm lịch tại Phú Yên, Hà Nội. Tái hiện cảnh đức Thánh Cao Sơn Đại Vương khao quân trước khi lên đường dẹp giặc. Thời Vua Hùng, tướng Cao Sơn Đại Vương trong một lần hành quân qua làng Diền đã nghỉ qua đêm tại đình Thượng, các bô lão trong làng xin được làm cỗ khao quân. Tướng quân đồng ý nhưng với yêu cầu phải làm thật nhanh để còn kịp hành quân đuổi giặc. Kể từ đó, lễ hội Chạy Lợn được tổ chức 5 năm 1 lần nhằm tưởng nhớ việc này. Ngay sau khi có trống lệnh, 3 xóm, hay còn gọi là giáp (trước năm 1945 là 5 xóm), mỗi xóm có một đội gồm 21 người được phân công đảm nhiệm các phần việc mổ lợn và bày cỗ, sao cho trong vòng từ 2-3 phút phải có một mâm cỗ đủ 9 đĩa dâng lên Thánh, với thủ, đuôi, bát tiết, các miếng thịt vuông vức khoảng 10 cm2 (tề mông, gàu o (ức), gàu bụng), cùng tim, phổi, bầu dục, lá lách... Và nhất thiết phải có lá mỡ chài phủ lên thủ lợn (ngậm đuôi) để trang trí mâm cỗ, mới được chấm điểm.
Lễ hội chọi trâu: Được tổ chức ở một số địa phương như Đồ Sơn- Hải Phòng vào ngày 9.8 âm lịch hàng năm, Hải Lựu- Lập Thạch- Vĩnh Phúc vào ngày 7.1 âm lịch, Phù Ninh- Phú Thọ mới đựoc phục hồi năm 2009 sau 60 năm gián đọan, diễn ra từ ngày 14-15.2 âm lịch. Ngòai ra lần đâu tiên Lễ hội chọi trâu được diễn ra tại Nghi Thái- Nghi Lộc- Nghệ An vào ngày 17/9/2010.
Trâu phải là những con trâu đực khỏe mạnh, da đồng, lông móc, một khoang bốn khoáy, hàm đen, tóc tráp (lông trên đầu cứng, dày để tránh nắng), có ức rộng, cổ tròn dài và hơi thu nhỏ về phía đầu, lưng càng dày, càng phẳng có khả năng chống chịu được đòn của đối phương, háng phải rộng nhưng thu nhỏ về phía hậu càng nhọn càng quý.,sừng phải đen như mun, đầu sừng vênh lên như hai cánh cung, giữa hai sừng có túm tóc hình chóp trên đỉnh đầu là khoáy tròn, mắt phải đen, tròng đỏ…
Trường đấu thường là những bãi đất rộng, có nhiều người đứng xung quanh gõ trống và hò hét. Người huấn luyện, phủ cờ đỏ lên đầu trâu, mình trâu để cho trâu quen dần với không khí. Bắt đầu từ hai phía của sới chọi, "ông trâu" được dẫn ra có người che lọng và múa cờ hai bên. Khi hai "ông trâu" cách nhau 20 m, người dắt nhanh chóng rút "sẹo" cho trâu rồi khẩn trương thoát ra ngoài sới chọi. Hai trâu lao vào nhau với tốc độ khủng khiếp, hai đôi sừng đập vào nhau kêu chan chát... Cứ thế, hai trâu chọi nhau quyết liệt giữa tiếng hò reo vang dậy của hàng ngàn khán giả.
Kết thúc lễ hội chọi trâu con thắng làm một cuộc rước giải về đình làm lễ tế thần. Tất cả mọi người dân đều theo, tập tục của từng địa phương, các trâu tham gia chọi, dù thắng, dù thua, đều phải giết thịt. Lấy một bát tiết cùng một ít lông của trâu (mao huyết) để cúng thần, sau đó đổ xuống ao để tiễn thần. Mọi người cùng ăn chúc phúc. Truyền rằng, sau khi ăn thịt con trâu thắng cuộc, mọi người sẽ gặp được may mắn, đặc biệt là những người dân đi biển.
Lễ hội là một phần của cuộc sống văn hóa tâm linh
VN có một bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước, có một “đại gia đình” 54 dân tộc anh em và trên hết là niềm tự hào về một nền văn hiến 4000 năm với những đặc trưng của nền văn minh lúa nước. Những truyền thuyết, huyền thọai được truyền lại như dấu ấn của bản lĩnh, khí phách kiên cường trước mọi thử thách cả thiên tai, địch họa, để rồi dần lắng đọng, kết tinh rồi thăng hoa thành những tinh hoa trong cuộc sống tâm linh, trong bản sắc văn hóa của dân tộc.
Những lễ hội dân gian truyền thống là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân VN. Nó cũng như một sợi dây nối quá khứ với hiện tại và tương lai, làm một cái nền vững chắc để người dân VN có thể đương dầu với mọi sóng gió “đồng hóa”, “hòa tan” của các thế lực ngọai bang, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, di sản vô giá để chiến thắng mọi cường quyền, bạo lực, giữ gìn đất nước VN độc lập, trường tồn, vững mạnh.
Nhưng, lễ hội cũng có những mặt trái của nó, nếu như quá lạm dụng vì một mục đích ngòai văn hóa. “…với nhiều lý do khác nhau, đã và đang xuất hiện xu hướng nâng cấp lễ hội lên tầm cao hơn như cấp quốc gia, festival; việc áp đặt suy nghĩ chủ quan, đưa các yếu tố hiện đại không phù hợp vào nội dung của lễ hội dân gian, sự can thiệp quá sâu và cụ thể của các cấp chính quyền vào lễ hội… dẫn đến hiện tượng đáng cảnh báo là làm đơn điệu hóa, trần tục hóa, quan phương hóa và thương mại hóa lễ hội…Thực trạng này đang làm giảm đi giá trị chân thực vốn có của lễ hội, làm sai lệch giá trị của lễ hội , làm phai mờ bản sắc văn hóa của lễ hội; thiếu sự tôn trọng đối với chủ thể văn hóa, truyền thống và tập quán của cộng đồng”- Trích Tổng kết Hội thảo công tác quản lý lễ hội dân gian,2.6.2010 tại Hải Dương.
Cũng vì nhiều “biến thể” không giữ tòan vẹn ý nghĩa nguyên thủy của lễ hội mà nhiều lễ hội đã trở thành những “hủ tục” gây nhiều tranh cãi. Đặc biệt là những lễ hội có hình thức “đâm, chém, chọi” các gia súc, vật nuôi, với những cảnh “đầu rơi, máu chảy”, chỉ chú trọng thuần túy đến cảnh đâm giết, xem nhẹ các hoạt động khác, làm biến tướng dẫn đến hiểu sai về mục đích, tính chất của lễ hội chưa kể cảnh tượng “cuồng nộ” của những người tham gia vào các lễ hội đó đã một phần nào gây ra hình ảnh phản cảm của một lễ hội mang tính tâm linh, tế lễ thần linh nguyên gốc.
Nên giữ hay nên bỏ và giữ như thế nào, bỏ thì bỏ làm sao mà không đụng chạm đến vấn đề tự do tín ngưỡng tâm linh, đến chính sách dân tộc và việc bảo tồn di sản văn hóa truyền thống trong những lễ hội nói chung, và lễ hội “đâm, chém, chọi” trâu, lợn nói riêng?
Ý kiến một số nhà văn
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng: Tôi không thích những trò này. Dã man quá. Đúng là một lễ hội truyền thống mang tính tâm linh, nhưng bây giờ thành như một thú vui, nhiều người thích, không thể bỏ được. Nhưng theo ý tôi là không nên phát huy mấy lễ hội “bạo lực” này, chứng kiến cảnh đám đông con người đứng nhìn con vật bị trói, bị đâm be bét máu, hò hét vui vẻ, phấn khích, thấy sao tàn nhẫn, mọi rợ. Thiết nghĩ, nên dần bỏ mấy lễ hội “đâm, chém, chọi” này, và bảo tồn theo kiểu bảo tàng dân tộc học như một di sản “phi vật thể”, chứ không nên hiện thực quá thành “vật thể” mà vô hình khuyến khích sự “khát máu” không phù hợp với văn minh thế kỷ 21.
Nhà thơ Lê Giang: Từ lâu tôi đã than phiền về mấy lễ hội, nhất là lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên. Thà giết mổ, ăn thịt con vật một cách bình thường, chứ hành hạ nó một cách dã man như thuở xa xưa nguyên thủy mông muội, rồi xẻ thịt ăn, thật bất nhẫn. Tôi thấy nên để mấy lễ hội có giết chóc kiểu “đâm, chém, chọi” như hiện thời vào bảo tàng, đừng lấy cớ giữ gìn, phát huy rồi tìm cách phát triển lên, tôi không thấy tác dụng của vấn đề văn hóa tâm linh, nó đã bị mai một bới nhiều thứ ngọai lai làm biến tướng, mà chỉ thấy cái sự hung dữ của con ngừoi.
Nhà văn, dịch giả Phan Nhật Chiêu: Tôi chưa một lần tham dự trực tiếp mấy lễ hội đó, nhưng có theo dõi qua các phương tiện truyền thông.Và tôi cũng đã quyết định không tham gia xem mấy lễ hội “đẫm máu” đó. Tôi nhớ vở kịch của Tagor :Lễ máu. Ông ta lúc nào cũng phản đối những lễ hiến tế bằng sinh mạng( cả con người và con vật).Ông viết vở kịch vào thời kỳ chiến tranh, nên ông cho chiến tranh là một sự khai triển lễ hiến tế máu. Thật sự của lễ hiến tế máu là lễ tế thần bạo lực.
Theo ý tôi, mấy lễ tế có “máu” này không thể bỏ được vì dính dáng đến nhiều vấn đề về dân tộc và văn hóa tín ngưỡng, nhưng không nên phát huy, quảng bá rầm rộ. Không thể xem như đây là nét đẹp của văn hóa dân tộc mà khai thác nhằm thu hút du lịch. Những lễ hội như thế này nên ở trong phạm vị nhỏ hẹp, như một phong tục của làng xã, không nên khuếch trương lên, rồi thành một cuộc biểu diễn trò sát sinh trứơc mặt con người. Theo tôi đó là phi văn hóa, cũng là một kiểu “Lễ máu”.
Nhà văn Mường Mán: Thật sự mấy lễ hội đó không có tính nhân bản, không phù hợp với cuộc sống văn minh bây giờ. Tại sao không mô phỏng lại, và bảo tồn theo một cách nhân văn hơn, ví dụ như kiểu làm hàng mã, diễn lại trò, mà cứ phải hiện thực hóa cảnh đâm chém. Con vật cũng có quyền tồn tại như con người. Cái phần là “thực phẩm” để nuôi con người thuộc một khía cạnh khác, giết mổ trong lò mổ, hay khuất mặt ngừoi ăn thịt. Đàng này hò reo, la hét trước sự bất lực của con vật đang bị đâm, chém, máu me đầm đìa… Dã man quá. Theo tôi, có bỏ lễ hội này cũng chẳng mất đi đặc trưng văn hóa quốc gia.
Nhà thơ người Chăm Inrasara: Lễ tục nào bất kì luôn gắn với một/ vài chuyện kể để minh giải một mảnh văn hóa của cộng đồng tộc người nào đó. Nó có thể tàn bạo hay ghê tởm, thậm chí bất nhân với con mắt nhìn của người đương thời, dù trước đó nó phù hợp với quan niệm của cộng đồng trong giai đoạn lịch sử nhất định.
Thời đại hôm nay đã khác, thế giới đã thành một làng – làng toàn cầu; và internet đã mang thông tin đến tận hang cùng ngõ hẻm của trái đất. Các nền văn hóa con người đang xích lại gần nhau hơn bao giờ hết. Nên, không khó hiểu khi các lễ tục mang dáng vẻ phi nhân và tàn bạo dễ gây dị ứng với cộng đồng nhân loại hiện đại. Lễ tục nào bất kì đều do con người sáng tạo, và con người có quyền thay đổi nó.
Chỉ cần thay đổi phương cách hay, dấn thêm một bước: Có thể từ bỏ nó khi thấy nó đã quá lạc hậu.
Lễ đâm trâu chẳng hạn. Người Chăm cũng có lễ tục này. Nhưng khi giết con vật để tế thần, họ đọc thần chú xin lỗi linh hồn nó. Thao tác giết cũng gọn nhẹ: Trâu được buộc chặt vào hố sâu đào sẵn không cho con người nhìn thấy trâu giẫy giụa; ba nhánh lá xanh che kín cổ trâu không cho máu bắn ra ngoài; lưỡi gươm cực sắc để chỉ cần 3 nhát kéo lên xuống là kết thúc cuộc hiến tế.
Nhà văn trẻ Trương Anh Quốc: Nếu lễ hội đâm trâu mà diễn ra ở TP.HCM thì không ai chấp nhận được, như khi nó ở mấy buôn làng Tây Nguyên thì lại khác. Nhưng đúng là so với “nguyên gốc” thì lễ hội đã bị mất gốc rồi, vì người ta đã làm biến thái nó, phục vụ cho mục đích biểu diễn, du lịch- thương mại nhiều hơn. Nên ý nghĩa của nó cũng mai một, đôi khi còn phản tác dụng.Tôi chỉ ví dụ như voi Tây Nguyên, là để kéo gỗ, chở đồ… nhưng bây giờ người ta bóc lột sức của nó để phục vụ du lịch- Chở khách đi tham quan, ròng rã cả ngày, cả tháng, năm… mà không được chăm sóc đầy đủ.
Tôi chỉ nghĩ là không nên cổ súy cho những lễ hội như vậy. Và du lịch đừng can thiệp vào mà làm biến chất của lễ hội. Từ một ý nghĩa tâm linh tích cực mà trở thành sự tàn nhẫn của con người.
Có lẽ cần phải nhìn nhận lại một cách nghiêm túc “thấu tình, đạt lý” về việc bảo tồn, phát huy những lễ hội “đâm, chém, chọi”… các con vật trong chuỗi các lễ hội dân gian truyền thống. Đễ lễ hội không bị biến tứớng ý nghĩa và trở thành nơi có thể là mầm mống của bạo lực đang rất phổ biến trong cuộc sống xã hội hôm nay. Và cũng là phù hợp với văn minh của kỷ nguyên mới, khi VN đang hội nhập với thế giới, cùng đối thọai với các nền văn minh khác của nhân lọai./.
Hòai Hương
Theo thống kê tính đến tháng 6.2010 của Bộ Văn hóa-Thể thao & Du lịch, hiện Việt Nam có 7.966 lễ hội chính thức, chia làm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài vào, lễ hội văn hóa thể thao & du lịch - loại hình lễ hội mới, từ khi đất nước đổi mới và hội nhập. Trong đó có khỏang 500 lễ hội dân gian cấp tỉnh & quốc gia (trong số 7005 lễ hội dân gian truyền thống).
Trong số gần 500 lễ hội dân gian, thì số lượng lễ hội “đâm, chém, chọi” gia súc như trâu, lợn (heo)… không nhiều, chưa hết số đếm hai bàn tay. Nhưng tính chất “đẫm máu” và bạo lực của mấy lễ hội này trong hiện tại và trong xu thế hội nhập, liệu có thích hợp khi thế giới luôn kêu gọi con người hãy sống hiền hòa, nhân bản, nền văn minh trong thế kỷ 21 tôn trọng tất cả sự sống trên trái đất?
Phác thảo vài lễ hội “đâm, chém, chọi”.
Lễ hội đâm trâu: Lễ hội truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên. Hàng năm cứ sau mỗi mùa rẫy bà con dân tộc thiểu số ở các buôn làng thuộc khu vực dãy Trường Sơn- Tây Nguyên và một số vùng khác thuộc miền Trung lại tổ chức lễ hội thần N'du và các vị thần khác nhằm tạ ơn các vị thần đã phù hộ cho dân làng trong một năm được bình an,mùa màng ấm no, mạnh khỏe hạnh phúc. Lễ “Sa-rơpu” (ăn trâu ) thường gọi là Tết Thượng hay lễ Đâm Trâu được tổ chức từ tháng 12 đến tháng 3 âm lịch.
Lễ hội Đâm trâu với biểu tượng “cây nêu thần” là một sinh hoạt văn hoá dân gian nổi bật nhất, mang tính tổng hợp cao, có ý tưởng mong muốn cuộc sống ấm no, hạnh phúc, trở thành một nghi lễ độc đáo trong các ngày hội của buôn làng như lễ hội mừng lúa mới, mừng nhà rông, mừng được mùa. Đây là những ngày hội thực sự mang những nét văn hóa truyền thống như âm nhạc, sân khấu, múa hát, múa kiếm, nghệ thuật tạo hình, thể hiện rõ yếu tố cộng đồng, tình yêu thiên nhiên, thần linh được gắn với nhau chặt chẽ, là sự kế tục truyền thống văn hóa xa xưa của người Tây Nguyên. Từ người Stiêng, Bahnar, Cờ tu, Êđê, Xê đăng, Yẻh, Xeđrá đến người Brâu đâu cũng có lễ hội đâm trâu, dù nghi thức lễ hội mỗi nơi tuy có khác nhau nhưng mục đích thì giống nhau.
Họ dắt một con trâu khỏe mạnh, dáng đẹp, đem buộc chặt vào cột “Gingga” trước sân nhà Rông. Có một cây lồ ô tượng trưng cho tay thần, cắm cao chính giữa. Trói thêm một con heo lớn áp sát vào cột để chứng tỏ sự trù phú của buôn làng. Sau các màn múa hát họ bắt đầu đâm trâu. Chàng nào chỉ đâm một nhát mà trâu chết ngay thì được khen ngợi. Trâu ngã xuống bắt đầu xẻ thịt chia đều cho từng bếp trong buôn làng. Một phần thịt trâu được dành lại ăn uống chung tại nhà Rông. Đầu trâu được gác lên cột lề. Sáng ngày sau còn có lễ rước đầu trâu lên nhà Rông. Đầu trâu được chẻ ra làm món ăn. Riêng cặp sừng được giữ lại và treo lên vách nhà Rông. Người làng còn lấy máu trâu hòa với rượu để rửa những bảo vật truyền kiếp nhà Rông…
Lễ chém lợn: Vào ngày 6.1 âm lịch, thuộc thôn Ném Thượng, xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Lễ hội liên quan đến tín ngưỡng phồn thực: chém lợn tế thánh. Tục truyền rằng: có một vị tướng cuối đời Lý tên Lý Đoàn Thượng, khi đánh trận chạy đến vùng núi này đồn trú đã chém lợn rừng nuôi quân. Từ đó, người dân đã mở hội chém lợn hằng năm để tưởng nhớ đến người có công khai khẩn vùng đất hoang vu này.Theo tín ngưỡng dân gian của vùng quê Kinh Bắc, máu lợn trong lễ tế thánh tượng trưng cho sự sung túc, khả năng sinh sản, sức sống tràn trề, mùa màng bội thu...
Lễ hội "Chạy lợn" làng Diền. Được tổ chức từ ngày 5- 8.1 âm lịch tại Phú Yên, Hà Nội. Tái hiện cảnh đức Thánh Cao Sơn Đại Vương khao quân trước khi lên đường dẹp giặc. Thời Vua Hùng, tướng Cao Sơn Đại Vương trong một lần hành quân qua làng Diền đã nghỉ qua đêm tại đình Thượng, các bô lão trong làng xin được làm cỗ khao quân. Tướng quân đồng ý nhưng với yêu cầu phải làm thật nhanh để còn kịp hành quân đuổi giặc. Kể từ đó, lễ hội Chạy Lợn được tổ chức 5 năm 1 lần nhằm tưởng nhớ việc này. Ngay sau khi có trống lệnh, 3 xóm, hay còn gọi là giáp (trước năm 1945 là 5 xóm), mỗi xóm có một đội gồm 21 người được phân công đảm nhiệm các phần việc mổ lợn và bày cỗ, sao cho trong vòng từ 2-3 phút phải có một mâm cỗ đủ 9 đĩa dâng lên Thánh, với thủ, đuôi, bát tiết, các miếng thịt vuông vức khoảng 10 cm2 (tề mông, gàu o (ức), gàu bụng), cùng tim, phổi, bầu dục, lá lách... Và nhất thiết phải có lá mỡ chài phủ lên thủ lợn (ngậm đuôi) để trang trí mâm cỗ, mới được chấm điểm.
Lễ hội chọi trâu: Được tổ chức ở một số địa phương như Đồ Sơn- Hải Phòng vào ngày 9.8 âm lịch hàng năm, Hải Lựu- Lập Thạch- Vĩnh Phúc vào ngày 7.1 âm lịch, Phù Ninh- Phú Thọ mới đựoc phục hồi năm 2009 sau 60 năm gián đọan, diễn ra từ ngày 14-15.2 âm lịch. Ngòai ra lần đâu tiên Lễ hội chọi trâu được diễn ra tại Nghi Thái- Nghi Lộc- Nghệ An vào ngày 17/9/2010.
Trâu phải là những con trâu đực khỏe mạnh, da đồng, lông móc, một khoang bốn khoáy, hàm đen, tóc tráp (lông trên đầu cứng, dày để tránh nắng), có ức rộng, cổ tròn dài và hơi thu nhỏ về phía đầu, lưng càng dày, càng phẳng có khả năng chống chịu được đòn của đối phương, háng phải rộng nhưng thu nhỏ về phía hậu càng nhọn càng quý.,sừng phải đen như mun, đầu sừng vênh lên như hai cánh cung, giữa hai sừng có túm tóc hình chóp trên đỉnh đầu là khoáy tròn, mắt phải đen, tròng đỏ…
Trường đấu thường là những bãi đất rộng, có nhiều người đứng xung quanh gõ trống và hò hét. Người huấn luyện, phủ cờ đỏ lên đầu trâu, mình trâu để cho trâu quen dần với không khí. Bắt đầu từ hai phía của sới chọi, "ông trâu" được dẫn ra có người che lọng và múa cờ hai bên. Khi hai "ông trâu" cách nhau 20 m, người dắt nhanh chóng rút "sẹo" cho trâu rồi khẩn trương thoát ra ngoài sới chọi. Hai trâu lao vào nhau với tốc độ khủng khiếp, hai đôi sừng đập vào nhau kêu chan chát... Cứ thế, hai trâu chọi nhau quyết liệt giữa tiếng hò reo vang dậy của hàng ngàn khán giả.
Kết thúc lễ hội chọi trâu con thắng làm một cuộc rước giải về đình làm lễ tế thần. Tất cả mọi người dân đều theo, tập tục của từng địa phương, các trâu tham gia chọi, dù thắng, dù thua, đều phải giết thịt. Lấy một bát tiết cùng một ít lông của trâu (mao huyết) để cúng thần, sau đó đổ xuống ao để tiễn thần. Mọi người cùng ăn chúc phúc. Truyền rằng, sau khi ăn thịt con trâu thắng cuộc, mọi người sẽ gặp được may mắn, đặc biệt là những người dân đi biển.
Lễ hội là một phần của cuộc sống văn hóa tâm linh
VN có một bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước, có một “đại gia đình” 54 dân tộc anh em và trên hết là niềm tự hào về một nền văn hiến 4000 năm với những đặc trưng của nền văn minh lúa nước. Những truyền thuyết, huyền thọai được truyền lại như dấu ấn của bản lĩnh, khí phách kiên cường trước mọi thử thách cả thiên tai, địch họa, để rồi dần lắng đọng, kết tinh rồi thăng hoa thành những tinh hoa trong cuộc sống tâm linh, trong bản sắc văn hóa của dân tộc.
Những lễ hội dân gian truyền thống là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người dân VN. Nó cũng như một sợi dây nối quá khứ với hiện tại và tương lai, làm một cái nền vững chắc để người dân VN có thể đương dầu với mọi sóng gió “đồng hóa”, “hòa tan” của các thế lực ngọai bang, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, di sản vô giá để chiến thắng mọi cường quyền, bạo lực, giữ gìn đất nước VN độc lập, trường tồn, vững mạnh.
Nhưng, lễ hội cũng có những mặt trái của nó, nếu như quá lạm dụng vì một mục đích ngòai văn hóa. “…với nhiều lý do khác nhau, đã và đang xuất hiện xu hướng nâng cấp lễ hội lên tầm cao hơn như cấp quốc gia, festival; việc áp đặt suy nghĩ chủ quan, đưa các yếu tố hiện đại không phù hợp vào nội dung của lễ hội dân gian, sự can thiệp quá sâu và cụ thể của các cấp chính quyền vào lễ hội… dẫn đến hiện tượng đáng cảnh báo là làm đơn điệu hóa, trần tục hóa, quan phương hóa và thương mại hóa lễ hội…Thực trạng này đang làm giảm đi giá trị chân thực vốn có của lễ hội, làm sai lệch giá trị của lễ hội , làm phai mờ bản sắc văn hóa của lễ hội; thiếu sự tôn trọng đối với chủ thể văn hóa, truyền thống và tập quán của cộng đồng”- Trích Tổng kết Hội thảo công tác quản lý lễ hội dân gian,2.6.2010 tại Hải Dương.
Cũng vì nhiều “biến thể” không giữ tòan vẹn ý nghĩa nguyên thủy của lễ hội mà nhiều lễ hội đã trở thành những “hủ tục” gây nhiều tranh cãi. Đặc biệt là những lễ hội có hình thức “đâm, chém, chọi” các gia súc, vật nuôi, với những cảnh “đầu rơi, máu chảy”, chỉ chú trọng thuần túy đến cảnh đâm giết, xem nhẹ các hoạt động khác, làm biến tướng dẫn đến hiểu sai về mục đích, tính chất của lễ hội chưa kể cảnh tượng “cuồng nộ” của những người tham gia vào các lễ hội đó đã một phần nào gây ra hình ảnh phản cảm của một lễ hội mang tính tâm linh, tế lễ thần linh nguyên gốc.
Nên giữ hay nên bỏ và giữ như thế nào, bỏ thì bỏ làm sao mà không đụng chạm đến vấn đề tự do tín ngưỡng tâm linh, đến chính sách dân tộc và việc bảo tồn di sản văn hóa truyền thống trong những lễ hội nói chung, và lễ hội “đâm, chém, chọi” trâu, lợn nói riêng?
Ý kiến một số nhà văn
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng: Tôi không thích những trò này. Dã man quá. Đúng là một lễ hội truyền thống mang tính tâm linh, nhưng bây giờ thành như một thú vui, nhiều người thích, không thể bỏ được. Nhưng theo ý tôi là không nên phát huy mấy lễ hội “bạo lực” này, chứng kiến cảnh đám đông con người đứng nhìn con vật bị trói, bị đâm be bét máu, hò hét vui vẻ, phấn khích, thấy sao tàn nhẫn, mọi rợ. Thiết nghĩ, nên dần bỏ mấy lễ hội “đâm, chém, chọi” này, và bảo tồn theo kiểu bảo tàng dân tộc học như một di sản “phi vật thể”, chứ không nên hiện thực quá thành “vật thể” mà vô hình khuyến khích sự “khát máu” không phù hợp với văn minh thế kỷ 21.
Nhà thơ Lê Giang: Từ lâu tôi đã than phiền về mấy lễ hội, nhất là lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên. Thà giết mổ, ăn thịt con vật một cách bình thường, chứ hành hạ nó một cách dã man như thuở xa xưa nguyên thủy mông muội, rồi xẻ thịt ăn, thật bất nhẫn. Tôi thấy nên để mấy lễ hội có giết chóc kiểu “đâm, chém, chọi” như hiện thời vào bảo tàng, đừng lấy cớ giữ gìn, phát huy rồi tìm cách phát triển lên, tôi không thấy tác dụng của vấn đề văn hóa tâm linh, nó đã bị mai một bới nhiều thứ ngọai lai làm biến tướng, mà chỉ thấy cái sự hung dữ của con ngừoi.
Nhà văn, dịch giả Phan Nhật Chiêu: Tôi chưa một lần tham dự trực tiếp mấy lễ hội đó, nhưng có theo dõi qua các phương tiện truyền thông.Và tôi cũng đã quyết định không tham gia xem mấy lễ hội “đẫm máu” đó. Tôi nhớ vở kịch của Tagor :Lễ máu. Ông ta lúc nào cũng phản đối những lễ hiến tế bằng sinh mạng( cả con người và con vật).Ông viết vở kịch vào thời kỳ chiến tranh, nên ông cho chiến tranh là một sự khai triển lễ hiến tế máu. Thật sự của lễ hiến tế máu là lễ tế thần bạo lực.
Theo ý tôi, mấy lễ tế có “máu” này không thể bỏ được vì dính dáng đến nhiều vấn đề về dân tộc và văn hóa tín ngưỡng, nhưng không nên phát huy, quảng bá rầm rộ. Không thể xem như đây là nét đẹp của văn hóa dân tộc mà khai thác nhằm thu hút du lịch. Những lễ hội như thế này nên ở trong phạm vị nhỏ hẹp, như một phong tục của làng xã, không nên khuếch trương lên, rồi thành một cuộc biểu diễn trò sát sinh trứơc mặt con người. Theo tôi đó là phi văn hóa, cũng là một kiểu “Lễ máu”.
Nhà văn Mường Mán: Thật sự mấy lễ hội đó không có tính nhân bản, không phù hợp với cuộc sống văn minh bây giờ. Tại sao không mô phỏng lại, và bảo tồn theo một cách nhân văn hơn, ví dụ như kiểu làm hàng mã, diễn lại trò, mà cứ phải hiện thực hóa cảnh đâm chém. Con vật cũng có quyền tồn tại như con người. Cái phần là “thực phẩm” để nuôi con người thuộc một khía cạnh khác, giết mổ trong lò mổ, hay khuất mặt ngừoi ăn thịt. Đàng này hò reo, la hét trước sự bất lực của con vật đang bị đâm, chém, máu me đầm đìa… Dã man quá. Theo tôi, có bỏ lễ hội này cũng chẳng mất đi đặc trưng văn hóa quốc gia.
Nhà thơ người Chăm Inrasara: Lễ tục nào bất kì luôn gắn với một/ vài chuyện kể để minh giải một mảnh văn hóa của cộng đồng tộc người nào đó. Nó có thể tàn bạo hay ghê tởm, thậm chí bất nhân với con mắt nhìn của người đương thời, dù trước đó nó phù hợp với quan niệm của cộng đồng trong giai đoạn lịch sử nhất định.
Thời đại hôm nay đã khác, thế giới đã thành một làng – làng toàn cầu; và internet đã mang thông tin đến tận hang cùng ngõ hẻm của trái đất. Các nền văn hóa con người đang xích lại gần nhau hơn bao giờ hết. Nên, không khó hiểu khi các lễ tục mang dáng vẻ phi nhân và tàn bạo dễ gây dị ứng với cộng đồng nhân loại hiện đại. Lễ tục nào bất kì đều do con người sáng tạo, và con người có quyền thay đổi nó.
Chỉ cần thay đổi phương cách hay, dấn thêm một bước: Có thể từ bỏ nó khi thấy nó đã quá lạc hậu.
Lễ đâm trâu chẳng hạn. Người Chăm cũng có lễ tục này. Nhưng khi giết con vật để tế thần, họ đọc thần chú xin lỗi linh hồn nó. Thao tác giết cũng gọn nhẹ: Trâu được buộc chặt vào hố sâu đào sẵn không cho con người nhìn thấy trâu giẫy giụa; ba nhánh lá xanh che kín cổ trâu không cho máu bắn ra ngoài; lưỡi gươm cực sắc để chỉ cần 3 nhát kéo lên xuống là kết thúc cuộc hiến tế.
Nhà văn trẻ Trương Anh Quốc: Nếu lễ hội đâm trâu mà diễn ra ở TP.HCM thì không ai chấp nhận được, như khi nó ở mấy buôn làng Tây Nguyên thì lại khác. Nhưng đúng là so với “nguyên gốc” thì lễ hội đã bị mất gốc rồi, vì người ta đã làm biến thái nó, phục vụ cho mục đích biểu diễn, du lịch- thương mại nhiều hơn. Nên ý nghĩa của nó cũng mai một, đôi khi còn phản tác dụng.Tôi chỉ ví dụ như voi Tây Nguyên, là để kéo gỗ, chở đồ… nhưng bây giờ người ta bóc lột sức của nó để phục vụ du lịch- Chở khách đi tham quan, ròng rã cả ngày, cả tháng, năm… mà không được chăm sóc đầy đủ.
Tôi chỉ nghĩ là không nên cổ súy cho những lễ hội như vậy. Và du lịch đừng can thiệp vào mà làm biến chất của lễ hội. Từ một ý nghĩa tâm linh tích cực mà trở thành sự tàn nhẫn của con người.
Có lẽ cần phải nhìn nhận lại một cách nghiêm túc “thấu tình, đạt lý” về việc bảo tồn, phát huy những lễ hội “đâm, chém, chọi”… các con vật trong chuỗi các lễ hội dân gian truyền thống. Đễ lễ hội không bị biến tứớng ý nghĩa và trở thành nơi có thể là mầm mống của bạo lực đang rất phổ biến trong cuộc sống xã hội hôm nay. Và cũng là phù hợp với văn minh của kỷ nguyên mới, khi VN đang hội nhập với thế giới, cùng đối thọai với các nền văn minh khác của nhân lọai./.
Hòai Hương
Thẩm định ảnh có cần chuyên nghiệp?
Thẩm định ảnh không cần chuyên nghiệp?!
Nhiều năm qua, sau các cuộc thi ảnh dưới sự bảo trợ của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh VN-VAPA , thường có nhiều ý kiến “eo xèo” về chất lượng đối với ảnh đọat giải cao. Phải chăng vì ban giám khảo và Hội đồng nghệ thuật (HĐNT) của VAPA chưa thật sự chuyên nghiệp trong thẩm định ảnh?
Hội đồng nghệ thuật không cần chuyên môn, chuyên nghiệp?!
Tiêu chí “cầm cân nảy mưc” để đánh giá một tác phẩm nghệ thuật trước hết là phải có một mặt bằng tối thiểu về chuyên môn ngành nghệ thuật đó hay có văn bằng về một ngành văn hóa. Nhìn vào HĐNT của các Hội văn học nghệ thuật VN thì thấy tòan những thành viên có học hàm, học vị như : Giáo sư, Phó giáo sư, Kiến trúc sư trưởng, Tiến sĩ.. hay các danh hiệu được Nhà nước phong như :Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú…
Duy nhất có HĐNT của VAPA với 7 thành viên trong nhiệm kỳ mới 2010-2015 này thì không có ai trong số họ có được một chức danh chuyên môn của ngành nghệ thuật nhiếp ảnh, không có học hàm học vị về một ngành văn hóa nghệ thuật hay nhiếp ảnh, ngòai các tước vị của VAPA và của FIAP hay PSA, cùng với “kinh nghiệm” là hàng chục, hàng trăm giải thưởng ảnh trong nước, và đặc biệt là của các cuộc thi do FIAP và PSA bảo trợ.
FIAP là :”Nhiếp ảnh nghiệp dư xuyên thế giới”- La Photographie Amateur à travers le monde, phía sau thẻ của thành viên FIAP ghi rõ: Người giữ thẻ này không lấy nhiếp ảnh làm mục đích chính- The bearer of this card does not take photographs for professional purposes .
Thực tế các cuộc thi của FIAP chỉ có giá trị trong khuôn khổ của FIAP, là một sân chơi lớn dành cho các tay máy “amateur” không có sức ảnh hưởng gì đến nền nghệ thuật nhiếp ảnh chuyên nghiệp thế giới, cũng như không hề được các phương tiện truyền thông thế giới chú ý tuyên truyền.
Tương tự như vậy, PSA mang tên “Hội nhiếp ảnh Mỹ” nhưng cũng không hề đại diện cho nhiếp ảnh chuyên nghiệp Mỹ. PSA được thành lập năm 1934, trụ sở chính ở thành phố Oklahoma, Mỹ, là tổ chức mang tính liên kết, giao lưu, chia sẻ cộng đồng trong bộ môn nhiếp ảnh, và kinh doanh- thực chất hướng tới các nghệ sỹ nghiệp dư.
Nhìn thành phần điều hành của PSA, cũng như các nghệ sỹ thế giới trong danh sách “Who is Who” được xếp hạng của PSA thấy rõ không ai là những tên tuổi nổi bật có uy tín trong nhiếp ảnh thế giới. PSA không có tham vọng và thực chất chưa bao giờ là thước đo giá trị các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp thế giới.
Vậy nhưng trong các báo cáo họat động của VAPA, những giải thưởng của FIAP, PSA mà VN đọat được là niềm tự hào, là thành tích “sáng giá” nhất, xem như đó là thước đo cho sự phát triển và hội nhập quốc tế của nghệ thuật nhiếp ảnh VN. Thậm chí còn cho đó như là một trong những phương hướng họat động chính yếu của nhiếp ảnh nghệ thuật VN với thế giới trong hiện tại và tương lai!!!
Kể cả trong tiêu chí xét trao khen thưởng Nhà nước, giải thưởng của Bộ VH-TT & DL cũng nêu tiêu chuẩn đạt giải Vàng-Bạc-Đồng của FIAP .Tất nhiên cũng có những ý kiến mở rộng giao lưu với các tổ chức nhiếp ảnh khác, nhưng thực chất Hội vẫn coi FIAP (cùng với PSA) là số một!
Không biết có phải vì lẽ đó mà thành viên trong HĐNT của VAPA chỉ cần những người được nhiều giải thưởng, được phong tước hiệu của FIAP, PSA là đủ, còn các tiêu chí khác gọi là chuẩn của trình độ chuyên môn về nghệ thuật không cần thiết?
Nhưng bản thân họ đã thật sự xuất sắc để có thể đại diện cho NSNAVN thẩm định ảnh?
Giải thưởng thì nhiều, nhưng lấy tiêu chí của một tác phẩm nghệ thuật có giá trị và ảnh hưởng tới xã hội, công chúng, thay đổi quan điểm hay sáng tạo xu thế mới về nghệ thuật… thì tác phẩm của họ chỉ đơn thuần là một vẻ đẹp “nghệ thuật vị nghệ thuật” đúng kiểu “tài tử” của FIAP, PSA.
Có những ảnh họ chụp hàng chục năm bây giờ vẫn mang đi thi. Ảnh của họ cũng chỉ “gói” trong vài chủ đề xưa cũ hàng chục năm nay, không có gì đổi mới. Trong số họ chỉ có một vài thành viên là có triển lãm cá nhân, còn đương kim Chủ tịch HĐNT của VAPA với hàng trăm giải thưởng ảnh FIAP, PSA thì cho tới nay chưa có một triển lãm ảnh cá nhân nào. Chưa kể bức ảnh “Mẹ con” sáng giá nhất của vị này là nghi án đạo ảnh từ một tác giả Pháp mà tạp chí Nhiếp ảnh của Hội NSNAVN đã từng đưa lên trong một bài báo “Có phải những ý tưởng lớn gặp nhau?”
Bản thân các thành viên HĐNT cũng chưa thấy đưa ra một quan điểm nghệ thuật rõ ràng mang tính học thuật, một yếu tố quan trọng trong trang bị kiến thức về lý luận để :”Ngòai công tác thẩm định ảnh, HĐNT còn là cơ quan tư vấn, tham mưu về nghệ thuật nhiếp ảnh cho Ban chấp hành”- Trích Thông báo của VAPA.
Và như thế chất lượng của HĐNT khi làm tham mưu, cố vấn cho Ban chấp hành VAPA và thẩm định ảnh sẽ có giá trị như thế nào, đến đâu và chất lượng cũng như sự công bằng đủ sức thuyết phục? Khi chuyên môn và sự chuyên nghiệp đều khiếm khuyết.
Hội đồng nghệ thuật có phải chỉ đi chấm ảnh?
HĐNT lập ra là để làm công tác tư vấn, tham mưu về chuyên môn, thậm chí còn là một “kênh” tham mưu định hướng nghệ thuật của ngành. Ở các cuộc thi , HĐNT làm công tác thẩm định chất lượng nghệ thuật, để Ban giám khảo có sự chính xác nhìn nhận tác phẩm có giá trị mà trao giải. Ở các Hội nghệ thuật khác, thì HĐNT làm rất nhiều công việc, không chỉ đi chấm thi.
Nhưng không chỉ ở nhiệm kỳ mới này mà ở nhiều nhiệm kỳ trứơc của VAPA, HĐNT gần như chỉ có một công việc chính là đi chấm ảnh các cuộc thi lớn nhỏ, thậm chí còn đi chấm thi ảnh của một số cơ quan, tổ chức, câu lạc bộ…từ Nam ra Bắc. Còn những công việc như tham mưu, tư vấn về ngành thì chưa thấy rõ rệt. Trong các cuộc hội thảo về nhiếp ảnh, thì tiếng nói của HĐNT rất yếu ớt. Sau các cuộc thi có “ì xèo” cũng không thấy vị nào trong HĐNT lý giải thuyết phục về sự lựa chọn của ban giám khảo.
Thành phần Ban giám khảo không thay đổi, cá nhân Ban giám khảo nhìn bằng con mắt nghệ thuật của bản thân để thẩm định ảnh, mà bản thân thì không có gì đổi mới, chỉ quanh quẩn với những tiêu chí ảnh của FIAP,PSA, với tư duy xáo mòn, cũ kỹ, không đổi mới, không theo kịp những xu thế phát triển của nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới. Chính vì thế mà có một nghịch lý từ bao năm nay, các ảnh đọat giải cao gần như na ná nhau, không có gì thay đổi cả vể chủ đề và cách tạo hình, màu sắc, bố cục…
Chưa kể sau mỗi cuộc thi, nhất là các cuộc thi mang tính quốc gia hay khu vực, nhiêù ảnh đọat giải cao thường không phải ảnh xuất sắc, có sức thuyết phục, thậm chí còn mắc lỗi, phạm quy… nhưng “được” nhỏ to, đó là ảnh của học trò hay người quen của thành viên ban giám khảo, HĐNT. Khó tìm ra bằng chứng cụ thể nhưng chuyện “học trò đi đêm” râm ran ở rất nhiều cuộc thi.
Và không có gì lạ khi nhìn vào những gì nhiếp ảnh VN đạt được trong thời gian qua, với những giải thưởng trong nước do VAPA bảo trợ và quốc tế- Mà chủ yếu là của các cuộc thi dưới sự bảo trợ của FIAP và PSA, thì thấy rõ sự đi xuống của chất lượng nghệ thuật nhiếp ảnh VN.
Tất nhiên không chỉ nhiếp ảnh mà nhiều bộ môn nghệ thuật khác chất lượng cũng đi xuống nên Nghị quyết số 23-NQ/TW, của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, nêu rõ:” Số lượng tác phẩm ngày càng nhiều song còn ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội – thẩm mỹ không rõ nét, ý nghĩa xã hội còn hạn hẹp…”
Nhiếp ảnh nghệ thuật thế giới không phải là FIAP, PSA
Trong thời buổi bùng nổ thông tin, internet nối mạng tòan cầu, việc tìm hiểu các tổ chức nhiếp ảnh quốc tế chuyên nghiệp, có uy tín và có ảnh hưởng đến nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới không phải khó. VAPA cần phải nhận chân FIAP, PSA thật sự như thế nào để đừng ảo tưởng về tầm “quốc tế” mà đánh mất cơ hội hội nhập thực sự với nhiếp ảnh nghệ thuật thế giới.
Nếu nhiếp ảnh VN chỉ quẩn quanh với FIAP, PSA, những tổ chức nhiếp ảnh quốc tế mang tính nghiệp dư mãi, mà bỏ qua những tổ chức nhiếp ảnh quốc tế khác thì cũng là một hình thức biến mình thành nghiệp dư, thậm chí chỉ là một “hội viên” của họ mà không có giá trị thực nào, khó mà hội nhập với quốc tế và tạo được vị trí của nhiếp ảnh VN với nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới.
VAPA là một Hội nghệ thuật chuyên nghiệp nằm trong Liên hiệp hội văn học, nghệ thuật VN, là một ngành nghệ thuật trong họat động văn hóa của VN, không thể cứ “bó” mình trong hạn hẹp những gì đã có sẵn. Với một HĐNT mà tư duy chỉ “nằm” ở FIAP, PSA, không có cái nhìn xa, nhìn rộng hơn cả về chuyên môn lẫn phạm vi họat động thì nhiếp ảnh nghệ thuật VN cũng chỉ là nghiệp dư. Như thế là không đúng với mục tiêu của VAPA và mục tiêu phát triển văn hóa, nghệ thuật VN trong thời kỳ mới./.
Đắc Lộc
Box: HĐNT VAPA nhiệm kỳ 2010-2015: NSNA Lê Hồng Linh- Chủ tịch, NSNA Đặng Ngọc Thái- Phó Chủ tịch, NSNA Lý Hòang Long, NSNA Duy Anh, NSNA Long Thành, NSNA Hòang Trung Thủy, NSNA Nguyễn Dần.
Nhiều năm qua, sau các cuộc thi ảnh dưới sự bảo trợ của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh VN-VAPA , thường có nhiều ý kiến “eo xèo” về chất lượng đối với ảnh đọat giải cao. Phải chăng vì ban giám khảo và Hội đồng nghệ thuật (HĐNT) của VAPA chưa thật sự chuyên nghiệp trong thẩm định ảnh?
Hội đồng nghệ thuật không cần chuyên môn, chuyên nghiệp?!
Tiêu chí “cầm cân nảy mưc” để đánh giá một tác phẩm nghệ thuật trước hết là phải có một mặt bằng tối thiểu về chuyên môn ngành nghệ thuật đó hay có văn bằng về một ngành văn hóa. Nhìn vào HĐNT của các Hội văn học nghệ thuật VN thì thấy tòan những thành viên có học hàm, học vị như : Giáo sư, Phó giáo sư, Kiến trúc sư trưởng, Tiến sĩ.. hay các danh hiệu được Nhà nước phong như :Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú…
Duy nhất có HĐNT của VAPA với 7 thành viên trong nhiệm kỳ mới 2010-2015 này thì không có ai trong số họ có được một chức danh chuyên môn của ngành nghệ thuật nhiếp ảnh, không có học hàm học vị về một ngành văn hóa nghệ thuật hay nhiếp ảnh, ngòai các tước vị của VAPA và của FIAP hay PSA, cùng với “kinh nghiệm” là hàng chục, hàng trăm giải thưởng ảnh trong nước, và đặc biệt là của các cuộc thi do FIAP và PSA bảo trợ.
FIAP là :”Nhiếp ảnh nghiệp dư xuyên thế giới”- La Photographie Amateur à travers le monde, phía sau thẻ của thành viên FIAP ghi rõ: Người giữ thẻ này không lấy nhiếp ảnh làm mục đích chính- The bearer of this card does not take photographs for professional purposes .
Thực tế các cuộc thi của FIAP chỉ có giá trị trong khuôn khổ của FIAP, là một sân chơi lớn dành cho các tay máy “amateur” không có sức ảnh hưởng gì đến nền nghệ thuật nhiếp ảnh chuyên nghiệp thế giới, cũng như không hề được các phương tiện truyền thông thế giới chú ý tuyên truyền.
Tương tự như vậy, PSA mang tên “Hội nhiếp ảnh Mỹ” nhưng cũng không hề đại diện cho nhiếp ảnh chuyên nghiệp Mỹ. PSA được thành lập năm 1934, trụ sở chính ở thành phố Oklahoma, Mỹ, là tổ chức mang tính liên kết, giao lưu, chia sẻ cộng đồng trong bộ môn nhiếp ảnh, và kinh doanh- thực chất hướng tới các nghệ sỹ nghiệp dư.
Nhìn thành phần điều hành của PSA, cũng như các nghệ sỹ thế giới trong danh sách “Who is Who” được xếp hạng của PSA thấy rõ không ai là những tên tuổi nổi bật có uy tín trong nhiếp ảnh thế giới. PSA không có tham vọng và thực chất chưa bao giờ là thước đo giá trị các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp thế giới.
Vậy nhưng trong các báo cáo họat động của VAPA, những giải thưởng của FIAP, PSA mà VN đọat được là niềm tự hào, là thành tích “sáng giá” nhất, xem như đó là thước đo cho sự phát triển và hội nhập quốc tế của nghệ thuật nhiếp ảnh VN. Thậm chí còn cho đó như là một trong những phương hướng họat động chính yếu của nhiếp ảnh nghệ thuật VN với thế giới trong hiện tại và tương lai!!!
Kể cả trong tiêu chí xét trao khen thưởng Nhà nước, giải thưởng của Bộ VH-TT & DL cũng nêu tiêu chuẩn đạt giải Vàng-Bạc-Đồng của FIAP .Tất nhiên cũng có những ý kiến mở rộng giao lưu với các tổ chức nhiếp ảnh khác, nhưng thực chất Hội vẫn coi FIAP (cùng với PSA) là số một!
Không biết có phải vì lẽ đó mà thành viên trong HĐNT của VAPA chỉ cần những người được nhiều giải thưởng, được phong tước hiệu của FIAP, PSA là đủ, còn các tiêu chí khác gọi là chuẩn của trình độ chuyên môn về nghệ thuật không cần thiết?
Nhưng bản thân họ đã thật sự xuất sắc để có thể đại diện cho NSNAVN thẩm định ảnh?
Giải thưởng thì nhiều, nhưng lấy tiêu chí của một tác phẩm nghệ thuật có giá trị và ảnh hưởng tới xã hội, công chúng, thay đổi quan điểm hay sáng tạo xu thế mới về nghệ thuật… thì tác phẩm của họ chỉ đơn thuần là một vẻ đẹp “nghệ thuật vị nghệ thuật” đúng kiểu “tài tử” của FIAP, PSA.
Có những ảnh họ chụp hàng chục năm bây giờ vẫn mang đi thi. Ảnh của họ cũng chỉ “gói” trong vài chủ đề xưa cũ hàng chục năm nay, không có gì đổi mới. Trong số họ chỉ có một vài thành viên là có triển lãm cá nhân, còn đương kim Chủ tịch HĐNT của VAPA với hàng trăm giải thưởng ảnh FIAP, PSA thì cho tới nay chưa có một triển lãm ảnh cá nhân nào. Chưa kể bức ảnh “Mẹ con” sáng giá nhất của vị này là nghi án đạo ảnh từ một tác giả Pháp mà tạp chí Nhiếp ảnh của Hội NSNAVN đã từng đưa lên trong một bài báo “Có phải những ý tưởng lớn gặp nhau?”
Bản thân các thành viên HĐNT cũng chưa thấy đưa ra một quan điểm nghệ thuật rõ ràng mang tính học thuật, một yếu tố quan trọng trong trang bị kiến thức về lý luận để :”Ngòai công tác thẩm định ảnh, HĐNT còn là cơ quan tư vấn, tham mưu về nghệ thuật nhiếp ảnh cho Ban chấp hành”- Trích Thông báo của VAPA.
Và như thế chất lượng của HĐNT khi làm tham mưu, cố vấn cho Ban chấp hành VAPA và thẩm định ảnh sẽ có giá trị như thế nào, đến đâu và chất lượng cũng như sự công bằng đủ sức thuyết phục? Khi chuyên môn và sự chuyên nghiệp đều khiếm khuyết.
Hội đồng nghệ thuật có phải chỉ đi chấm ảnh?
HĐNT lập ra là để làm công tác tư vấn, tham mưu về chuyên môn, thậm chí còn là một “kênh” tham mưu định hướng nghệ thuật của ngành. Ở các cuộc thi , HĐNT làm công tác thẩm định chất lượng nghệ thuật, để Ban giám khảo có sự chính xác nhìn nhận tác phẩm có giá trị mà trao giải. Ở các Hội nghệ thuật khác, thì HĐNT làm rất nhiều công việc, không chỉ đi chấm thi.
Nhưng không chỉ ở nhiệm kỳ mới này mà ở nhiều nhiệm kỳ trứơc của VAPA, HĐNT gần như chỉ có một công việc chính là đi chấm ảnh các cuộc thi lớn nhỏ, thậm chí còn đi chấm thi ảnh của một số cơ quan, tổ chức, câu lạc bộ…từ Nam ra Bắc. Còn những công việc như tham mưu, tư vấn về ngành thì chưa thấy rõ rệt. Trong các cuộc hội thảo về nhiếp ảnh, thì tiếng nói của HĐNT rất yếu ớt. Sau các cuộc thi có “ì xèo” cũng không thấy vị nào trong HĐNT lý giải thuyết phục về sự lựa chọn của ban giám khảo.
Thành phần Ban giám khảo không thay đổi, cá nhân Ban giám khảo nhìn bằng con mắt nghệ thuật của bản thân để thẩm định ảnh, mà bản thân thì không có gì đổi mới, chỉ quanh quẩn với những tiêu chí ảnh của FIAP,PSA, với tư duy xáo mòn, cũ kỹ, không đổi mới, không theo kịp những xu thế phát triển của nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới. Chính vì thế mà có một nghịch lý từ bao năm nay, các ảnh đọat giải cao gần như na ná nhau, không có gì thay đổi cả vể chủ đề và cách tạo hình, màu sắc, bố cục…
Chưa kể sau mỗi cuộc thi, nhất là các cuộc thi mang tính quốc gia hay khu vực, nhiêù ảnh đọat giải cao thường không phải ảnh xuất sắc, có sức thuyết phục, thậm chí còn mắc lỗi, phạm quy… nhưng “được” nhỏ to, đó là ảnh của học trò hay người quen của thành viên ban giám khảo, HĐNT. Khó tìm ra bằng chứng cụ thể nhưng chuyện “học trò đi đêm” râm ran ở rất nhiều cuộc thi.
Và không có gì lạ khi nhìn vào những gì nhiếp ảnh VN đạt được trong thời gian qua, với những giải thưởng trong nước do VAPA bảo trợ và quốc tế- Mà chủ yếu là của các cuộc thi dưới sự bảo trợ của FIAP và PSA, thì thấy rõ sự đi xuống của chất lượng nghệ thuật nhiếp ảnh VN.
Tất nhiên không chỉ nhiếp ảnh mà nhiều bộ môn nghệ thuật khác chất lượng cũng đi xuống nên Nghị quyết số 23-NQ/TW, của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, nêu rõ:” Số lượng tác phẩm ngày càng nhiều song còn ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội – thẩm mỹ không rõ nét, ý nghĩa xã hội còn hạn hẹp…”
Nhiếp ảnh nghệ thuật thế giới không phải là FIAP, PSA
Trong thời buổi bùng nổ thông tin, internet nối mạng tòan cầu, việc tìm hiểu các tổ chức nhiếp ảnh quốc tế chuyên nghiệp, có uy tín và có ảnh hưởng đến nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới không phải khó. VAPA cần phải nhận chân FIAP, PSA thật sự như thế nào để đừng ảo tưởng về tầm “quốc tế” mà đánh mất cơ hội hội nhập thực sự với nhiếp ảnh nghệ thuật thế giới.
Nếu nhiếp ảnh VN chỉ quẩn quanh với FIAP, PSA, những tổ chức nhiếp ảnh quốc tế mang tính nghiệp dư mãi, mà bỏ qua những tổ chức nhiếp ảnh quốc tế khác thì cũng là một hình thức biến mình thành nghiệp dư, thậm chí chỉ là một “hội viên” của họ mà không có giá trị thực nào, khó mà hội nhập với quốc tế và tạo được vị trí của nhiếp ảnh VN với nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới.
VAPA là một Hội nghệ thuật chuyên nghiệp nằm trong Liên hiệp hội văn học, nghệ thuật VN, là một ngành nghệ thuật trong họat động văn hóa của VN, không thể cứ “bó” mình trong hạn hẹp những gì đã có sẵn. Với một HĐNT mà tư duy chỉ “nằm” ở FIAP, PSA, không có cái nhìn xa, nhìn rộng hơn cả về chuyên môn lẫn phạm vi họat động thì nhiếp ảnh nghệ thuật VN cũng chỉ là nghiệp dư. Như thế là không đúng với mục tiêu của VAPA và mục tiêu phát triển văn hóa, nghệ thuật VN trong thời kỳ mới./.
Đắc Lộc
Box: HĐNT VAPA nhiệm kỳ 2010-2015: NSNA Lê Hồng Linh- Chủ tịch, NSNA Đặng Ngọc Thái- Phó Chủ tịch, NSNA Lý Hòang Long, NSNA Duy Anh, NSNA Long Thành, NSNA Hòang Trung Thủy, NSNA Nguyễn Dần.
Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2010
Lục bát xa xứ
Lục bát xa xứ
Xứ người lưu lạc bao năm
Thương câu lục bát muôn ngàn dặm xa
Thầm thì mấy khúc dân ca
Mây trôi, bèo dạt, phận hoa, bến đời
Đêm khuya trăng lạnh bóng soi
Chìm trong nỗi nhớ bao lời hát ru
Quê nhà cách trở mịt mù
Xót thân xa xứ tương tư nặng sầu
Ước gì một cánh chim câu
Đem vần lục bát thả vào hồn thơ…
Hoài Hương
Xứ người lưu lạc bao năm
Thương câu lục bát muôn ngàn dặm xa
Thầm thì mấy khúc dân ca
Mây trôi, bèo dạt, phận hoa, bến đời
Đêm khuya trăng lạnh bóng soi
Chìm trong nỗi nhớ bao lời hát ru
Quê nhà cách trở mịt mù
Xót thân xa xứ tương tư nặng sầu
Ước gì một cánh chim câu
Đem vần lục bát thả vào hồn thơ…
Hoài Hương
Vương vấn
Vương vấn
Tặng V2
Em lạc vào anh phút tình cờ
Vấn vương thóang chốc ngỡ trong mơ
Tưởng rằng tỉnh giấc là quên hết
Mà sao tim không muốn hững hờ
Em gọi thầm anh những chiều mưa
Tương tư buồn vui mấy cho vừa
Mùa qua mùa lại trăng tròn khuyết
Xao động từng cơn gió đòng đưa
Em nhớ mắt mình soi bóng nhau
Hơi ấm bàn tay dịu nỗi sầu
Tri kỷ tri âm chia ngọt mặn
Môi mềm quấn quýt giữa trời sao
Em biết tình yêu chưa đủ say
Để níu hồn anh ở phương này
Hương duyên tơ tóc còn xa lắm
Ước đến một ngày nợ trúc mai./.
Hòai Hương
Tặng V2
Em lạc vào anh phút tình cờ
Vấn vương thóang chốc ngỡ trong mơ
Tưởng rằng tỉnh giấc là quên hết
Mà sao tim không muốn hững hờ
Em gọi thầm anh những chiều mưa
Tương tư buồn vui mấy cho vừa
Mùa qua mùa lại trăng tròn khuyết
Xao động từng cơn gió đòng đưa
Em nhớ mắt mình soi bóng nhau
Hơi ấm bàn tay dịu nỗi sầu
Tri kỷ tri âm chia ngọt mặn
Môi mềm quấn quýt giữa trời sao
Em biết tình yêu chưa đủ say
Để níu hồn anh ở phương này
Hương duyên tơ tóc còn xa lắm
Ước đến một ngày nợ trúc mai./.
Hòai Hương
Vũ trụ & Em
Vũ trụ & Em
Kim tinh lấp lánh góc trời
Em thiên thần giữa cuộc đời trần ai
Mộc tinh huyền ảo bụi mây
Em đầy bí ẩn ngàn cây rừng già
Thủy tinh lạnh lẽo thẳm xa
Em dấu mình hóa tim là giá băng
Hỏa tinh nhuộm sắc đỏ vàng
Em gieo chuỗi lửa kết bằng hờn ghen
Thổ tinh ấm áp thân quen
Em dòng mật ngọt ru quên tháng ngày
Yêu em anh ước mộng say
Lại e vũ trụ vần xoay khó chiều./.
Hòai Hương
Kim tinh lấp lánh góc trời
Em thiên thần giữa cuộc đời trần ai
Mộc tinh huyền ảo bụi mây
Em đầy bí ẩn ngàn cây rừng già
Thủy tinh lạnh lẽo thẳm xa
Em dấu mình hóa tim là giá băng
Hỏa tinh nhuộm sắc đỏ vàng
Em gieo chuỗi lửa kết bằng hờn ghen
Thổ tinh ấm áp thân quen
Em dòng mật ngọt ru quên tháng ngày
Yêu em anh ước mộng say
Lại e vũ trụ vần xoay khó chiều./.
Hòai Hương
Phù Vân Yên Tử
Phù Vân Yên Tử
Giọt mưa Bát Nhã
Nhịp mõ Hoa Nghiêm
Trời thiêng Phật Tiên
Đất linh Nhân Thánh.
Mờ ảo dấu chân trên từng bậc đá
Vạn kiếp thế nhân khó nhọc phàm trần
Mây phù du bóng ảnh chốn huyền không
Rừng lá trúc thầm thì câu sám hối
Tham- Sân- Si, cõi tục đầy cám dỗ
Chạm cửa thiền bỗng chốc hóa hư vô
Suối Giải Oan gột rửa sạch ưu tư
Hoa Yên Tự lắng tâm người tĩnh tại
Một ngày, một đời trôi như giấc mộng
Danh lợi là chi, tranh đấu sống còn
Gương người xưa rời điện ngọc cung son
Nhường quyền tước thanh thản vui mây gió
Thóang Phù Vân một ngọn mầm cứu rỗi
Chút tiêu dao nhẹ bớt nỗi ưu phiền
Dưới núi kia nhân gian đầy bất trắc
Yên Tử ngàn năm phổ độ chúng sinh./.
Yên Tử 12.2007
Hòai Hương
Giọt mưa Bát Nhã
Nhịp mõ Hoa Nghiêm
Trời thiêng Phật Tiên
Đất linh Nhân Thánh.
Mờ ảo dấu chân trên từng bậc đá
Vạn kiếp thế nhân khó nhọc phàm trần
Mây phù du bóng ảnh chốn huyền không
Rừng lá trúc thầm thì câu sám hối
Tham- Sân- Si, cõi tục đầy cám dỗ
Chạm cửa thiền bỗng chốc hóa hư vô
Suối Giải Oan gột rửa sạch ưu tư
Hoa Yên Tự lắng tâm người tĩnh tại
Một ngày, một đời trôi như giấc mộng
Danh lợi là chi, tranh đấu sống còn
Gương người xưa rời điện ngọc cung son
Nhường quyền tước thanh thản vui mây gió
Thóang Phù Vân một ngọn mầm cứu rỗi
Chút tiêu dao nhẹ bớt nỗi ưu phiền
Dưới núi kia nhân gian đầy bất trắc
Yên Tử ngàn năm phổ độ chúng sinh./.
Yên Tử 12.2007
Hòai Hương
Qua miền Tây Bắc
Qua miền Tây Bắc
Qua miền Tây Bắc mùa trăng
Lung linh ánh bạc, sương giăng ảo mờ
Núi cao mây thấp lững lờ
Vẳng nghe tiếng sáo gọi chờ hẹn nhau
Chợ Tình người hẹn ở đâu
Để rồi lạc lối giữa bầu trời sao
Đêm về câu hát gửi trao
Quẩn quanh vấn vít dạt dào yêu thương.
Qua miền Tây Bắc tơ vương
Thơm xôi nếp mới, ấm hương rượu cần
Khăn Piêu quà tặng tình thân
Đàn môi thủ thỉ níu chân ‘đừng về”
Chợ phiên nhộn nhịp ngựa xe
Váy hoa, thổ cẩm, ô che sắc rừng
Bản, mường rộn rã tưng bừng
Cồng chiêng mở hội, chào mừng khách xa.
Qua miền Tây Bắc bao la
Suối, rừng, thác, núi như là Mường Tiên
Thang trời bắc nhịp nối liền
Ruộng ngô, nương lúa một miền mượt xanh
Ngọt ngào lời Khắp- Tiễn anh
Đắm say kèn lá, riêng dành yêu em
Ngất ngây mộng mị điệu Then
Mơ màng tính tẩu say men nhạc trời
Qua miền Tây Bắc , người ơi…
Hòai Hương
Qua miền Tây Bắc mùa trăng
Lung linh ánh bạc, sương giăng ảo mờ
Núi cao mây thấp lững lờ
Vẳng nghe tiếng sáo gọi chờ hẹn nhau
Chợ Tình người hẹn ở đâu
Để rồi lạc lối giữa bầu trời sao
Đêm về câu hát gửi trao
Quẩn quanh vấn vít dạt dào yêu thương.
Qua miền Tây Bắc tơ vương
Thơm xôi nếp mới, ấm hương rượu cần
Khăn Piêu quà tặng tình thân
Đàn môi thủ thỉ níu chân ‘đừng về”
Chợ phiên nhộn nhịp ngựa xe
Váy hoa, thổ cẩm, ô che sắc rừng
Bản, mường rộn rã tưng bừng
Cồng chiêng mở hội, chào mừng khách xa.
Qua miền Tây Bắc bao la
Suối, rừng, thác, núi như là Mường Tiên
Thang trời bắc nhịp nối liền
Ruộng ngô, nương lúa một miền mượt xanh
Ngọt ngào lời Khắp- Tiễn anh
Đắm say kèn lá, riêng dành yêu em
Ngất ngây mộng mị điệu Then
Mơ màng tính tẩu say men nhạc trời
Qua miền Tây Bắc , người ơi…
Hòai Hương
Ngày xưa ơi
Ngày xưa ơi
Ngày xưa nắng nhẹ chiều nghiêng
Anh đưa em ghé thăm miền trung du
Mờ xa dáng núi thâm u
Sông như dải lụa, lúa như thảm vàng
Cánh cò chao liệng ngỡ ngàng
Ngắm con diều sáo mơ màng tầng không
Ngày xưa tím biếc hoàng hôn
Anh đưa em đến làng thôn thanh bình
Khói lam ấm nếp nhà xinh
Triền đê cỏ mượt thuyền tình êm trôi
Hoa xoan nhẹ thả hương trời
Hàng tre gió hát, thoảng lời ru con
Ngày xưa …kỷ niêm mãi còn
Em mơ… một ánh trăng tròn…ngày xưa./.
Hoài Hương
Ngày xưa nắng nhẹ chiều nghiêng
Anh đưa em ghé thăm miền trung du
Mờ xa dáng núi thâm u
Sông như dải lụa, lúa như thảm vàng
Cánh cò chao liệng ngỡ ngàng
Ngắm con diều sáo mơ màng tầng không
Ngày xưa tím biếc hoàng hôn
Anh đưa em đến làng thôn thanh bình
Khói lam ấm nếp nhà xinh
Triền đê cỏ mượt thuyền tình êm trôi
Hoa xoan nhẹ thả hương trời
Hàng tre gió hát, thoảng lời ru con
Ngày xưa …kỷ niêm mãi còn
Em mơ… một ánh trăng tròn…ngày xưa./.
Hoài Hương
Em còn nhớ hay em đã quên
Em còn nhớ hay em đã quên *
Ru em từng ngón xuân nồng
Anh hôn anh nhớ búp hồng tay em
Hoa vàng mấy độ làm quen
Hẹn em anh đón thăm quê vườn nhà
Xanh trời nắng thủy tinh pha
Mênh mang diệu vợi anh xa đường về
Một thời hạ trắng say mê
Áo nhàu tóc bạc vẫn thề bên nhau
Em đi biển nhớ đã lâu
Anh ngồi hát khúc nhạc sầu dưới mưa
Ứơt mi mắt biếc khô chưa
Anh lau giọt lệ cho vừa đắm say
Dáng buồn như cánh vạc bay
Nao lòng anh xót em gầy vóc mai
Diễm xưa dẫu có nhạt phai
Anh ghi lời đá thương hòai ngàn năm
Phôi pha rượu cạn đường trần
Xuân qua, Hạ tới, Thu tàn, Đông lên
Tình xa nỗi nhớ dịu êm
Yêu em anh hát gọi tên bốn mùa.
Hòai Hương
*,
Ru em từng ngón xuân nồng
Anh hôn anh nhớ búp hồng tay em
Hoa vàng mấy độ làm quen
Hẹn em anh đón thăm quê vườn nhà
Xanh trời nắng thủy tinh pha
Mênh mang diệu vợi anh xa đường về
Một thời hạ trắng say mê
Áo nhàu tóc bạc vẫn thề bên nhau
Em đi biển nhớ đã lâu
Anh ngồi hát khúc nhạc sầu dưới mưa
Ứơt mi mắt biếc khô chưa
Anh lau giọt lệ cho vừa đắm say
Dáng buồn như cánh vạc bay
Nao lòng anh xót em gầy vóc mai
Diễm xưa dẫu có nhạt phai
Anh ghi lời đá thương hòai ngàn năm
Phôi pha rượu cạn đường trần
Xuân qua, Hạ tới, Thu tàn, Đông lên
Tình xa nỗi nhớ dịu êm
Yêu em anh hát gọi tên bốn mùa.
Hòai Hương
*,
Đường trần
Đường trần
Sắc không, không sắc cõi sân si
Ngày đêm nhật, nguyệt mộng vân vi
Cửa thiền rộng mở hồn phiêu lãng
Ngọt, mặn thăng, trầm giấc u mê
Rượu rót tỉnh say, rượu đầy vơi
Trần gian ảo ảnh kiếp luân hồi
Bụi hồng vương vấn tình sương khói
Duyên nợ tử sinh vị đắng cay
Mây ở Phù Vân mây tương tư
Người đi biền biệt gió mơ hồ
Biết là rừng trúc còn xanh lá
Nên kẻ vô tình vẫn lãng du./.
Hòai Hương.
Sắc không, không sắc cõi sân si
Ngày đêm nhật, nguyệt mộng vân vi
Cửa thiền rộng mở hồn phiêu lãng
Ngọt, mặn thăng, trầm giấc u mê
Rượu rót tỉnh say, rượu đầy vơi
Trần gian ảo ảnh kiếp luân hồi
Bụi hồng vương vấn tình sương khói
Duyên nợ tử sinh vị đắng cay
Mây ở Phù Vân mây tương tư
Người đi biền biệt gió mơ hồ
Biết là rừng trúc còn xanh lá
Nên kẻ vô tình vẫn lãng du./.
Hòai Hương.
Bốn mùa ru em
Bốn mùa ru em
Xuân về
tóc gió mây bồng
Nhớ môi
em ngọt, má hồng làm duyên
Hạ sang
lá hát bình yên
Yêu người
trong mộng dịu hiền dáng hoa
Thu qua
trái chín vườn nhà
Xa thương
lời hẹn, trăng ngà đêm xưa
Đông tàn
nắng dệt sương mưa
Đợi nhau
anh gọi:
Bốn mùa ru em./
Hoài Hương
Xuân về
tóc gió mây bồng
Nhớ môi
em ngọt, má hồng làm duyên
Hạ sang
lá hát bình yên
Yêu người
trong mộng dịu hiền dáng hoa
Thu qua
trái chín vườn nhà
Xa thương
lời hẹn, trăng ngà đêm xưa
Đông tàn
nắng dệt sương mưa
Đợi nhau
anh gọi:
Bốn mùa ru em./
Hoài Hương
Cho tôi một vé đi Thăng Long
Du lịch Hà Nội-Đi đâu? Hỏi ai?
Hà Nội không chỉ có 5 cửa ô, 36 phố cổ, Sông Hồng, Hồ Gươm, Hồ Tây …như trong suy nghĩ quen thuộc từ xưa,mà bây giờ có thêm bao nhiêu danh lam, thắng cảnh, địa danh mới để không chỉ chính người Hà Nội khám phá mà cả du khách bốn phương cũng muốn đi và đến.
1.Hà Nội, một địa danh thiêng liêng mà hình như tất cả những ai mang dòng máu Hùng Vương đều hướng tới và ao ước ít nhất có 1 lần trong đời được đi và đến, như một cuộc trở về lịch sử đất nước, như một cuộc hành hương hướng về cội nguồn dân tộc. Hà Nội, như ví von của người Việt, là trái tim của Việt Nam.
Với du khách phương xa,trong bản đồ du lịch Châu Á- Đông Dương, Hà Nội- Việt Nam, là một cái tên biểu tượng cho hoà bình, cho nền văn hiến lâu đời của một quốc gia với nhiều di tích mang dấu ấn của văn minh Sông Hồng, có nhiều bí ẩn để khao khát khám phá, say mê chiêm ngưỡng, thú vị thưởng ngoạn…
Hà Nội bây giờ không chỉ có trong phạm vi “nội” Sông Hồng mà đã vươn xa với nhiều địa danh mới, thêm nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích mang dấu ấn lịch sử, văn hoá. Hà Nội không chỉ có một “dòng” văn hoá “Kinh Thành” của người Việt, mà đa dạng hơn, nhiều màu sắc hơn, phong phú hơn. Chỉ 1 thống kê nho nhỏ, từ cấp thôn-làng đến quốc gia, Hà nội có hơn 1000 lễ hội các loại trong năm.
Tôi có những người bạn khi sang VN công tác, không lần nào không tìm cách sắp xếp để có vài ngày đi “vòng quanh” Hà Nội, như cách nói của họ. Dịp đầu năm nay, khi họ sang, tôi đã khoe vui: Hà Nội bây giờ rộng lắm, nhiều danh tích không đi là mất một người tình…
Nhưng…
2.Khi chúng tôi quyết định sẽ khám phá một số địa danh mới thuộc về Hà Nội, việc đầu tiên là đi mua bản đồ hướng dẫn ở mấy công ty du lịch, lữ hành, kể cả nhà sách, không đâu có. Hỏi tiếp đến sách hướng dẫn du lịch Hà Nội “mới” cũng không. Bản thân tôi là người phương Nam, nên không hơn những người bạn ngoại quốc, chưa biết gì về những địa danh mới của Hà Nội. Chúng tôi cười và an ủi nói vui: Mình tự khám phá, đi sẽ đến và sẽ thấy…Đi đâu rồi cũng là Hà Nội,quay về được Hồ Gươm.
Có lẽ việc in ấn bản đồ du lịch, làm sách hướng dẫn du lịch ở VN nói chung, ở Hà Nội nói riêng không được chú trọng mấy.Trong khi ta luôn có những chương trình quảng bá du lịch VN, luôn có nhiều dự án lớn nhỏ khuyến khích, kích cầu ngành du lịch, nhưng hình như ta vẫn không có được một sự chuyên nghiệp từ khâu nhỏ nhất, làm bản đồ hướng dẫn du lịch.
Không chỉ riêng Hà Nội, mà khi đi đến các tỉnh thành khác cũng rơi vào tình trạng đó, đi tìm một tấm bản đồ, tìm một cuốn sách hướng dẫn du lịch vùng, miền là cực khó, vì hiếm và cả vì không có.Và tôi, đôi khi cũng cảm thấy lúng túng và không an tâm vì không biết gì khi đến một vùng miền lạ ngay trên đất nước mình.
Những người bạn ngoại quốc của tôi, khi sang VN, lần nào trong tay họ cũng có cuốn“ Lonely Planet- Vietnam”, hướng dẫn chi tiết các vùng, miền,từ Nam ra Bắc, từ đồng bằng, duyên hải, đến vùng núi cao, không chỉ nhà hàng, khách sạn xếp hạng “*”, các dịch vụ cao cấp, mà đến từng chén nước chè xanh quán vỉa hè, cuốc xe ôm…Một du khách “balô” có thể tự tin đi trong một thành phố xa lạ không hề tỏ ra lúng túng.
Tôi không có ý quảng cáo cho nhà xuất bản sách của họ, nhưng quả thật không thể không khen họ tài làm du lịch bằng sách, và sách đã mang đến họ lợi nhuận rất cao, bằng chứng là riêng ấn phẩm về VN, mỗi năm họ lại tái bản có bổ sung sửa chữa cập nhật những gì mới nhất, và gần như trên tay du khách nước ngoài tới VN, ai cũng có 1 cuốn. Song tiếc là cuốn sách các bạn tôi mang theo, chưa kịp cập nhật Hà Nội “mới”.
Và rồi để có thể có được thông tin về những nơi chúng tôi định khám phá, đành phải dùng một công cụ hữu hiệu, đắc dụng là lên mạng internet, tìm kiếm từng địa danh từ các bloger, các trang du lịch lẻ tẻ của các báo, các công ty lữ hành… góp nhặt lại làm “vốn” trước khi lên đường, trong khi không có mấy tự tin lắm, kể cả tôi, người Việt.
3.Khi Hà Nội được mở rộng, phạm vi du lịch Hà Nội không chỉ là những địa danh truyền thống mà còn có cả những địa danh mới sát nhập, như hệ thống các chùa, đình, đền, miếu cổ, các danh thắng núi non hang động, các làng nghề thủ công lâu đời, các sự tích danh nhân nước Việt, các phong tục tập quán khác với người “Kinh thành”…
Nhưng để đi được đến các địa danh đó, dù đã có “vốn” thông tin lấy từ trên mạng, song thực tế lại là chuyện khác. Cuộc hành trình khám phá đầu tiên của chúng tôi là Ba Vì, địa danh có nhiều điểm đến hấp dẫn, vừa có rừng cây, núi cao, sông suối , có những di tích lịch sử gắn với lịch sử dựng nước giữ nước VN.Và những gì trải nghiệm cũng thật đáng để ghi chép như một kỷ niệm.
Cứ ngỡ một địa danh không xa trung tâm Hà Nội, không lạ với người địa phương, đã có tên trên bản đồ du lịch của một số tour nội địa, thì có thể dễ dàng đi và đến. Hỏi thăm đường đi đã là một vấn đề, vì gần như trên lộ trình, không thấy có biển đề, nên từng chặng một là phải dừng để hỏi không thì đi lạc. Ngạc nhiên nhất, có nhiều nơi hỏi thăm đường,họ không hiểu chúng tôi tới đó làm gì,họ không hề biết đó là địa chỉ du lịch, thắng cảnh của địa phương?? ?
Không chỉ chuyến đi Ba Vì, sau đó chúng tôi còn đi mấy vùng khác ở khu vực Hà Tây (cũ), Mê Linh, Lương Sơn…, những nơi chưa được nổi tiếng như Chùa Hương,Chùa Tây Phương, Đền Gióng, Đền Và,…những nơi hình như vẫn đang còn trong sự “giao thoa” làm quen với Hà Nội mở rộng. Sản phẩm, dịch vụ du lịch như thởu sơ khai, nghèo nàn… và không mấy tin cậy về nhiều mặt. Ở lại đêm, là một trải nghiệm khác không mấy thú vị.
Điều gây trong tôi một cảm giác xấu hổ với mấy người bạn nước ngoài, cho dù không phải người Hà Nội, nhưng tôi là người VN, chính là việc gần như những người dân địa phương không hề ý thức mình đang sở hữu những địa danh, những di tích, di sản vô giá. Họ xa lạ và không quan tâm, nên cách đối xử với những nơi đó cũng thật là lạnh nhạt, vô tình, thậm chí là vô cảm.Muốn tìm thêm thông tin cụ thể về nơi đó kể như con số “O”.
4.Hà Nội là 1 trong rất ít nhữngThủ đô trên thế giới có lịch sử 1000 năm. Bản thân Hà Nội đã chứa trong mình những di sản vô giá, cả vật thể, phi vật thể minh chứng cho sự tồn tại, phát triển, trường tồn của quốc gia.Mỗi một địa danh Hà Nội là một câu chuyện, một sự tích mang hồn sông núi đầy tự hào không chỉ của người Hà Nội mà của cả người VN.
Du lịch là một ngành công nghiệp không khói, lợi nhuận cao. Một số quốc gia không có tài nguyên, không có khả năng phát triển những ngành công nghiệp khác, đã lấy du lịch làm ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần chủ lực trong chỉ số GDP của quốc gia. Với họ, Thủ đô của quốc gia là một “nguồn” khai thác du lịch cực kỳ giá trị.
Ngành Du lịch Hà Nội, từ trước tới giờ vẫn chưa có một tiêu chí khoa học, mang tính tập hợp, liên kết, mà manh mún, vụn vặt, ai làm người đó biết, uy tín tạo dựng không bền vững, sản phẩm thì công thức, dịch vụ lạc hậu, nghèo nàn và không hấp dẫn…Khi Hà Nội mở rộng, ngành du lịch có lẽ chưa chuẩn bị cho mình tâm thế vươn xa, vươn rộng tới những miền đất mới của Hà Nội, nên ở một khía cạnh, du lịch Hà Nội đã bị “chậm” , không theo kịp nhu cầu du lịch, sản phẩm du lịch mới, nên mới bị thiếu hụt đủ bề.
VN là đất nước có nhiều tiềm năng du lịch, không chỉ có một lịch sử 4000 năm dựng nước giữ nước, một vùng đất với nhiều kiến tạo địa lý địa chất hình thành nhiều cảnh đẹp thiên nhiên kỳ vĩ lộng lẫy, mà còn có một nền văn hiến rực rỡ với sự đa dạng của nhiều nền văn hoá.
Ngành du lịch ở VN nói chung dù đã có nhiều phát triển, song việc chuyên nghiệp hoá để trở thành một ngành công nghiệp thật sự vẫn còn ở phía trước.. Nhưngthiết nghĩ ngành du lịch VN nói chung, du lịch Hà Nội nói riêng, trước mắt nên xây dựng một kế hoạch về du lịch Thăng Long- Hà Nội cho kịp với Đại lễ 1000 năm. Vâng! Chỉ còn hơn 500 ngày nữa thôi./.
Hòai Hương
Hà Nội không chỉ có 5 cửa ô, 36 phố cổ, Sông Hồng, Hồ Gươm, Hồ Tây …như trong suy nghĩ quen thuộc từ xưa,mà bây giờ có thêm bao nhiêu danh lam, thắng cảnh, địa danh mới để không chỉ chính người Hà Nội khám phá mà cả du khách bốn phương cũng muốn đi và đến.
1.Hà Nội, một địa danh thiêng liêng mà hình như tất cả những ai mang dòng máu Hùng Vương đều hướng tới và ao ước ít nhất có 1 lần trong đời được đi và đến, như một cuộc trở về lịch sử đất nước, như một cuộc hành hương hướng về cội nguồn dân tộc. Hà Nội, như ví von của người Việt, là trái tim của Việt Nam.
Với du khách phương xa,trong bản đồ du lịch Châu Á- Đông Dương, Hà Nội- Việt Nam, là một cái tên biểu tượng cho hoà bình, cho nền văn hiến lâu đời của một quốc gia với nhiều di tích mang dấu ấn của văn minh Sông Hồng, có nhiều bí ẩn để khao khát khám phá, say mê chiêm ngưỡng, thú vị thưởng ngoạn…
Hà Nội bây giờ không chỉ có trong phạm vi “nội” Sông Hồng mà đã vươn xa với nhiều địa danh mới, thêm nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích mang dấu ấn lịch sử, văn hoá. Hà Nội không chỉ có một “dòng” văn hoá “Kinh Thành” của người Việt, mà đa dạng hơn, nhiều màu sắc hơn, phong phú hơn. Chỉ 1 thống kê nho nhỏ, từ cấp thôn-làng đến quốc gia, Hà nội có hơn 1000 lễ hội các loại trong năm.
Tôi có những người bạn khi sang VN công tác, không lần nào không tìm cách sắp xếp để có vài ngày đi “vòng quanh” Hà Nội, như cách nói của họ. Dịp đầu năm nay, khi họ sang, tôi đã khoe vui: Hà Nội bây giờ rộng lắm, nhiều danh tích không đi là mất một người tình…
Nhưng…
2.Khi chúng tôi quyết định sẽ khám phá một số địa danh mới thuộc về Hà Nội, việc đầu tiên là đi mua bản đồ hướng dẫn ở mấy công ty du lịch, lữ hành, kể cả nhà sách, không đâu có. Hỏi tiếp đến sách hướng dẫn du lịch Hà Nội “mới” cũng không. Bản thân tôi là người phương Nam, nên không hơn những người bạn ngoại quốc, chưa biết gì về những địa danh mới của Hà Nội. Chúng tôi cười và an ủi nói vui: Mình tự khám phá, đi sẽ đến và sẽ thấy…Đi đâu rồi cũng là Hà Nội,quay về được Hồ Gươm.
Có lẽ việc in ấn bản đồ du lịch, làm sách hướng dẫn du lịch ở VN nói chung, ở Hà Nội nói riêng không được chú trọng mấy.Trong khi ta luôn có những chương trình quảng bá du lịch VN, luôn có nhiều dự án lớn nhỏ khuyến khích, kích cầu ngành du lịch, nhưng hình như ta vẫn không có được một sự chuyên nghiệp từ khâu nhỏ nhất, làm bản đồ hướng dẫn du lịch.
Không chỉ riêng Hà Nội, mà khi đi đến các tỉnh thành khác cũng rơi vào tình trạng đó, đi tìm một tấm bản đồ, tìm một cuốn sách hướng dẫn du lịch vùng, miền là cực khó, vì hiếm và cả vì không có.Và tôi, đôi khi cũng cảm thấy lúng túng và không an tâm vì không biết gì khi đến một vùng miền lạ ngay trên đất nước mình.
Những người bạn ngoại quốc của tôi, khi sang VN, lần nào trong tay họ cũng có cuốn“ Lonely Planet- Vietnam”, hướng dẫn chi tiết các vùng, miền,từ Nam ra Bắc, từ đồng bằng, duyên hải, đến vùng núi cao, không chỉ nhà hàng, khách sạn xếp hạng “*”, các dịch vụ cao cấp, mà đến từng chén nước chè xanh quán vỉa hè, cuốc xe ôm…Một du khách “balô” có thể tự tin đi trong một thành phố xa lạ không hề tỏ ra lúng túng.
Tôi không có ý quảng cáo cho nhà xuất bản sách của họ, nhưng quả thật không thể không khen họ tài làm du lịch bằng sách, và sách đã mang đến họ lợi nhuận rất cao, bằng chứng là riêng ấn phẩm về VN, mỗi năm họ lại tái bản có bổ sung sửa chữa cập nhật những gì mới nhất, và gần như trên tay du khách nước ngoài tới VN, ai cũng có 1 cuốn. Song tiếc là cuốn sách các bạn tôi mang theo, chưa kịp cập nhật Hà Nội “mới”.
Và rồi để có thể có được thông tin về những nơi chúng tôi định khám phá, đành phải dùng một công cụ hữu hiệu, đắc dụng là lên mạng internet, tìm kiếm từng địa danh từ các bloger, các trang du lịch lẻ tẻ của các báo, các công ty lữ hành… góp nhặt lại làm “vốn” trước khi lên đường, trong khi không có mấy tự tin lắm, kể cả tôi, người Việt.
3.Khi Hà Nội được mở rộng, phạm vi du lịch Hà Nội không chỉ là những địa danh truyền thống mà còn có cả những địa danh mới sát nhập, như hệ thống các chùa, đình, đền, miếu cổ, các danh thắng núi non hang động, các làng nghề thủ công lâu đời, các sự tích danh nhân nước Việt, các phong tục tập quán khác với người “Kinh thành”…
Nhưng để đi được đến các địa danh đó, dù đã có “vốn” thông tin lấy từ trên mạng, song thực tế lại là chuyện khác. Cuộc hành trình khám phá đầu tiên của chúng tôi là Ba Vì, địa danh có nhiều điểm đến hấp dẫn, vừa có rừng cây, núi cao, sông suối , có những di tích lịch sử gắn với lịch sử dựng nước giữ nước VN.Và những gì trải nghiệm cũng thật đáng để ghi chép như một kỷ niệm.
Cứ ngỡ một địa danh không xa trung tâm Hà Nội, không lạ với người địa phương, đã có tên trên bản đồ du lịch của một số tour nội địa, thì có thể dễ dàng đi và đến. Hỏi thăm đường đi đã là một vấn đề, vì gần như trên lộ trình, không thấy có biển đề, nên từng chặng một là phải dừng để hỏi không thì đi lạc. Ngạc nhiên nhất, có nhiều nơi hỏi thăm đường,họ không hiểu chúng tôi tới đó làm gì,họ không hề biết đó là địa chỉ du lịch, thắng cảnh của địa phương?? ?
Không chỉ chuyến đi Ba Vì, sau đó chúng tôi còn đi mấy vùng khác ở khu vực Hà Tây (cũ), Mê Linh, Lương Sơn…, những nơi chưa được nổi tiếng như Chùa Hương,Chùa Tây Phương, Đền Gióng, Đền Và,…những nơi hình như vẫn đang còn trong sự “giao thoa” làm quen với Hà Nội mở rộng. Sản phẩm, dịch vụ du lịch như thởu sơ khai, nghèo nàn… và không mấy tin cậy về nhiều mặt. Ở lại đêm, là một trải nghiệm khác không mấy thú vị.
Điều gây trong tôi một cảm giác xấu hổ với mấy người bạn nước ngoài, cho dù không phải người Hà Nội, nhưng tôi là người VN, chính là việc gần như những người dân địa phương không hề ý thức mình đang sở hữu những địa danh, những di tích, di sản vô giá. Họ xa lạ và không quan tâm, nên cách đối xử với những nơi đó cũng thật là lạnh nhạt, vô tình, thậm chí là vô cảm.Muốn tìm thêm thông tin cụ thể về nơi đó kể như con số “O”.
4.Hà Nội là 1 trong rất ít nhữngThủ đô trên thế giới có lịch sử 1000 năm. Bản thân Hà Nội đã chứa trong mình những di sản vô giá, cả vật thể, phi vật thể minh chứng cho sự tồn tại, phát triển, trường tồn của quốc gia.Mỗi một địa danh Hà Nội là một câu chuyện, một sự tích mang hồn sông núi đầy tự hào không chỉ của người Hà Nội mà của cả người VN.
Du lịch là một ngành công nghiệp không khói, lợi nhuận cao. Một số quốc gia không có tài nguyên, không có khả năng phát triển những ngành công nghiệp khác, đã lấy du lịch làm ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần chủ lực trong chỉ số GDP của quốc gia. Với họ, Thủ đô của quốc gia là một “nguồn” khai thác du lịch cực kỳ giá trị.
Ngành Du lịch Hà Nội, từ trước tới giờ vẫn chưa có một tiêu chí khoa học, mang tính tập hợp, liên kết, mà manh mún, vụn vặt, ai làm người đó biết, uy tín tạo dựng không bền vững, sản phẩm thì công thức, dịch vụ lạc hậu, nghèo nàn và không hấp dẫn…Khi Hà Nội mở rộng, ngành du lịch có lẽ chưa chuẩn bị cho mình tâm thế vươn xa, vươn rộng tới những miền đất mới của Hà Nội, nên ở một khía cạnh, du lịch Hà Nội đã bị “chậm” , không theo kịp nhu cầu du lịch, sản phẩm du lịch mới, nên mới bị thiếu hụt đủ bề.
VN là đất nước có nhiều tiềm năng du lịch, không chỉ có một lịch sử 4000 năm dựng nước giữ nước, một vùng đất với nhiều kiến tạo địa lý địa chất hình thành nhiều cảnh đẹp thiên nhiên kỳ vĩ lộng lẫy, mà còn có một nền văn hiến rực rỡ với sự đa dạng của nhiều nền văn hoá.
Ngành du lịch ở VN nói chung dù đã có nhiều phát triển, song việc chuyên nghiệp hoá để trở thành một ngành công nghiệp thật sự vẫn còn ở phía trước.. Nhưngthiết nghĩ ngành du lịch VN nói chung, du lịch Hà Nội nói riêng, trước mắt nên xây dựng một kế hoạch về du lịch Thăng Long- Hà Nội cho kịp với Đại lễ 1000 năm. Vâng! Chỉ còn hơn 500 ngày nữa thôi./.
Hòai Hương
Dưa hấu-Chút tự tình mùa xuân
Dưa Hấu – Chút tự tình mùa xuân
1. Mùa xuân phương Nam không giống nơi phương Bắc, có những cơn mưa phùn mỏng nhẹ như sương khói lay động trong cơn gió lạnh miên man khêu gợi các chồi non mướt xanh lộc; mà là nắng, nắng vàng đến chói mắt, đem theo cái khô khát hanh hao cháy lòng.
Nhưng như phép màu huyền diệu, ông Trời đã đem cho mùa Xuân phương Nam một món quà thần tiên, thứ trái quả có tên Dưa Hấu, mang vị ngọt thanh tao dịu mát lòng người.
Dưa Hấu – có lẽ đây là thứ trái quả đầu tiên gắn bó với lịch sử nguồn cội dân tộc Việt từ thuở khai bang lập quốc, được lồng trong một huyền sử rất đẹp về chàng trai Mai An Tiêm – con nuôi vua Hùng Vương thứ 17, với câu nói như triết lý sống ở đời: “Của cải là vật tiền thân”.
Phương Nam, cứ mỗi độ xuân về, những núi dưa hấu chồng chất dọc đường, bến xe, bến đò, xung quanh các chợ, chiếm lĩnh một góc siêu thị lớn…, chen lẫn những cánh mai mảnh khảnh đầ nụ vàng, là hình ảnh đầy ấn tượng. Sự tương phản màu sắc, hình dáng cho trí tưởng tượng bay bổng góp vào khí sắc mùa Xuân, tạo dáng cho Xuân phong cách lạ.
Với người phương Nam, dưa hấu tượng trưng cho thanh xuân (vỏ xanh), xinh đẹp (ruột đỏ như má hồng môi son thiếu nữ), duyên dáng (hạt huyền như răng giai nhân nước Việt xưa), hiền hòa (ngon ngọt, mát dịu), viên mãn (hình tròn láng). Trên bàn thờ tổ tiên nhà nào đó, dù nghèo đến đâu, ngoài mâm ngũ quả cũng có một cặp dưa chưng Tết, trên trái dưa dán miếng giấy hồng điều nhỏ, viết chữ Phúc – Lộc vàng nhũ. Dưa Hấu tượng trưng cho Phúc – Lộc đầu năm. Hai loại dưa được ưa chuộng nhất để chưng Tết là dưa An Tiêm, dáng trái tròn, vỏ xanh lá cây đậm bóng láng, và dưa Hắc Mĩ Nhân, dáng thon thả, tròn dài, da xanh đen, ánh ruột dưa đỏ như son, cát mịn ngọt đậm, ít hạt và hạt đen nhánh. Đặc biệt như một tín ngưỡng, ngày 1 Tết thế nào cũng phải xẻ một trái dưa lấy hên. Ruột dưa đỏ, vị ngọt, năm ấy cả nhà phúc lộc tràn đầy. Dưa hấu trong ngày Tết còn là biểu tượng của xum họp gia đình, trái dưa xẻ ra, mỗi người một miếng, chia lộc đầu năm để ai cũng “đỏ như son”.
Những ngày xuân phương Nam, nắng nóng như thử thách khách du Xuân, cơn khát se cổ họng luôn thường trực, cảm tưởng như những giọt nước cuối cùng trong người cũng bốc hơi theo nắng, không có loại nước giải khát nào có thể làm dịu ám ảnh khát. Sắc xanh đậm cua vỏ, màu đỏ tươi của ruột và vị ngọt mát mọng nước ở trái dưa hấu có sức mê hoặc quyến rũ lạ thường. Chỉ nhìn và tưởng tượng, cơn khát đã dịu đi một nửa. Và khi cầm trên tay miếng dưa được cắt theo hình vầng trăng khuyết, chạm môi vào, không còn là miếng dưa bình thường, mà như một vành môi thiếu nữ ngọt lịm, mát lạnh, như mê như đắm, những mệt nhọc trần ai biến mất, nhường cho sự khoan khóai nhẹ nhàng, để rồi tiếp tục du xuân ngoạn cảnh ngắm môi hồng mắt xinh.
2. Cuộc hành trình của dưa hấu cũng như một điều kỳ lạ dưới bàn tay sắp đặt của thần tiên. Những hạt dưa được loài chim lạ mang từ phương Tây đến thả xuống hòn đảo Nga Sơn – đảo Mai An Tiêm - ở miền Trung nước Việt, và theo cánh chim thiên di, nó dần tiến về phương Nam trở thành trái quả biểu tượng cảu mùa xuân. Rồi như để chia sẻ, góp màu sắc cho ngày Tết ở phương Bắc, dù thời tiết ướt mưa lạnh, dưa hấu ngược đường ra Bắc, màu đỏ tươi trái dưa khi xẻ ra hòa vào màu hồng thắm hoa đào, kỳ diệu thay như ngọn lửa nồng nàn ấm áp ngày Xuân, tăng thêm men say chén rượu cùng tri âm tri kỷ.
Anh ở phương Bắc, ngồi ngắm những hạt mưa mong manh huyền hoặc trong gió xuân, độc ẩm bên chén rượu miên man nghĩ: “Em giữ ấm áp, ngọt ngào, một chút phương Nam về bên anh”.Trái dưa hấu trên bàn hình như thoáng lay động. Một nàng thiếu nữ xiêm áo như mây, tóc dài bồng bềnh, má hồng môi son mắt phượng như từ trái dưa bước ra, tay nâng chén rượu, cất giọng ngâm nga: “Rượu rót tỉnh say rượu đầy vơi / Trần gian ảo ảnh kiếp luân hồi / Bụi hồng vương vấn tình sương khói / Cạn ché tương phùng chút lương duyên...”. Một cơn gió thoảng qua, phả hơi lạnh. Trái dưa xanh thẫm vẫn nguyên vẹn trên bàn, cành bích đào vẫn e ấp khoe nụ hồng chúm chím, chén rượu vẫn cầm trên tay… Một giây mơ màng thoát tục vào cõi mộng Xuân. Dưa hấu phương Nam và Em…
3. Trong tác phẩm “Quả Dưa Đỏ” của Nguyễn Trọng Thuật đăng ở Nam Phong tạp chí số 104, 4/1926 có hai bài thơ rất hay về dưa hấu như khúc tự tình dễ thương phảng phất âm hưởng ca dao dân ca:
“Gặp em ngoài cõi bể Đông
Yêu em về một tấm lòng thắm tươi
Răng đen nhoẻn miệng em cười
Dẫu trời nóng nực cũng nguôi cơn nồng
Yêu em anh bế anh bồng
Nước non ghi nghĩa tương phùng từ đây
Nhờ duyên cái phận em tròn
Bõ công giữ phấn gìn son những ngày
Tương phùng nghĩa cả là đây
Nắng mưa che chở nước mây đào bồng
Chàng về chốn cũ non sông
Thì chàng chờ thiếp cùng về với nghe”
Dưa Hấu – chợt lung linh một chuyện tình đẹp trong cổ tích của trai anh hùng – gái thuyền quyên.
Dưa Hấu – Một loài dưa bình dị nơi ruộng quê, thành một trái quả trân quí trên bàn thờ tổ tiên, ẩn chứa trong mình cả huyền thoại của nhân gian từ những hạt dưa màu nhiệm đến cách sống tự lực cánh sinh, dũng cảm kiên cường đối mặt với gian khó của ông cha xưa, để lại cho đời thơm thảo nghĩa tình mãi mãi cùng mùa Xuân ./.
Hoài Hương
1. Mùa xuân phương Nam không giống nơi phương Bắc, có những cơn mưa phùn mỏng nhẹ như sương khói lay động trong cơn gió lạnh miên man khêu gợi các chồi non mướt xanh lộc; mà là nắng, nắng vàng đến chói mắt, đem theo cái khô khát hanh hao cháy lòng.
Nhưng như phép màu huyền diệu, ông Trời đã đem cho mùa Xuân phương Nam một món quà thần tiên, thứ trái quả có tên Dưa Hấu, mang vị ngọt thanh tao dịu mát lòng người.
Dưa Hấu – có lẽ đây là thứ trái quả đầu tiên gắn bó với lịch sử nguồn cội dân tộc Việt từ thuở khai bang lập quốc, được lồng trong một huyền sử rất đẹp về chàng trai Mai An Tiêm – con nuôi vua Hùng Vương thứ 17, với câu nói như triết lý sống ở đời: “Của cải là vật tiền thân”.
Phương Nam, cứ mỗi độ xuân về, những núi dưa hấu chồng chất dọc đường, bến xe, bến đò, xung quanh các chợ, chiếm lĩnh một góc siêu thị lớn…, chen lẫn những cánh mai mảnh khảnh đầ nụ vàng, là hình ảnh đầy ấn tượng. Sự tương phản màu sắc, hình dáng cho trí tưởng tượng bay bổng góp vào khí sắc mùa Xuân, tạo dáng cho Xuân phong cách lạ.
Với người phương Nam, dưa hấu tượng trưng cho thanh xuân (vỏ xanh), xinh đẹp (ruột đỏ như má hồng môi son thiếu nữ), duyên dáng (hạt huyền như răng giai nhân nước Việt xưa), hiền hòa (ngon ngọt, mát dịu), viên mãn (hình tròn láng). Trên bàn thờ tổ tiên nhà nào đó, dù nghèo đến đâu, ngoài mâm ngũ quả cũng có một cặp dưa chưng Tết, trên trái dưa dán miếng giấy hồng điều nhỏ, viết chữ Phúc – Lộc vàng nhũ. Dưa Hấu tượng trưng cho Phúc – Lộc đầu năm. Hai loại dưa được ưa chuộng nhất để chưng Tết là dưa An Tiêm, dáng trái tròn, vỏ xanh lá cây đậm bóng láng, và dưa Hắc Mĩ Nhân, dáng thon thả, tròn dài, da xanh đen, ánh ruột dưa đỏ như son, cát mịn ngọt đậm, ít hạt và hạt đen nhánh. Đặc biệt như một tín ngưỡng, ngày 1 Tết thế nào cũng phải xẻ một trái dưa lấy hên. Ruột dưa đỏ, vị ngọt, năm ấy cả nhà phúc lộc tràn đầy. Dưa hấu trong ngày Tết còn là biểu tượng của xum họp gia đình, trái dưa xẻ ra, mỗi người một miếng, chia lộc đầu năm để ai cũng “đỏ như son”.
Những ngày xuân phương Nam, nắng nóng như thử thách khách du Xuân, cơn khát se cổ họng luôn thường trực, cảm tưởng như những giọt nước cuối cùng trong người cũng bốc hơi theo nắng, không có loại nước giải khát nào có thể làm dịu ám ảnh khát. Sắc xanh đậm cua vỏ, màu đỏ tươi của ruột và vị ngọt mát mọng nước ở trái dưa hấu có sức mê hoặc quyến rũ lạ thường. Chỉ nhìn và tưởng tượng, cơn khát đã dịu đi một nửa. Và khi cầm trên tay miếng dưa được cắt theo hình vầng trăng khuyết, chạm môi vào, không còn là miếng dưa bình thường, mà như một vành môi thiếu nữ ngọt lịm, mát lạnh, như mê như đắm, những mệt nhọc trần ai biến mất, nhường cho sự khoan khóai nhẹ nhàng, để rồi tiếp tục du xuân ngoạn cảnh ngắm môi hồng mắt xinh.
2. Cuộc hành trình của dưa hấu cũng như một điều kỳ lạ dưới bàn tay sắp đặt của thần tiên. Những hạt dưa được loài chim lạ mang từ phương Tây đến thả xuống hòn đảo Nga Sơn – đảo Mai An Tiêm - ở miền Trung nước Việt, và theo cánh chim thiên di, nó dần tiến về phương Nam trở thành trái quả biểu tượng cảu mùa xuân. Rồi như để chia sẻ, góp màu sắc cho ngày Tết ở phương Bắc, dù thời tiết ướt mưa lạnh, dưa hấu ngược đường ra Bắc, màu đỏ tươi trái dưa khi xẻ ra hòa vào màu hồng thắm hoa đào, kỳ diệu thay như ngọn lửa nồng nàn ấm áp ngày Xuân, tăng thêm men say chén rượu cùng tri âm tri kỷ.
Anh ở phương Bắc, ngồi ngắm những hạt mưa mong manh huyền hoặc trong gió xuân, độc ẩm bên chén rượu miên man nghĩ: “Em giữ ấm áp, ngọt ngào, một chút phương Nam về bên anh”.Trái dưa hấu trên bàn hình như thoáng lay động. Một nàng thiếu nữ xiêm áo như mây, tóc dài bồng bềnh, má hồng môi son mắt phượng như từ trái dưa bước ra, tay nâng chén rượu, cất giọng ngâm nga: “Rượu rót tỉnh say rượu đầy vơi / Trần gian ảo ảnh kiếp luân hồi / Bụi hồng vương vấn tình sương khói / Cạn ché tương phùng chút lương duyên...”. Một cơn gió thoảng qua, phả hơi lạnh. Trái dưa xanh thẫm vẫn nguyên vẹn trên bàn, cành bích đào vẫn e ấp khoe nụ hồng chúm chím, chén rượu vẫn cầm trên tay… Một giây mơ màng thoát tục vào cõi mộng Xuân. Dưa hấu phương Nam và Em…
3. Trong tác phẩm “Quả Dưa Đỏ” của Nguyễn Trọng Thuật đăng ở Nam Phong tạp chí số 104, 4/1926 có hai bài thơ rất hay về dưa hấu như khúc tự tình dễ thương phảng phất âm hưởng ca dao dân ca:
“Gặp em ngoài cõi bể Đông
Yêu em về một tấm lòng thắm tươi
Răng đen nhoẻn miệng em cười
Dẫu trời nóng nực cũng nguôi cơn nồng
Yêu em anh bế anh bồng
Nước non ghi nghĩa tương phùng từ đây
Nhờ duyên cái phận em tròn
Bõ công giữ phấn gìn son những ngày
Tương phùng nghĩa cả là đây
Nắng mưa che chở nước mây đào bồng
Chàng về chốn cũ non sông
Thì chàng chờ thiếp cùng về với nghe”
Dưa Hấu – chợt lung linh một chuyện tình đẹp trong cổ tích của trai anh hùng – gái thuyền quyên.
Dưa Hấu – Một loài dưa bình dị nơi ruộng quê, thành một trái quả trân quí trên bàn thờ tổ tiên, ẩn chứa trong mình cả huyền thoại của nhân gian từ những hạt dưa màu nhiệm đến cách sống tự lực cánh sinh, dũng cảm kiên cường đối mặt với gian khó của ông cha xưa, để lại cho đời thơm thảo nghĩa tình mãi mãi cùng mùa Xuân ./.
Hoài Hương
Mai vàng phương Nam-Linh hoa mùa xuân
Tản mạn
Mai Vàng phương Nam – Linh hoa mùa xuân
Thật lạ, dải đất cong cong hình chữ “S” nhỏ bé, thế mà ông Trời ban cho mùa xuân phương Bắc – phương Nam hai khí sắc khác nhau lạ lùng. Phương Bắc lạnh, ẩm ướt, sương – mưa giăng mắc. Phương Nam nắng ấm tràn trề như rắc vàng mật. Và hoa, cũng kì lạ, cùng một họ nhưng phương Bắc là sắc Đào hồng đỏ tuyệt mĩ, kiều diễm như má hồng môi son thiếu nữ, còn phương Nam – vàng rực cánh Mai, sang cả quí phái nhưng đầy phóng khoáng của miền nắng gió.
Cũng không hiểu từ khi nào và như thế nào mà những cây mai rừng đã “vượt thoát” khỏi các triền núi cao ngất lởm chởm đá, để rồi có mặt như một sứ giả mùa xuân ở khắp vùng châu thổ phương Nam, hay chính do những thần tiên theo ý Trời ban tặng cho miền đất này loài hoa tượng trưng cho mùa xuân nơi những khí chất đặc biệt không loài hoa nào có được.
Ở những lễ hội hoa, “Tứ hữu”: Mai – Lan – Cúc – Trúc luôn là tâm điểm, và Mai, bao giờ cũng đứng hàng đầu. Trong vườn xuân rực rỡ đủ các loài kỳ hoa dị thảo, hồng nhung kiêu sa lộng lẫy, mẫu đơn loan phụng sang trọng, thủy tiên nguyệt cầm thơm ngát… hoa Mai nổi bật lên với dáng vẻ cứng cáp của thân gốc, mạnh mẽ của những cành đâm ngang sổ dọc, dịu dàng mềm mại của những đường uốn cong, mảnh mai quí phái của cành hoa và màu vàng cứ rực lên trong nắng, hòa lẫn vào nắng, cho người ngắm hoa phải say, cái say ngấm từ từ như uống ly rượu ngọt.
Hoa Mai không đẹp lồ lộ như các loài hoa khác, mà kín đáo phô diễn vẻ đẹp tiềm ẩn của mình, chỉ có con mắt nhìn, có tâm cảm được mới nhìn thấy vẻ đẹp đó. Từ dáng cây theo những thế tượng trưng: Long – Phụng – Phong – Vân – Sơn – Thủy…, dáng cành Tam Tài: Thiên – Địa – Nhân, Bốn phương: Thượng – Hạ - Tả - Hữu, đến búp trên cây: búp tròn như hạt cườm là những chùm hoa vàng đang ẩn náu chờ đúng thời khắc bung nở, búp hình móng gà là nơi ẩn thân của những lá non xanh trong như ngọc. Khi hoa nở, lá chồi ra điểm xuyết cho màu vàng mai thêm quyến rũ. Và hương hoa, không phải ai cũng biết được mùi thơm của Mai vàng. Nó là một thứ hương gọi là “ám hương”, chỉ khi đêm xuống, tiết trời hơi se se, vạn vật ngủ yên, lúc ấy tâm người cũng phải tịnh không vọng động thì mới cảm nhận được hương thơm thanh khiết đầy bí ẩn lẩn quất, càng tịnh, hương thơm càng tỏa ra… Chính điều này cũng tạo nên cốt cách của Mai.
Có lẽ thế mà Mai đã song hành cùng nhiều nhà thơ xưa nay. Mai đã đi vào thơ Thiền sư Không Lộ thời Lý,… nhà sư Huyền Quang Tôn Giả, một trong ba vị Thiền Tố Trúc Lâm thời Trần, Mai có mặt trong thơ Thần của Nguyễn Trãi thời Lê, được Nguyễn Du, triều Nguyễn mượn để ví vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Rồi tới Tản Đà, Nguyễn Đình Chiểu, mãi như một tri âm tri kỉ trong thơ của mình. Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ khốc liệt đầy gian khổ hy sinh , nhưng Mai trong vần thơ của Thanh Hải, Chế Lan Viên, Thanh Thảo… vẫn đằm thắm và chứa đựng bao tình yêu trong từng cánh mai. Người quân tử phương Đông cũng lấy Mai tượng trưng cho khí tiết của mình, như Chu Thần Cao Bá Quát với câu thơ để đời: “Thập tái luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đề thứ bái hoa mai – Mười năm chu du tìm gươm cổ / Cả đời chỉ cúi lạy hoa mai”.
Khi những cơn mưa mùa vừa chấm dứt, tiết trời heo may về đêm như ủ sương cho những gốc mai, cái nắng hanh như vuốt nhẹ thức tỉnh mầm lộc mai.. Và lúc những bầy chim én lũ lượt làm tổ báo hiệu Xuân đến Tết về. Tết ở phương Nam có hai đặc sản không có miền nào sánh được: Dưa hấu - Mai vàng. Không có mai thì không còn là Tết, hoa chỉ nở rộ trong 3 ngày Tết nhưng sắc vàng nắng theo suốt cả năm. Những ngày đầu xuân, mai từ các vườn cây đổ dồn về khu thị tứ, về phố chợ, những cây mai đặc kín nụ xanh tròn, loáng thoáng vài chiếc lá non xanh tơ, điểm xuyết vài nụ vàng chúm chím, tạo nên không khí Tết. Nhà giàu đem cả cây mai về nhà, nhà nghèo dù khó đến đâu cũng cố kiếm một nhành mai nhỏ bày trên bàn thờ tổ tiên ông bà. Mai không chỉ là hoa để trang trí cho sắc màu Tết, mà còn là biểu tượng Phúc – Lộc trong năm, mai như vị thần linh tiên đoán tương lai trong năm mới. Nếu mai nở hoa rộ trong ba ngày Tết, cánh hoa đều đặn, sắc vàng tươi là năm đó gia chủ phúc lộc mỹ mãn. Nếu hoa nụ héo, rụng, cánh hoa bé quăn, thì gia chủ sẽ gặp nhiều khó khăn vất vả. Mai là buồn vui một năm mới… nên đối với Mai, không chỉ gượng nhẹ nâng niu “hứng hoa”, mà còn cả sự tôn kính ngầm như “linh hoa” của Xuân. Hết Tết, dù hoa đã rụng hết, không vứt bỏ cành mà giâm dưới đất để trồng thành một cây mai cho mùa Xuân tới.
23 đưa ông Táo, em đóng hộp kỹ lưỡng một cành mai nhỏ đầy nụ, gửi bảo đảm theo đường chuyển phát nhanh ra phương Bắc… Em gửi nắng phương Nam để những ngày xuân của anh thật ấm dù không em. Anh khi nhận được đã cẩn trọng cắm vào bình gốm xanh ngọc thật đẹp, lại đốt thêm một cây nến bên cạnh để hoa đỡ bị lạnh. Giao thừa, bên hai ly rượu đầy, anh nín thở nhìn những nụ mai động đậy tách vỏ xanh hé màu vàng mở rồi bung từng cánh một… nắng phương Nam, Xuân phương Nam đang ở bên anh thật gần… Anh tự cụng hai ly rượu mơ màng:
Cạn chén cùng anh người tình xa
Ấm ngọt môi mềm mộng bên hoa
Tình say thả hồn trong phiêu lãng
Mai vàng – Em – Xuân – đến mọi nhà…
Hoài Hương
Mai Vàng phương Nam – Linh hoa mùa xuân
Thật lạ, dải đất cong cong hình chữ “S” nhỏ bé, thế mà ông Trời ban cho mùa xuân phương Bắc – phương Nam hai khí sắc khác nhau lạ lùng. Phương Bắc lạnh, ẩm ướt, sương – mưa giăng mắc. Phương Nam nắng ấm tràn trề như rắc vàng mật. Và hoa, cũng kì lạ, cùng một họ nhưng phương Bắc là sắc Đào hồng đỏ tuyệt mĩ, kiều diễm như má hồng môi son thiếu nữ, còn phương Nam – vàng rực cánh Mai, sang cả quí phái nhưng đầy phóng khoáng của miền nắng gió.
Cũng không hiểu từ khi nào và như thế nào mà những cây mai rừng đã “vượt thoát” khỏi các triền núi cao ngất lởm chởm đá, để rồi có mặt như một sứ giả mùa xuân ở khắp vùng châu thổ phương Nam, hay chính do những thần tiên theo ý Trời ban tặng cho miền đất này loài hoa tượng trưng cho mùa xuân nơi những khí chất đặc biệt không loài hoa nào có được.
Ở những lễ hội hoa, “Tứ hữu”: Mai – Lan – Cúc – Trúc luôn là tâm điểm, và Mai, bao giờ cũng đứng hàng đầu. Trong vườn xuân rực rỡ đủ các loài kỳ hoa dị thảo, hồng nhung kiêu sa lộng lẫy, mẫu đơn loan phụng sang trọng, thủy tiên nguyệt cầm thơm ngát… hoa Mai nổi bật lên với dáng vẻ cứng cáp của thân gốc, mạnh mẽ của những cành đâm ngang sổ dọc, dịu dàng mềm mại của những đường uốn cong, mảnh mai quí phái của cành hoa và màu vàng cứ rực lên trong nắng, hòa lẫn vào nắng, cho người ngắm hoa phải say, cái say ngấm từ từ như uống ly rượu ngọt.
Hoa Mai không đẹp lồ lộ như các loài hoa khác, mà kín đáo phô diễn vẻ đẹp tiềm ẩn của mình, chỉ có con mắt nhìn, có tâm cảm được mới nhìn thấy vẻ đẹp đó. Từ dáng cây theo những thế tượng trưng: Long – Phụng – Phong – Vân – Sơn – Thủy…, dáng cành Tam Tài: Thiên – Địa – Nhân, Bốn phương: Thượng – Hạ - Tả - Hữu, đến búp trên cây: búp tròn như hạt cườm là những chùm hoa vàng đang ẩn náu chờ đúng thời khắc bung nở, búp hình móng gà là nơi ẩn thân của những lá non xanh trong như ngọc. Khi hoa nở, lá chồi ra điểm xuyết cho màu vàng mai thêm quyến rũ. Và hương hoa, không phải ai cũng biết được mùi thơm của Mai vàng. Nó là một thứ hương gọi là “ám hương”, chỉ khi đêm xuống, tiết trời hơi se se, vạn vật ngủ yên, lúc ấy tâm người cũng phải tịnh không vọng động thì mới cảm nhận được hương thơm thanh khiết đầy bí ẩn lẩn quất, càng tịnh, hương thơm càng tỏa ra… Chính điều này cũng tạo nên cốt cách của Mai.
Có lẽ thế mà Mai đã song hành cùng nhiều nhà thơ xưa nay. Mai đã đi vào thơ Thiền sư Không Lộ thời Lý,… nhà sư Huyền Quang Tôn Giả, một trong ba vị Thiền Tố Trúc Lâm thời Trần, Mai có mặt trong thơ Thần của Nguyễn Trãi thời Lê, được Nguyễn Du, triều Nguyễn mượn để ví vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Rồi tới Tản Đà, Nguyễn Đình Chiểu, mãi như một tri âm tri kỉ trong thơ của mình. Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ khốc liệt đầy gian khổ hy sinh , nhưng Mai trong vần thơ của Thanh Hải, Chế Lan Viên, Thanh Thảo… vẫn đằm thắm và chứa đựng bao tình yêu trong từng cánh mai. Người quân tử phương Đông cũng lấy Mai tượng trưng cho khí tiết của mình, như Chu Thần Cao Bá Quát với câu thơ để đời: “Thập tái luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đề thứ bái hoa mai – Mười năm chu du tìm gươm cổ / Cả đời chỉ cúi lạy hoa mai”.
Khi những cơn mưa mùa vừa chấm dứt, tiết trời heo may về đêm như ủ sương cho những gốc mai, cái nắng hanh như vuốt nhẹ thức tỉnh mầm lộc mai.. Và lúc những bầy chim én lũ lượt làm tổ báo hiệu Xuân đến Tết về. Tết ở phương Nam có hai đặc sản không có miền nào sánh được: Dưa hấu - Mai vàng. Không có mai thì không còn là Tết, hoa chỉ nở rộ trong 3 ngày Tết nhưng sắc vàng nắng theo suốt cả năm. Những ngày đầu xuân, mai từ các vườn cây đổ dồn về khu thị tứ, về phố chợ, những cây mai đặc kín nụ xanh tròn, loáng thoáng vài chiếc lá non xanh tơ, điểm xuyết vài nụ vàng chúm chím, tạo nên không khí Tết. Nhà giàu đem cả cây mai về nhà, nhà nghèo dù khó đến đâu cũng cố kiếm một nhành mai nhỏ bày trên bàn thờ tổ tiên ông bà. Mai không chỉ là hoa để trang trí cho sắc màu Tết, mà còn là biểu tượng Phúc – Lộc trong năm, mai như vị thần linh tiên đoán tương lai trong năm mới. Nếu mai nở hoa rộ trong ba ngày Tết, cánh hoa đều đặn, sắc vàng tươi là năm đó gia chủ phúc lộc mỹ mãn. Nếu hoa nụ héo, rụng, cánh hoa bé quăn, thì gia chủ sẽ gặp nhiều khó khăn vất vả. Mai là buồn vui một năm mới… nên đối với Mai, không chỉ gượng nhẹ nâng niu “hứng hoa”, mà còn cả sự tôn kính ngầm như “linh hoa” của Xuân. Hết Tết, dù hoa đã rụng hết, không vứt bỏ cành mà giâm dưới đất để trồng thành một cây mai cho mùa Xuân tới.
23 đưa ông Táo, em đóng hộp kỹ lưỡng một cành mai nhỏ đầy nụ, gửi bảo đảm theo đường chuyển phát nhanh ra phương Bắc… Em gửi nắng phương Nam để những ngày xuân của anh thật ấm dù không em. Anh khi nhận được đã cẩn trọng cắm vào bình gốm xanh ngọc thật đẹp, lại đốt thêm một cây nến bên cạnh để hoa đỡ bị lạnh. Giao thừa, bên hai ly rượu đầy, anh nín thở nhìn những nụ mai động đậy tách vỏ xanh hé màu vàng mở rồi bung từng cánh một… nắng phương Nam, Xuân phương Nam đang ở bên anh thật gần… Anh tự cụng hai ly rượu mơ màng:
Cạn chén cùng anh người tình xa
Ấm ngọt môi mềm mộng bên hoa
Tình say thả hồn trong phiêu lãng
Mai vàng – Em – Xuân – đến mọi nhà…
Hoài Hương
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
1. Không thể không nhớ tới câu thơ cổ của thi sĩ thời Đường bởi không thể không ngây ngất khi ngắm cả một vừơn đào Nhật Tân trong ánh nắng những ngày giáp Tết đầu xuân Sài Gòn. Trời Sài Gòn những ngày này thật lạ,sáng mù sương se se, chiều xuống gió heo heo, đêm về không khí như được ướp đá mát lạnh, chỉ có chút nắng giữa trưa. Hình như Sài Gòn được chia cái rìa vươn dài xuống phương Nam từ những cơn gió mùa đông bắc rét đậm của Miền Bắc, hay là cái khí lạnh đã theo những cây hoa đào “hành phương Nam”, để giữ cho vẻ đẹp của đào không bị nắng Sài Gòn làm “rám” cánh đào. Những cây Bích Đào,cánh hoa tròn xinh, sắc thắm cứ rực lên lồ lộ quyến rũ, những cành Đào phai cánh mỏng trong suốt, nõn nà, ửng hồng, e ấp hoang ảo. Và trên đất Sài Gòn,giữa nắng gió phương Nam, đào Nhật Tân- Hà Nội như nàng tiên nữ đẹp phiêu dật trong muôn hoa xuân phương Nam.
2. Có lẽ cành đào đầu tiên vào phương Nam là cành đào của làng hoa Ngọc Hà được Vua Quang Trung- Nguyễn Huệ sau khi đánh tan 20 vạn quân Thanh, giải phóng Kinh thành Thăng Long, vào ngày mùng 5 Tết, gửi vào Phú Xuân tặng Công chúa Ngọc Hân báo tin chiến thắng. Và kể từ mùa xuân đầu tiên đất nước Việt Nam thống nhất, Nam- Bắc sum họp một nhà tháng 4.1975,những cành đào Nhật Tân- Hà Nội đã xuôi đường thiên lý Bắc- Nam, qua sông, băng đèo, vượt núi , vào phương Nam góp sắc màu xuân “ánh hồng” tuyệt đẹp.Đào như một nhan sắc mong manh sương khói diễm lệ, như một vẻ đẹp vừa quyến rũ vừa hư ảo,khiến người ngắm hoa như lạc vào một cõi mơ mộng đắm say liêu trai.
Và có lẽ thế mà Đào lúc nào cũng được nâng niu, ưu tiên ở một góc đẹp nhất trong khu chợ hoa hay khu trưng bày cây cảnh trong công viên, có nhiều bóng cây che phủ không cho ánh nắng táp xuống, lại được bao bọc xung quanh nhiều cây nước đá phả hơi mát làm dịu cái nóng, để Đào như vẫn được tắm trong gió lạnh phương Bắc, mà yên tâm phô diễn sắc đẹp cho người Sài Gòn ngắm nhìn.
Người Sài Gòn cũng rất biết cách thưởng thức Đào, dù đã quen với hoa mai. Họ không khác với người Hà Nội gốc khi chọn cho mình những cây đào thế, với nhiều dáng vẻ rất đẹp: Long giáng, Phượng vũ, Bạt phong, Song thụ, Huynh đệ đồng khoa, Mẫu tử, Tráng sĩ tung hòanh, Trực xiên, Tam đa, Ngũ phúc, Độc hành, Túy ông, Thượng mã, Giai nhân… Còn đào cành, thì luôn chọn những cành đào có dáng thế tròn, cành nhỏ quấn quýt tụ hội, như một sự tròn đầy viên mãn, hay có dáng vươn cao như một sự phát đạt thăng tiến…còn hoa cũng là sự kén chọn khá tỉ mỉ. Nụ phải đầy mập mạp, có chấm hồng sẫm với bích đào,hay phớt hồng với đào phai, các nụ phải gần sát nhau, không cách xa rời rạc, nụ cũng phải có đủ 3 tầng, từ nụ già, nụ tơ đến nụ mầm để hoa nở liên tục trong 3 ngày Tết, và hoa không bị thưa thớt.
3.Nơi sảnh đón làm thủ tục nhập cảnh cho Việt Kiều về quê ăn Tết dân tộc ở sân bay Tân Sơn Nhất, ngòai những trang trí đặc trưng của ngày Tết, lúc nào cũng có 2 cây mai vàng- đào bích đứng sóng đôi, tượng trưng cho Bắc- Nam thống nhất, sum họp một nhà. Cây đào bích có dáng thế của cánh chim đang bay,Việt Nam đang trong vận hội mới để phát triển và hội nhập, hoa nở rất đẹp. Tôi đã chứng kiến rất nhiều người khi đi ngang qua đã cố dừng bước ngắm hoa với nhiều ánh mắt chứa đựng không chỉ là trầm trồ vẻ đẹp của hoa mà như ẩn dấu những kỷ niệm xa xưa đầy tâm trạng.Một thiếu phụ có tên Hoa Xuân,Việt Kiều Úc, đứng tần ngần, chùng chình bên cây hoa đào, ngượng ngịu khi được hỏi thăm:” hoa đẹp quá,đã lâu lắm tôi mới được thấy tận mắt một cây đào Hà Nội thật sự. Cách đây hơn 30 năm, tôi cũng đã một lần được thấy khi còn nhỏ, trong Hội Hoa xuân năm đầu tiên đất nước thống nhất, ở trước cửa Dinh Độc Lập.Vâng, bên Úc cũng có hoa đào, nhưng nhập của Nhật hay nước nào đó, không đẹp và không thân thuộc như đào Hà Nội”.
Một lần khác, tôi thấy có cụ bà trong chuyến bay từ Pháp về, cụ cũng đứng rất lâu bên cây hoa đào, nói gì đó một mình. Tôi lại gần, xem cụ có cần giúp đỡ, thì thấy cụ lúng túng nói bằng thứ ngôn ngữ rất lạ,tôi hỏi lại cụ bằng tiếng Việt, cụ lắc, hỏi tiếng Anh cụ cũng lắc, chuyển qua hỏi tiếng Pháp, cụ mới chậm rãi nói:” Tôi người Việt, nhưng là dân tộc H’Mông,tên ngày bé của tôi là Mỉ, quê tôi xa lắm, trên miền núi cao ở Sapa, xa quê lâu lắm không còn nhớ gì hết, chỉ nhớ màu hoa đào khi xuân về, nhà tôi khi xưa trước cửa có trồng một cây đào, nó bằng tuổi tôi, không biết bây giờ còn không. Nhìn cây đào này, ký ức đang dần trở về trong tôi…”
Và không hiếm khi chứng kiến cảnh các em bé người Việt, chỉ trỏ hai cây hoa mai- đào, líu lo ngọng ngịu thứ tiếng Việt không dấu, và đến bên cây đào vuốt ve cánh hoa trìu mến , lạ lẫm trong sự thích thú. Không ít lần thấy những ông- bà già đứng lặng trước cây hoa đào, lén lau một giọt nước mắt, cả một thời thanh xuân của họ có lẽ ùa về cùng lúc khi nhìn thấy màu hoa đào của hòai niệm.
4. Không biết bắt đầu từ mùa xuân nào, sắc hồng của hoa đào Hà Nội đã có trong các trang trí xuân của Sài Gòn, đào luôn sánh vai bên mai vàng phương Nam như một đôi tình nhân mùa xuân không tách rời.Và cũng như một sự đón đợi bí ẩn của những người yêu hoa ở phương Nam, ai cũng háo hức chờ những cành đào đầu tiên vào Sài Gòn như chờ một người tình. Sắc hồng của hoa đào như một sự quyến rũ mê hoặc trong nắng phương Nam, làm cho những người dù tính cách có mạnh mẽ đến thế nào mà nhìn những nụ đào hàm tiếu, những cánh đào mềm mại,mong manh, hồng tươi,cũng dịu lòng.
Vườn hoa Tao Đàn, Hội Hoa xuân, đường hoa Nguyễn Huệ, các công viên lớn nhỏ trong thành phố …, đào Nhật Tân- Hà Nội như nàng tiên thướt tha, đẹp thanh thóat giữa muôn ngàn lòai khoe sắc vườn xuân, những dáng thế đào cổ thụ tạo một phong thái Thăng Long- Hà Nội ngàn năm, như mang cả thần thái thanh lịch, tinh tế, vẻ đẹp cổ xưa của kinh thành vào phưong Nam, cho người Sài Gòn như đắm như say. Và cả con đường hoa Nguyễn Huệ, như duyên dáng hơn trong sự điểm xuyết của những cây đào được mang một cách kỳ công từ Hà Nội vào. Những cây đào cổ kính mang vẻ đẹp như một câu chuyện thần thoại cổ tích xưa đứng trước những tòa nhà cao tầng lộng lẫy trên đường hoa như một sự tương phản thú vị,giống một sắp đặt nghệ thuật giữa mầu sắc và hình khối, giữa vẻ đẹp thần tiên của tự nhiên với sáng tạo của con người , tô điểm thêm sắc thái cho một xuân phương Nam nhiều phong vị hấp dẫn.
Nhiều công viên trong thành phố, cũng bị hấp lực của sắc hồng hoa đào, nên không còn lạ,khi chen vào màu vàng rực rỡ của hoa mai như làm nền, là những cây đào Hà Nội e lệ trong màu hồng, để những thiếu nữ Sài Gòn khi đứng bên hoa đã làm nhiều đôi mắt nam nhân ngẩn ngơ, hoa và người “nhân diện đào hoa tương ánh hồng”, một bức tranh mùa xuân thấm đẫm chất thơ.
5.Sài Gòn, phương Nam, đang vào Xuân, các con đường ngập hoa và sắc màu mùa Xuân. Trong cái gió nắng, trong hương xuân tràn trên phố, hoa đào Hà Nội không chỉ là làm đẹp sắc xuân phương Nam mà như một biễu tượng “ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” của người Sài Gòn-TP.Hồ Chí Minh, người phương Nam hướng về 1000 năm Thăng Long- Hà Nội./.
Hoài Hương
1. Không thể không nhớ tới câu thơ cổ của thi sĩ thời Đường bởi không thể không ngây ngất khi ngắm cả một vừơn đào Nhật Tân trong ánh nắng những ngày giáp Tết đầu xuân Sài Gòn. Trời Sài Gòn những ngày này thật lạ,sáng mù sương se se, chiều xuống gió heo heo, đêm về không khí như được ướp đá mát lạnh, chỉ có chút nắng giữa trưa. Hình như Sài Gòn được chia cái rìa vươn dài xuống phương Nam từ những cơn gió mùa đông bắc rét đậm của Miền Bắc, hay là cái khí lạnh đã theo những cây hoa đào “hành phương Nam”, để giữ cho vẻ đẹp của đào không bị nắng Sài Gòn làm “rám” cánh đào. Những cây Bích Đào,cánh hoa tròn xinh, sắc thắm cứ rực lên lồ lộ quyến rũ, những cành Đào phai cánh mỏng trong suốt, nõn nà, ửng hồng, e ấp hoang ảo. Và trên đất Sài Gòn,giữa nắng gió phương Nam, đào Nhật Tân- Hà Nội như nàng tiên nữ đẹp phiêu dật trong muôn hoa xuân phương Nam.
2. Có lẽ cành đào đầu tiên vào phương Nam là cành đào của làng hoa Ngọc Hà được Vua Quang Trung- Nguyễn Huệ sau khi đánh tan 20 vạn quân Thanh, giải phóng Kinh thành Thăng Long, vào ngày mùng 5 Tết, gửi vào Phú Xuân tặng Công chúa Ngọc Hân báo tin chiến thắng. Và kể từ mùa xuân đầu tiên đất nước Việt Nam thống nhất, Nam- Bắc sum họp một nhà tháng 4.1975,những cành đào Nhật Tân- Hà Nội đã xuôi đường thiên lý Bắc- Nam, qua sông, băng đèo, vượt núi , vào phương Nam góp sắc màu xuân “ánh hồng” tuyệt đẹp.Đào như một nhan sắc mong manh sương khói diễm lệ, như một vẻ đẹp vừa quyến rũ vừa hư ảo,khiến người ngắm hoa như lạc vào một cõi mơ mộng đắm say liêu trai.
Và có lẽ thế mà Đào lúc nào cũng được nâng niu, ưu tiên ở một góc đẹp nhất trong khu chợ hoa hay khu trưng bày cây cảnh trong công viên, có nhiều bóng cây che phủ không cho ánh nắng táp xuống, lại được bao bọc xung quanh nhiều cây nước đá phả hơi mát làm dịu cái nóng, để Đào như vẫn được tắm trong gió lạnh phương Bắc, mà yên tâm phô diễn sắc đẹp cho người Sài Gòn ngắm nhìn.
Người Sài Gòn cũng rất biết cách thưởng thức Đào, dù đã quen với hoa mai. Họ không khác với người Hà Nội gốc khi chọn cho mình những cây đào thế, với nhiều dáng vẻ rất đẹp: Long giáng, Phượng vũ, Bạt phong, Song thụ, Huynh đệ đồng khoa, Mẫu tử, Tráng sĩ tung hòanh, Trực xiên, Tam đa, Ngũ phúc, Độc hành, Túy ông, Thượng mã, Giai nhân… Còn đào cành, thì luôn chọn những cành đào có dáng thế tròn, cành nhỏ quấn quýt tụ hội, như một sự tròn đầy viên mãn, hay có dáng vươn cao như một sự phát đạt thăng tiến…còn hoa cũng là sự kén chọn khá tỉ mỉ. Nụ phải đầy mập mạp, có chấm hồng sẫm với bích đào,hay phớt hồng với đào phai, các nụ phải gần sát nhau, không cách xa rời rạc, nụ cũng phải có đủ 3 tầng, từ nụ già, nụ tơ đến nụ mầm để hoa nở liên tục trong 3 ngày Tết, và hoa không bị thưa thớt.
3.Nơi sảnh đón làm thủ tục nhập cảnh cho Việt Kiều về quê ăn Tết dân tộc ở sân bay Tân Sơn Nhất, ngòai những trang trí đặc trưng của ngày Tết, lúc nào cũng có 2 cây mai vàng- đào bích đứng sóng đôi, tượng trưng cho Bắc- Nam thống nhất, sum họp một nhà. Cây đào bích có dáng thế của cánh chim đang bay,Việt Nam đang trong vận hội mới để phát triển và hội nhập, hoa nở rất đẹp. Tôi đã chứng kiến rất nhiều người khi đi ngang qua đã cố dừng bước ngắm hoa với nhiều ánh mắt chứa đựng không chỉ là trầm trồ vẻ đẹp của hoa mà như ẩn dấu những kỷ niệm xa xưa đầy tâm trạng.Một thiếu phụ có tên Hoa Xuân,Việt Kiều Úc, đứng tần ngần, chùng chình bên cây hoa đào, ngượng ngịu khi được hỏi thăm:” hoa đẹp quá,đã lâu lắm tôi mới được thấy tận mắt một cây đào Hà Nội thật sự. Cách đây hơn 30 năm, tôi cũng đã một lần được thấy khi còn nhỏ, trong Hội Hoa xuân năm đầu tiên đất nước thống nhất, ở trước cửa Dinh Độc Lập.Vâng, bên Úc cũng có hoa đào, nhưng nhập của Nhật hay nước nào đó, không đẹp và không thân thuộc như đào Hà Nội”.
Một lần khác, tôi thấy có cụ bà trong chuyến bay từ Pháp về, cụ cũng đứng rất lâu bên cây hoa đào, nói gì đó một mình. Tôi lại gần, xem cụ có cần giúp đỡ, thì thấy cụ lúng túng nói bằng thứ ngôn ngữ rất lạ,tôi hỏi lại cụ bằng tiếng Việt, cụ lắc, hỏi tiếng Anh cụ cũng lắc, chuyển qua hỏi tiếng Pháp, cụ mới chậm rãi nói:” Tôi người Việt, nhưng là dân tộc H’Mông,tên ngày bé của tôi là Mỉ, quê tôi xa lắm, trên miền núi cao ở Sapa, xa quê lâu lắm không còn nhớ gì hết, chỉ nhớ màu hoa đào khi xuân về, nhà tôi khi xưa trước cửa có trồng một cây đào, nó bằng tuổi tôi, không biết bây giờ còn không. Nhìn cây đào này, ký ức đang dần trở về trong tôi…”
Và không hiếm khi chứng kiến cảnh các em bé người Việt, chỉ trỏ hai cây hoa mai- đào, líu lo ngọng ngịu thứ tiếng Việt không dấu, và đến bên cây đào vuốt ve cánh hoa trìu mến , lạ lẫm trong sự thích thú. Không ít lần thấy những ông- bà già đứng lặng trước cây hoa đào, lén lau một giọt nước mắt, cả một thời thanh xuân của họ có lẽ ùa về cùng lúc khi nhìn thấy màu hoa đào của hòai niệm.
4. Không biết bắt đầu từ mùa xuân nào, sắc hồng của hoa đào Hà Nội đã có trong các trang trí xuân của Sài Gòn, đào luôn sánh vai bên mai vàng phương Nam như một đôi tình nhân mùa xuân không tách rời.Và cũng như một sự đón đợi bí ẩn của những người yêu hoa ở phương Nam, ai cũng háo hức chờ những cành đào đầu tiên vào Sài Gòn như chờ một người tình. Sắc hồng của hoa đào như một sự quyến rũ mê hoặc trong nắng phương Nam, làm cho những người dù tính cách có mạnh mẽ đến thế nào mà nhìn những nụ đào hàm tiếu, những cánh đào mềm mại,mong manh, hồng tươi,cũng dịu lòng.
Vườn hoa Tao Đàn, Hội Hoa xuân, đường hoa Nguyễn Huệ, các công viên lớn nhỏ trong thành phố …, đào Nhật Tân- Hà Nội như nàng tiên thướt tha, đẹp thanh thóat giữa muôn ngàn lòai khoe sắc vườn xuân, những dáng thế đào cổ thụ tạo một phong thái Thăng Long- Hà Nội ngàn năm, như mang cả thần thái thanh lịch, tinh tế, vẻ đẹp cổ xưa của kinh thành vào phưong Nam, cho người Sài Gòn như đắm như say. Và cả con đường hoa Nguyễn Huệ, như duyên dáng hơn trong sự điểm xuyết của những cây đào được mang một cách kỳ công từ Hà Nội vào. Những cây đào cổ kính mang vẻ đẹp như một câu chuyện thần thoại cổ tích xưa đứng trước những tòa nhà cao tầng lộng lẫy trên đường hoa như một sự tương phản thú vị,giống một sắp đặt nghệ thuật giữa mầu sắc và hình khối, giữa vẻ đẹp thần tiên của tự nhiên với sáng tạo của con người , tô điểm thêm sắc thái cho một xuân phương Nam nhiều phong vị hấp dẫn.
Nhiều công viên trong thành phố, cũng bị hấp lực của sắc hồng hoa đào, nên không còn lạ,khi chen vào màu vàng rực rỡ của hoa mai như làm nền, là những cây đào Hà Nội e lệ trong màu hồng, để những thiếu nữ Sài Gòn khi đứng bên hoa đã làm nhiều đôi mắt nam nhân ngẩn ngơ, hoa và người “nhân diện đào hoa tương ánh hồng”, một bức tranh mùa xuân thấm đẫm chất thơ.
5.Sài Gòn, phương Nam, đang vào Xuân, các con đường ngập hoa và sắc màu mùa Xuân. Trong cái gió nắng, trong hương xuân tràn trên phố, hoa đào Hà Nội không chỉ là làm đẹp sắc xuân phương Nam mà như một biễu tượng “ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” của người Sài Gòn-TP.Hồ Chí Minh, người phương Nam hướng về 1000 năm Thăng Long- Hà Nội./.
Hoài Hương
Tết Sài Gòn
Tết Sài Gòn, xuân Thành phố Hồ Chí Minh
1.Rồi dập dìu, mùa xuân chim én về. Mùa bình thường, mùa xuân nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên… Giai điệu tràn ngập vui tươi trong ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của nhạc sĩ Văn Cao lần đầu vào xuân 1976 đã vang lên và cũng từ đó như là một giai điệu đẹp báo hiệu mùa xuân về trên TP.HCM. Ca khúc này cho đến 25 năm sau, mùa xuân 2001 đã như bản nhạc “hiệu” mùa xuân khắp trong Nam ngoài Bắc, và mỗi khi giai điệu vang lên là lòng người cũng như bồi hồi với một mùa xuân mới. Nhưng riêng với người TP.HCM thì giai điệu “Mùa xuân đầu tiên” còn mang thật nhiều ý nghĩa.
Là ca khúc cách mạng đầu tiên đã được báo Sài Gòn Giải Phóng, tờ báo cách mạng đầu tiên của Sài Gòn-TP.HCM, đăng trang trọng trong số báo Xuân đầu tiên của mùa xuân giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, Xuân Bính Thìn 1976. Và ngay sau đó ca khúc được Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng qua giọng ca của ca sĩ Trần Khánh.
”Mùa xuân đầu tiên”, là mùa xuân của người Sài Gòn- TP.HCM không còn chiến tranh, không còn tiếng súng bom,”với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông, một trưa nắng vui cho bao tâm hồn”…, là “người mẹ nhìn đàn con nay đã về…nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh…” , là hạnh phúc của những người vợ không còn cảnh bồng con chờ chồng như huyền thoại “vọng phu” ngàn đời của nước Việt, “hạnh phúc trong tay anh đầu tiên, một cuộc tình êm ấm...” . Để rồi “từ đây người biết quê người, từ đây người biết thương người, từ đây người biết yêu người…” Một khung cảnh hạnh phúc, giản di mà êm đềm, ấm áp.
Ca khúc chỉ có 177 từ, nhưng như gói tất cả tình cảm của mọi người trong niềm hạnh phúc của hoà bình,thống nhất, sum họp, ước mơ không chỉ của riêng 30 năm khói lửa chiến tranh đầy hy sinh mất mát, mà là của cả 4000 năm dựng nước và giữ nước từ thời lập quốc dồn lại. Người Sài Gòn-TP.HCM cảm thấy hơn bao giờ hết, cảm nhận sự thiêng liêng vô cùng của những chữ:Hoà bình, Thống nhất, Sum họp…
2. Sài Gòn- TP.HCM hình như “ăn” Tết sớm nhất, ngay từ Lễ Giáng sinh , Tết “Tây”, không khí Tết đã tràn ngập.Khí trời hanh heo khô mát như tiếp sức cho các loài hoa, trái ươm nụ, nảy chồi chuẩn bị cho cuộc phô diễn khoe sắc màu xuân, cống hiến vẻ đẹp của thiên nhiên vào không khí Tết.Nhưng “ăn” Tết đầu tiên có lẽ là những người “Cựu chiến binh” của thành phố,họ đến với Tết bằng những hồi ức, kỷ niệm, hoài niệm về những ngày chiến trận, binh nghiệp,về những đồng đội còn, mất… từ những cuộc gặp mặt truyền thống từ những ngày cuối năm cũ dương lịch, sang đến gần tết Nguyên Đán. Những thư mời họp mặt được thông tin trên các phương tiện truyền thông, như cánh thiệp đầu xuân của tình đồng đội, đồng chí : Họp mặt Tiểu đoàn 5 Trinh sát đặc công Nam Bộ, Họp mặt binh chủng Đặc công Sài Gòn- Gia Định, Họp mặt chiến sĩ Biệt động Thành Sài Gòn- Gia Định, Họp mặt chiến sĩ Công trường 5- Chủ lực Miền, Họp mặt Cựu chiến binh Quân đoàn 4, Họp mặt văn công Quân giải phóng,Họp mặt cơ quan Trung ương Cục…
Những ngày này, đường phố Sài Gòn-TP.HCM ngoài dòng người ngược xuôi với những “mode” thời trang mới, lạ, của đủ các hãng thời trang Việt Nam, ngoại quốc , thì chen vào đó có những tốp người, quân phục xanh, ngực gắn đầy huân chương, tóc bạc trắng, nhưng nét mặt hồ hởi đi trên phố một cách đường hoàng, đầu ngẩng cao…Họ như tâm điểm kéo theo bao ánh nhìn, ngưỡng mộ, lạ lẫm và cả kính phục không chỉ của những người đi đường, mà còn của các du khách đến với thành phố. Họ là những “cựu chiến binh”, những “anh hùng” đã từng gửi lại cả tuổi xuân vì sự nghiệp độc lập, tự do, giải phóng, thống nhất đất nước, góp một phần cho “Mùa xuân đầu tiên”, mùa xuân vĩnh cửu trên thành phố mang tên Bác được sống trong hoà bình, hạnh phúc..
Tết Sài Gòn, xuân TP.HCM có một góc riêng thật lạ, thật xúc động và có chút gì như tâm linh thiêng liêng riêng có của người Sài Gòn- TP.HCM. Kể từ sau năm Mậu Thân 1968,một cái Tết đã trở thành ám ảnh kinh hoàng của những người lính Mỹ và chính quyền Sài Gòn khi đó,khi cả Sài Gòn rung chuyển trong tiếng súng Tổng tấn công vào các cơ quan đầu não Mỹ và chính quyền Sài Gòn của Quân giải phóng…để rồi hình ảnh anh Giải phóng quân với “dáng đứng Việt Nam, tạc vào thế kỷ” đã ăn sâu vào tâm trí của người Sài Gòn với niềm kính yêu, ngưỡng mộ, biết ơn sự hy sinh của họ..
Hàng năm mỗi khi xuân về, Tết đến, cho dù có những con mắt ngầm theo dõi của những nhân viên đặc vụ chính quyền Sài Gòn thời đó, người dân vẫn âm thầm kín đáo bằng nhiều hình thức làm lễ tưởng niệm những chiến sĩ Giải phóng quân đã hy sinh trên đường phố Sài Gòn năm Mậu Thân. Và từ sau 1975, đặc biệt trong đêm giao thừa, rất nhiều người dân và những người Cựu chiến binh đồng đội xưa đã đến những nơi xưa kia là cuộc chiến giao tranh khốc liệt để tưởng niệm các liệt sĩ Quân giải phóng hy sinh. Những nén nhang thơm, nhiều vòng hoa, bó hoa tươi như sưởi ấm linh hồn thiêng của các anh.Khói nhang trong đêm giao thừa như quyện lại không tan ra, đốm lửa trên đầu nhang cứ lập lòe sáng và như bừng lên cùng ánh sáng pháo hoa đón giao thừa, các liệt sĩ vẫn không bao giờ đi đâu xa, vẫn có mặt ở thành phố, như những thần linh bảo vệ sự bình yên cho mọi người.
Có một người con gái, hơn 30 năm nay không giao thừa nào cô không đến đài tưởng niệm 11 liệt sĩ Quân giải phóng ở Toà Đại sứ Mỹ (nay là Tổng lãnh sự Mỹ),với 1 bó hoa hồng đỏ và một nén nhang thơm, từ khi cô là một thiếu nữ và đến Tết này, không chỉ có cô mà có thêm một cô gái giống cô ngày xưa. Không có ai trong danh sách được khắc trên bia là người thân của cô, nhưng họ là những người đồng đội của cha cô, một “Cựu chiến binh”, và cô xem họ như cha chú của mình.
3. Người Sài Gòn- TP.HCM “ăn” Tết cũng lạ lắm. Kể từ sau mùa xuân 1975, người thành phố “ăn” Tết không theo một phong vị, sắc thái riêng biệt nào, và đó chính là nét đặc trưng của Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM tạo nên sự hấp dẫn, quyến rũ đầy cá tính của thành phố. Không chỉ là Tết phương Nam với những tập quán phong tục của người Nam Bộ, mà là sự hội tụ những tinh hoa truyền thống Tết của các vùng miền đất nước từ Bắc vào Nam, từ miền núi cao đến đồng bằng châu thổ, từ rừng núi Tây Bắc mờ sương đến miền biển nắng tràn gió lộng…
Mai- Đào là hai loài hoa “Chủ” của mùa xuân- Tết, luôn đứng sóng cặp bên nhau,một mạnh mẽ phóng khoáng với màu vàng của nắng gió kết tinh, một mềm mại duyên dáng trong sắc hồng thanh khiết yêu kiều nét đẹp của thần tiên, như một đôi tình nhân Nam- Bắc gắn kết trong tình yêu tuyệt đẹp.
Những nét tinh tế thanh lịch của Thăng Long- Hà Nội ngàn năm tuổi luôn là hương vị được người Sài Gòn- TP.HCM trân trọng như sự “thuần Việt” nhất. Bánh chưng, bánh giày,giò chả… với những truyền thuyết có từ thời lập quốc thuở Vua Hùng dựng nước,những phong tục cổ truyền có tuổi cả 4000 năm lịch sử đất nước, những tinh hoa văn hoá dân gian đặc trưng của Việt Nam được người Sài Gòn-TP.HCM đón nhận không chỉ làm cho thêm phần ý nghĩa của Tết mà còn mang cả tình cảm của “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.
Bên cạnh đó là những “mỹ vị” nhân gian của khắp 3 miền Nam-Trung-Bắc quây quần giống như một mâm cỗ lớn đầy đủ sản vật của “rừng vàng, biển bạc”, hoa thơm trái ngọt, ngũ cốc 4 mùa thơm thảo đồng quê, biểu trưng của dân tộc Việt, giống như một sắp đặt mang tính ngẫu hứng nhưng đầy nghệ thuật của sự phong phú, đa dạng sắc thái trong văn hoá ẩm thực Việt.
Cũng là rượu Việt,nhưng ở Sài Gòn là cuộc gặp gỡ “quốc tửu”, là một cuộc du ngoạn lên rừng xuống biển, ngang dọc các miền châu thổ,lãng du khắp vùng miền đất nước trong lâng lâng men say của nhiều hương vị: Đi theo chiều dài của hình chữ “S”. Rượu Mẫu Sơn – Lạng Sơn, rượu bản Phố - Bắc Hà, rượu San Lùng – Bát Xát – Lào Cai, rượu Đao – Yên Bái, rượu Bó Nặm – Bắc Cạn, rượu Làng Vân – Bắc Giang, rượu Đại Lâm – Bắc Ninh, rượu Thổ Hà – Vĩnh Phúc, rượu Trương Xá – Hưng Yên, rượu Phú Lộc – Hải Dương, rượu Làng Vọc – Hà Nam, rượu Tĩnh Xá, rượu Nga Sơn, rượu Kim Long, rượu Làng Chuồn, rượu Đá Bạc, rượu Bồng Sơn, rượu Phú Lễ - Bến Tre, rượu Xuân Thạch, rượu Tân Lộc,… Các loại rượu cần Tây Bắc, Tây Nguyên. Gần như miền đất nào cũng có một lọai rượu của riêng mình, để uống, để say … trong nắng gió Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM.
Trong làng danh tửu Việt Nam “sum họp” ở thành phố Phương Nam này có ba loại được liệt vào “Đệ nhất danh tửu – mỹ tửu”, thuộc ba vùng Bắc – Trung – Nam, với ba hương vị, tính cách khác nhau rất đặc biệt. Rượu Làng Vân được ví như “Vân hương mỹ tửu”, loại rượu tao nhã như “Văn”. Rượu Bàu Đá,loại rượu huyền thoại , nồng men,khí chất mạnh mẽ, được ví như “Võ”. Rượu Phú Lễ, hương vị như nắng gió phóng khoáng,mênh mang, được ví như “Lãng tử”. Ba lọai rượu này như ba cung bậc của niềm đắm say,không dễ gì một lần uống mà có thể quên được.
4. Sài Gòn-TP.HCM “chơi” Tết cũng “không giống ai”. Có lẽ là vì sự du nhập của nhiều luồng văn hoá khác nhau do tính chất địa lý và lịch sử, 3 ngày Tết là 3 ngày mọi người mặc sức vui chơi thoải mái, ăn uống thả giàn, không phải gò bó trong những tục lệ truyền thống thuần Việt.Những “lễ nghi” gia đình được thực hiện ngay trong đêm giao thừa,sang tới mùng 1,2,3 là ai thích gì chơi đó, ai muốn đi đâu, kể cả đi du lịch xa thì tự nhiên “xuất hành”. Nhưng rất đặc biệt, sáng 1 Tết, đường phố Sài Gòn gần như rất ít người đi, kỳ lạ ở chỗ, đến các tụ điểm vui chơi xuân thì thấy đã đông ngợp người, không hiểu mọi người đi từ lúc nào.Có một thú vị là phần lớn du khách chơi xuân ở Sài Gòn là người của các tỉnh thành lân cận và khách du lịch ngoại quốc.
Là một thành phố năng động và không “lãng phí” để thời gian trống,các hàng quán ở Sài Gòn-TP.HCM trong mấy ngày Tết cũng không nghỉ, các nhà hàng, khách sạn, tiệm ăn khách đông nườm nượp.Tết nhưng không thích ăn uống tụ họp trong nhà mà kéo nhau ra quán thưởng thức các hương vị xuân bốn phương, thế mới thú. Với những người buôn bán, họ mà nghỉ Tết thì sau đó phải “xem” lại ngày khai trương năm mới sợ mất “hên” như năm trước, nên bán luôn không nghỉ để hưởng dài lộc từ năm cũ, phần nữa Tết, khách lại đông hơn thường ngày.
Ngoài ra ngày Tết ở thành phố Phương Nam này còn có một phong tục cổ của người Hoa, nhưng đã được Việt hoá, từng đoàn Lân , Sư nhỏ với vài người cầm phèng la,chũm choẹ đi tới những nhà mặt tiền trên phố, chúc phúc lộc gia chủ bằng mấy câu thơ, vè dân gian, xua đuổi những xui rủi năm cũ, mang điều may mắn tới… Gia chủ tuỳ tâm gửi tặng bao lìxì cho Lân, Sư . Không nhà nào Lân, Sư ghé thăm mà không vui, họ cho đó là điều tốt lành trong năm mới, nhất là các gia chủ làm nghề kinh doanh buôn bán.
Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM còn có kiểu du xuân rất khác, là một phong tục đẹp, không biết bắt nguồn từ đâu, nhưng như một kiểu “chơi” xuân mang đậm chất văn hoá tín ngưỡng và văn hoá truyền thống dân tộc. Ngày 1 Tết, gần như mọi người đều dành cho cuộc xuất hành đầu năm là viếng thăm các chùa trong thành phố, hoặc những ngôi chùa cổ nổi tiếng ở các vùng xung quanh như Bình Dương, Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh…Rồi sau đó là đi thăm mộ người thân ở các nghĩa trang, thắp nhang cho vong linh được ấm cúng.
5. Người Sài Gòn-TP.HCM còn một sự “háo hức” khi xuân về Tết đến, là đón đợi “Đường hoa Nguyễn Huệ”- năm nay có gì lạ? Kể từ năm 2004, trục đường Nguyễn Huệ, giữa trung tâm thành phố, mỗi khi Tết đến là trở thành một đường hoa với những đặc trưng của năm và như biểu tượng khát vọng, mơ ước của người dân thành phố qua chủ đề và những hình ảnh được sắp đặt. Xuân Kỷ Sửu này, chủ đề của đường hoa là “Vững tin”, tiếp nối chủ đề “Vượt sóng” của năm 2008, sau khi VN gia nhập WTO 1 năm. Người thành phố vững tin và đồng thuận về sự phát triển vững mạnh của thành phố và của cả nước, với khẩu hiệu đã bao năm nay được thực hiện” vì cả nước và cùng cả nước”.
Là một thành phố trẻ, hiện đại, tưởng như các dòng văn hoá phương Tây và các quốc gia khác du nhập sẽ làm cho người thành phố không còn để ý tới những gì thuộc về truyền thống. Nhưng thật thú vị , đường hoa Nguyễn Huệ năm nào cũng dành một khúc đường tạo dựng một cảnh đồng quê VN rất sống động,y như một thôn làng thật được “trích” mang đến đây. Tất cả đều là “thật” không phải đồ giả, đồ composit…
Có cả cây cầu khỉ vắt ngang con rạch,mọi người áo quần súng sính, trẻ em rồng rắn đi qua trong tiếng cười. Có ao sen, ruộng lúa đang ngậm đòng, một mảng lúa chín thơm, có cả đăng đó kéo cá bắt tôm, mấy giàn bầu bí, những trái quả miệt vườn, rồi xe trâu, và một góc nhà tranh có cối xay lúa, giã gạo, có thúng mủng giần sàng và một bồ to đầy ắp hạt lúa thơm….Không chỉ thu hút sự hiếu kỳ của lớp trẻ thành phố , của du khách phương xa, mà như một mảnh hồn ký ức của những người thành phố lớn tuổi, như được phút chốc trở lại nơi dòng sông quê, một khoảnh khắc đầy ý nghĩa khi xuân về.
Năm nay, hình ảnh “chủ” là chú Trâu- đầu cơ nghiệp, được tôn vinh và có mặt khắp đường phố với nhiều dáng vẻ từ tôn nghiêm như một vị thần đến ngộ nghĩnh như một nhân vật dân gian vui vẻ. Hình ảnh những chú Trâu-ông Trâu bình dị, hiền hoà, vui vẻ nhưng ngầm chứa một sức mạnh tiềm tàng, chen vào sự lộng lẫy, kiêu sa của hoa, của sắc màu lung linh ánh đèn và những dòng người đi chơi xuân, như một hình ảnh tương phản khá độc đáo của thành phố trong Tết.
6. Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM không chỉ là niềm vui của người thành phố, mà kể từ mùa xuân 1975, khi xuân về, là cả nước có niềm vui chung một nước VN thống nhất, độc lập, tự do, hoà bình. Không mùa xuân nào trong hơn 33 năm mà không nhắc đến “Mùa xuân đầu tiên”, để khóc, để cười, để hạnh phúc đến trong từng ngôi nhà, để rồi “Vững tin” đi tới trong niềm tin vào sự vững mạnh của thành phố, sự trường tồn của đất nước./
Hoài Hương
1.Rồi dập dìu, mùa xuân chim én về. Mùa bình thường, mùa xuân nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên… Giai điệu tràn ngập vui tươi trong ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của nhạc sĩ Văn Cao lần đầu vào xuân 1976 đã vang lên và cũng từ đó như là một giai điệu đẹp báo hiệu mùa xuân về trên TP.HCM. Ca khúc này cho đến 25 năm sau, mùa xuân 2001 đã như bản nhạc “hiệu” mùa xuân khắp trong Nam ngoài Bắc, và mỗi khi giai điệu vang lên là lòng người cũng như bồi hồi với một mùa xuân mới. Nhưng riêng với người TP.HCM thì giai điệu “Mùa xuân đầu tiên” còn mang thật nhiều ý nghĩa.
Là ca khúc cách mạng đầu tiên đã được báo Sài Gòn Giải Phóng, tờ báo cách mạng đầu tiên của Sài Gòn-TP.HCM, đăng trang trọng trong số báo Xuân đầu tiên của mùa xuân giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, Xuân Bính Thìn 1976. Và ngay sau đó ca khúc được Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng qua giọng ca của ca sĩ Trần Khánh.
”Mùa xuân đầu tiên”, là mùa xuân của người Sài Gòn- TP.HCM không còn chiến tranh, không còn tiếng súng bom,”với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông, một trưa nắng vui cho bao tâm hồn”…, là “người mẹ nhìn đàn con nay đã về…nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh…” , là hạnh phúc của những người vợ không còn cảnh bồng con chờ chồng như huyền thoại “vọng phu” ngàn đời của nước Việt, “hạnh phúc trong tay anh đầu tiên, một cuộc tình êm ấm...” . Để rồi “từ đây người biết quê người, từ đây người biết thương người, từ đây người biết yêu người…” Một khung cảnh hạnh phúc, giản di mà êm đềm, ấm áp.
Ca khúc chỉ có 177 từ, nhưng như gói tất cả tình cảm của mọi người trong niềm hạnh phúc của hoà bình,thống nhất, sum họp, ước mơ không chỉ của riêng 30 năm khói lửa chiến tranh đầy hy sinh mất mát, mà là của cả 4000 năm dựng nước và giữ nước từ thời lập quốc dồn lại. Người Sài Gòn-TP.HCM cảm thấy hơn bao giờ hết, cảm nhận sự thiêng liêng vô cùng của những chữ:Hoà bình, Thống nhất, Sum họp…
2. Sài Gòn- TP.HCM hình như “ăn” Tết sớm nhất, ngay từ Lễ Giáng sinh , Tết “Tây”, không khí Tết đã tràn ngập.Khí trời hanh heo khô mát như tiếp sức cho các loài hoa, trái ươm nụ, nảy chồi chuẩn bị cho cuộc phô diễn khoe sắc màu xuân, cống hiến vẻ đẹp của thiên nhiên vào không khí Tết.Nhưng “ăn” Tết đầu tiên có lẽ là những người “Cựu chiến binh” của thành phố,họ đến với Tết bằng những hồi ức, kỷ niệm, hoài niệm về những ngày chiến trận, binh nghiệp,về những đồng đội còn, mất… từ những cuộc gặp mặt truyền thống từ những ngày cuối năm cũ dương lịch, sang đến gần tết Nguyên Đán. Những thư mời họp mặt được thông tin trên các phương tiện truyền thông, như cánh thiệp đầu xuân của tình đồng đội, đồng chí : Họp mặt Tiểu đoàn 5 Trinh sát đặc công Nam Bộ, Họp mặt binh chủng Đặc công Sài Gòn- Gia Định, Họp mặt chiến sĩ Biệt động Thành Sài Gòn- Gia Định, Họp mặt chiến sĩ Công trường 5- Chủ lực Miền, Họp mặt Cựu chiến binh Quân đoàn 4, Họp mặt văn công Quân giải phóng,Họp mặt cơ quan Trung ương Cục…
Những ngày này, đường phố Sài Gòn-TP.HCM ngoài dòng người ngược xuôi với những “mode” thời trang mới, lạ, của đủ các hãng thời trang Việt Nam, ngoại quốc , thì chen vào đó có những tốp người, quân phục xanh, ngực gắn đầy huân chương, tóc bạc trắng, nhưng nét mặt hồ hởi đi trên phố một cách đường hoàng, đầu ngẩng cao…Họ như tâm điểm kéo theo bao ánh nhìn, ngưỡng mộ, lạ lẫm và cả kính phục không chỉ của những người đi đường, mà còn của các du khách đến với thành phố. Họ là những “cựu chiến binh”, những “anh hùng” đã từng gửi lại cả tuổi xuân vì sự nghiệp độc lập, tự do, giải phóng, thống nhất đất nước, góp một phần cho “Mùa xuân đầu tiên”, mùa xuân vĩnh cửu trên thành phố mang tên Bác được sống trong hoà bình, hạnh phúc..
Tết Sài Gòn, xuân TP.HCM có một góc riêng thật lạ, thật xúc động và có chút gì như tâm linh thiêng liêng riêng có của người Sài Gòn- TP.HCM. Kể từ sau năm Mậu Thân 1968,một cái Tết đã trở thành ám ảnh kinh hoàng của những người lính Mỹ và chính quyền Sài Gòn khi đó,khi cả Sài Gòn rung chuyển trong tiếng súng Tổng tấn công vào các cơ quan đầu não Mỹ và chính quyền Sài Gòn của Quân giải phóng…để rồi hình ảnh anh Giải phóng quân với “dáng đứng Việt Nam, tạc vào thế kỷ” đã ăn sâu vào tâm trí của người Sài Gòn với niềm kính yêu, ngưỡng mộ, biết ơn sự hy sinh của họ..
Hàng năm mỗi khi xuân về, Tết đến, cho dù có những con mắt ngầm theo dõi của những nhân viên đặc vụ chính quyền Sài Gòn thời đó, người dân vẫn âm thầm kín đáo bằng nhiều hình thức làm lễ tưởng niệm những chiến sĩ Giải phóng quân đã hy sinh trên đường phố Sài Gòn năm Mậu Thân. Và từ sau 1975, đặc biệt trong đêm giao thừa, rất nhiều người dân và những người Cựu chiến binh đồng đội xưa đã đến những nơi xưa kia là cuộc chiến giao tranh khốc liệt để tưởng niệm các liệt sĩ Quân giải phóng hy sinh. Những nén nhang thơm, nhiều vòng hoa, bó hoa tươi như sưởi ấm linh hồn thiêng của các anh.Khói nhang trong đêm giao thừa như quyện lại không tan ra, đốm lửa trên đầu nhang cứ lập lòe sáng và như bừng lên cùng ánh sáng pháo hoa đón giao thừa, các liệt sĩ vẫn không bao giờ đi đâu xa, vẫn có mặt ở thành phố, như những thần linh bảo vệ sự bình yên cho mọi người.
Có một người con gái, hơn 30 năm nay không giao thừa nào cô không đến đài tưởng niệm 11 liệt sĩ Quân giải phóng ở Toà Đại sứ Mỹ (nay là Tổng lãnh sự Mỹ),với 1 bó hoa hồng đỏ và một nén nhang thơm, từ khi cô là một thiếu nữ và đến Tết này, không chỉ có cô mà có thêm một cô gái giống cô ngày xưa. Không có ai trong danh sách được khắc trên bia là người thân của cô, nhưng họ là những người đồng đội của cha cô, một “Cựu chiến binh”, và cô xem họ như cha chú của mình.
3. Người Sài Gòn- TP.HCM “ăn” Tết cũng lạ lắm. Kể từ sau mùa xuân 1975, người thành phố “ăn” Tết không theo một phong vị, sắc thái riêng biệt nào, và đó chính là nét đặc trưng của Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM tạo nên sự hấp dẫn, quyến rũ đầy cá tính của thành phố. Không chỉ là Tết phương Nam với những tập quán phong tục của người Nam Bộ, mà là sự hội tụ những tinh hoa truyền thống Tết của các vùng miền đất nước từ Bắc vào Nam, từ miền núi cao đến đồng bằng châu thổ, từ rừng núi Tây Bắc mờ sương đến miền biển nắng tràn gió lộng…
Mai- Đào là hai loài hoa “Chủ” của mùa xuân- Tết, luôn đứng sóng cặp bên nhau,một mạnh mẽ phóng khoáng với màu vàng của nắng gió kết tinh, một mềm mại duyên dáng trong sắc hồng thanh khiết yêu kiều nét đẹp của thần tiên, như một đôi tình nhân Nam- Bắc gắn kết trong tình yêu tuyệt đẹp.
Những nét tinh tế thanh lịch của Thăng Long- Hà Nội ngàn năm tuổi luôn là hương vị được người Sài Gòn- TP.HCM trân trọng như sự “thuần Việt” nhất. Bánh chưng, bánh giày,giò chả… với những truyền thuyết có từ thời lập quốc thuở Vua Hùng dựng nước,những phong tục cổ truyền có tuổi cả 4000 năm lịch sử đất nước, những tinh hoa văn hoá dân gian đặc trưng của Việt Nam được người Sài Gòn-TP.HCM đón nhận không chỉ làm cho thêm phần ý nghĩa của Tết mà còn mang cả tình cảm của “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.
Bên cạnh đó là những “mỹ vị” nhân gian của khắp 3 miền Nam-Trung-Bắc quây quần giống như một mâm cỗ lớn đầy đủ sản vật của “rừng vàng, biển bạc”, hoa thơm trái ngọt, ngũ cốc 4 mùa thơm thảo đồng quê, biểu trưng của dân tộc Việt, giống như một sắp đặt mang tính ngẫu hứng nhưng đầy nghệ thuật của sự phong phú, đa dạng sắc thái trong văn hoá ẩm thực Việt.
Cũng là rượu Việt,nhưng ở Sài Gòn là cuộc gặp gỡ “quốc tửu”, là một cuộc du ngoạn lên rừng xuống biển, ngang dọc các miền châu thổ,lãng du khắp vùng miền đất nước trong lâng lâng men say của nhiều hương vị: Đi theo chiều dài của hình chữ “S”. Rượu Mẫu Sơn – Lạng Sơn, rượu bản Phố - Bắc Hà, rượu San Lùng – Bát Xát – Lào Cai, rượu Đao – Yên Bái, rượu Bó Nặm – Bắc Cạn, rượu Làng Vân – Bắc Giang, rượu Đại Lâm – Bắc Ninh, rượu Thổ Hà – Vĩnh Phúc, rượu Trương Xá – Hưng Yên, rượu Phú Lộc – Hải Dương, rượu Làng Vọc – Hà Nam, rượu Tĩnh Xá, rượu Nga Sơn, rượu Kim Long, rượu Làng Chuồn, rượu Đá Bạc, rượu Bồng Sơn, rượu Phú Lễ - Bến Tre, rượu Xuân Thạch, rượu Tân Lộc,… Các loại rượu cần Tây Bắc, Tây Nguyên. Gần như miền đất nào cũng có một lọai rượu của riêng mình, để uống, để say … trong nắng gió Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM.
Trong làng danh tửu Việt Nam “sum họp” ở thành phố Phương Nam này có ba loại được liệt vào “Đệ nhất danh tửu – mỹ tửu”, thuộc ba vùng Bắc – Trung – Nam, với ba hương vị, tính cách khác nhau rất đặc biệt. Rượu Làng Vân được ví như “Vân hương mỹ tửu”, loại rượu tao nhã như “Văn”. Rượu Bàu Đá,loại rượu huyền thoại , nồng men,khí chất mạnh mẽ, được ví như “Võ”. Rượu Phú Lễ, hương vị như nắng gió phóng khoáng,mênh mang, được ví như “Lãng tử”. Ba lọai rượu này như ba cung bậc của niềm đắm say,không dễ gì một lần uống mà có thể quên được.
4. Sài Gòn-TP.HCM “chơi” Tết cũng “không giống ai”. Có lẽ là vì sự du nhập của nhiều luồng văn hoá khác nhau do tính chất địa lý và lịch sử, 3 ngày Tết là 3 ngày mọi người mặc sức vui chơi thoải mái, ăn uống thả giàn, không phải gò bó trong những tục lệ truyền thống thuần Việt.Những “lễ nghi” gia đình được thực hiện ngay trong đêm giao thừa,sang tới mùng 1,2,3 là ai thích gì chơi đó, ai muốn đi đâu, kể cả đi du lịch xa thì tự nhiên “xuất hành”. Nhưng rất đặc biệt, sáng 1 Tết, đường phố Sài Gòn gần như rất ít người đi, kỳ lạ ở chỗ, đến các tụ điểm vui chơi xuân thì thấy đã đông ngợp người, không hiểu mọi người đi từ lúc nào.Có một thú vị là phần lớn du khách chơi xuân ở Sài Gòn là người của các tỉnh thành lân cận và khách du lịch ngoại quốc.
Là một thành phố năng động và không “lãng phí” để thời gian trống,các hàng quán ở Sài Gòn-TP.HCM trong mấy ngày Tết cũng không nghỉ, các nhà hàng, khách sạn, tiệm ăn khách đông nườm nượp.Tết nhưng không thích ăn uống tụ họp trong nhà mà kéo nhau ra quán thưởng thức các hương vị xuân bốn phương, thế mới thú. Với những người buôn bán, họ mà nghỉ Tết thì sau đó phải “xem” lại ngày khai trương năm mới sợ mất “hên” như năm trước, nên bán luôn không nghỉ để hưởng dài lộc từ năm cũ, phần nữa Tết, khách lại đông hơn thường ngày.
Ngoài ra ngày Tết ở thành phố Phương Nam này còn có một phong tục cổ của người Hoa, nhưng đã được Việt hoá, từng đoàn Lân , Sư nhỏ với vài người cầm phèng la,chũm choẹ đi tới những nhà mặt tiền trên phố, chúc phúc lộc gia chủ bằng mấy câu thơ, vè dân gian, xua đuổi những xui rủi năm cũ, mang điều may mắn tới… Gia chủ tuỳ tâm gửi tặng bao lìxì cho Lân, Sư . Không nhà nào Lân, Sư ghé thăm mà không vui, họ cho đó là điều tốt lành trong năm mới, nhất là các gia chủ làm nghề kinh doanh buôn bán.
Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM còn có kiểu du xuân rất khác, là một phong tục đẹp, không biết bắt nguồn từ đâu, nhưng như một kiểu “chơi” xuân mang đậm chất văn hoá tín ngưỡng và văn hoá truyền thống dân tộc. Ngày 1 Tết, gần như mọi người đều dành cho cuộc xuất hành đầu năm là viếng thăm các chùa trong thành phố, hoặc những ngôi chùa cổ nổi tiếng ở các vùng xung quanh như Bình Dương, Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh…Rồi sau đó là đi thăm mộ người thân ở các nghĩa trang, thắp nhang cho vong linh được ấm cúng.
5. Người Sài Gòn-TP.HCM còn một sự “háo hức” khi xuân về Tết đến, là đón đợi “Đường hoa Nguyễn Huệ”- năm nay có gì lạ? Kể từ năm 2004, trục đường Nguyễn Huệ, giữa trung tâm thành phố, mỗi khi Tết đến là trở thành một đường hoa với những đặc trưng của năm và như biểu tượng khát vọng, mơ ước của người dân thành phố qua chủ đề và những hình ảnh được sắp đặt. Xuân Kỷ Sửu này, chủ đề của đường hoa là “Vững tin”, tiếp nối chủ đề “Vượt sóng” của năm 2008, sau khi VN gia nhập WTO 1 năm. Người thành phố vững tin và đồng thuận về sự phát triển vững mạnh của thành phố và của cả nước, với khẩu hiệu đã bao năm nay được thực hiện” vì cả nước và cùng cả nước”.
Là một thành phố trẻ, hiện đại, tưởng như các dòng văn hoá phương Tây và các quốc gia khác du nhập sẽ làm cho người thành phố không còn để ý tới những gì thuộc về truyền thống. Nhưng thật thú vị , đường hoa Nguyễn Huệ năm nào cũng dành một khúc đường tạo dựng một cảnh đồng quê VN rất sống động,y như một thôn làng thật được “trích” mang đến đây. Tất cả đều là “thật” không phải đồ giả, đồ composit…
Có cả cây cầu khỉ vắt ngang con rạch,mọi người áo quần súng sính, trẻ em rồng rắn đi qua trong tiếng cười. Có ao sen, ruộng lúa đang ngậm đòng, một mảng lúa chín thơm, có cả đăng đó kéo cá bắt tôm, mấy giàn bầu bí, những trái quả miệt vườn, rồi xe trâu, và một góc nhà tranh có cối xay lúa, giã gạo, có thúng mủng giần sàng và một bồ to đầy ắp hạt lúa thơm….Không chỉ thu hút sự hiếu kỳ của lớp trẻ thành phố , của du khách phương xa, mà như một mảnh hồn ký ức của những người thành phố lớn tuổi, như được phút chốc trở lại nơi dòng sông quê, một khoảnh khắc đầy ý nghĩa khi xuân về.
Năm nay, hình ảnh “chủ” là chú Trâu- đầu cơ nghiệp, được tôn vinh và có mặt khắp đường phố với nhiều dáng vẻ từ tôn nghiêm như một vị thần đến ngộ nghĩnh như một nhân vật dân gian vui vẻ. Hình ảnh những chú Trâu-ông Trâu bình dị, hiền hoà, vui vẻ nhưng ngầm chứa một sức mạnh tiềm tàng, chen vào sự lộng lẫy, kiêu sa của hoa, của sắc màu lung linh ánh đèn và những dòng người đi chơi xuân, như một hình ảnh tương phản khá độc đáo của thành phố trong Tết.
6. Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM không chỉ là niềm vui của người thành phố, mà kể từ mùa xuân 1975, khi xuân về, là cả nước có niềm vui chung một nước VN thống nhất, độc lập, tự do, hoà bình. Không mùa xuân nào trong hơn 33 năm mà không nhắc đến “Mùa xuân đầu tiên”, để khóc, để cười, để hạnh phúc đến trong từng ngôi nhà, để rồi “Vững tin” đi tới trong niềm tin vào sự vững mạnh của thành phố, sự trường tồn của đất nước./
Hoài Hương
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)