Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2010

Lục bát xa xứ

Lục bát xa xứ


Xứ người lưu lạc bao năm
Thương câu lục bát muôn ngàn dặm xa
Thầm thì mấy khúc dân ca
Mây trôi, bèo dạt, phận hoa, bến đời
Đêm khuya trăng lạnh bóng soi
Chìm trong nỗi nhớ bao lời hát ru
Quê nhà cách trở mịt mù
Xót thân xa xứ tương tư nặng sầu

Ước gì một cánh chim câu
Đem vần lục bát thả vào hồn thơ…


Hoài Hương

Vương vấn

Vương vấn

Tặng V2


Em lạc vào anh phút tình cờ
Vấn vương thóang chốc ngỡ trong mơ
Tưởng rằng tỉnh giấc là quên hết
Mà sao tim không muốn hững hờ

Em gọi thầm anh những chiều mưa
Tương tư buồn vui mấy cho vừa
Mùa qua mùa lại trăng tròn khuyết
Xao động từng cơn gió đòng đưa

Em nhớ mắt mình soi bóng nhau
Hơi ấm bàn tay dịu nỗi sầu
Tri kỷ tri âm chia ngọt mặn
Môi mềm quấn quýt giữa trời sao

Em biết tình yêu chưa đủ say
Để níu hồn anh ở phương này
Hương duyên tơ tóc còn xa lắm
Ước đến một ngày nợ trúc mai./.



Hòai Hương

Vũ trụ & Em

Vũ trụ & Em



Kim tinh lấp lánh góc trời
Em thiên thần giữa cuộc đời trần ai

Mộc tinh huyền ảo bụi mây
Em đầy bí ẩn ngàn cây rừng già

Thủy tinh lạnh lẽo thẳm xa
Em dấu mình hóa tim là giá băng

Hỏa tinh nhuộm sắc đỏ vàng
Em gieo chuỗi lửa kết bằng hờn ghen

Thổ tinh ấm áp thân quen
Em dòng mật ngọt ru quên tháng ngày


Yêu em anh ước mộng say
Lại e vũ trụ vần xoay khó chiều./.



Hòai Hương

Phù Vân Yên Tử

Phù Vân Yên Tử


Giọt mưa Bát Nhã
Nhịp mõ Hoa Nghiêm
Trời thiêng Phật Tiên
Đất linh Nhân Thánh.

Mờ ảo dấu chân trên từng bậc đá
Vạn kiếp thế nhân khó nhọc phàm trần
Mây phù du bóng ảnh chốn huyền không
Rừng lá trúc thầm thì câu sám hối
Tham- Sân- Si, cõi tục đầy cám dỗ
Chạm cửa thiền bỗng chốc hóa hư vô
Suối Giải Oan gột rửa sạch ưu tư
Hoa Yên Tự lắng tâm người tĩnh tại

Một ngày, một đời trôi như giấc mộng
Danh lợi là chi, tranh đấu sống còn
Gương người xưa rời điện ngọc cung son
Nhường quyền tước thanh thản vui mây gió
Thóang Phù Vân một ngọn mầm cứu rỗi
Chút tiêu dao nhẹ bớt nỗi ưu phiền
Dưới núi kia nhân gian đầy bất trắc
Yên Tử ngàn năm phổ độ chúng sinh./.


Yên Tử 12.2007

Hòai Hương

Qua miền Tây Bắc

Qua miền Tây Bắc


Qua miền Tây Bắc mùa trăng
Lung linh ánh bạc, sương giăng ảo mờ
Núi cao mây thấp lững lờ
Vẳng nghe tiếng sáo gọi chờ hẹn nhau
Chợ Tình người hẹn ở đâu
Để rồi lạc lối giữa bầu trời sao
Đêm về câu hát gửi trao
Quẩn quanh vấn vít dạt dào yêu thương.

Qua miền Tây Bắc tơ vương
Thơm xôi nếp mới, ấm hương rượu cần
Khăn Piêu quà tặng tình thân
Đàn môi thủ thỉ níu chân ‘đừng về”
Chợ phiên nhộn nhịp ngựa xe
Váy hoa, thổ cẩm, ô che sắc rừng
Bản, mường rộn rã tưng bừng
Cồng chiêng mở hội, chào mừng khách xa.

Qua miền Tây Bắc bao la
Suối, rừng, thác, núi như là Mường Tiên
Thang trời bắc nhịp nối liền
Ruộng ngô, nương lúa một miền mượt xanh
Ngọt ngào lời Khắp- Tiễn anh
Đắm say kèn lá, riêng dành yêu em
Ngất ngây mộng mị điệu Then
Mơ màng tính tẩu say men nhạc trời

Qua miền Tây Bắc , người ơi…


Hòai Hương

Ngày xưa ơi

Ngày xưa ơi


Ngày xưa nắng nhẹ chiều nghiêng
Anh đưa em ghé thăm miền trung du
Mờ xa dáng núi thâm u
Sông như dải lụa, lúa như thảm vàng
Cánh cò chao liệng ngỡ ngàng
Ngắm con diều sáo mơ màng tầng không


Ngày xưa tím biếc hoàng hôn
Anh đưa em đến làng thôn thanh bình
Khói lam ấm nếp nhà xinh
Triền đê cỏ mượt thuyền tình êm trôi
Hoa xoan nhẹ thả hương trời
Hàng tre gió hát, thoảng lời ru con


Ngày xưa …kỷ niêm mãi còn
Em mơ… một ánh trăng tròn…ngày xưa./.



Hoài Hương

Em còn nhớ hay em đã quên

Em còn nhớ hay em đã quên *



Ru em từng ngón xuân nồng
Anh hôn anh nhớ búp hồng tay em
Hoa vàng mấy độ làm quen
Hẹn em anh đón thăm quê vườn nhà
Xanh trời nắng thủy tinh pha
Mênh mang diệu vợi anh xa đường về
Một thời hạ trắng say mê
Áo nhàu tóc bạc vẫn thề bên nhau
Em đi biển nhớ đã lâu
Anh ngồi hát khúc nhạc sầu dưới mưa
Ứơt mi mắt biếc khô chưa
Anh lau giọt lệ cho vừa đắm say
Dáng buồn như cánh vạc bay
Nao lòng anh xót em gầy vóc mai
Diễm xưa dẫu có nhạt phai
Anh ghi lời đá thương hòai ngàn năm
Phôi pha rượu cạn đường trần
Xuân qua, Hạ tới, Thu tàn, Đông lên
Tình xa nỗi nhớ dịu êm
Yêu em anh hát gọi tên bốn mùa.




Hòai Hương


*,

Đường trần

Đường trần



Sắc không, không sắc cõi sân si
Ngày đêm nhật, nguyệt mộng vân vi
Cửa thiền rộng mở hồn phiêu lãng
Ngọt, mặn thăng, trầm giấc u mê

Rượu rót tỉnh say, rượu đầy vơi
Trần gian ảo ảnh kiếp luân hồi
Bụi hồng vương vấn tình sương khói
Duyên nợ tử sinh vị đắng cay

Mây ở Phù Vân mây tương tư
Người đi biền biệt gió mơ hồ
Biết là rừng trúc còn xanh lá
Nên kẻ vô tình vẫn lãng du./.




Hòai Hương.

Bốn mùa ru em

Bốn mùa ru em


Xuân về
tóc gió mây bồng

Nhớ môi
em ngọt, má hồng làm duyên

Hạ sang
lá hát bình yên

Yêu người
trong mộng dịu hiền dáng hoa

Thu qua
trái chín vườn nhà

Xa thương
lời hẹn, trăng ngà đêm xưa

Đông tàn
nắng dệt sương mưa

Đợi nhau
anh gọi:
Bốn mùa ru em./


Hoài Hương

Cho tôi một vé đi Thăng Long

Du lịch Hà Nội-Đi đâu? Hỏi ai?


Hà Nội không chỉ có 5 cửa ô, 36 phố cổ, Sông Hồng, Hồ Gươm, Hồ Tây …như trong suy nghĩ quen thuộc từ xưa,mà bây giờ có thêm bao nhiêu danh lam, thắng cảnh, địa danh mới để không chỉ chính người Hà Nội khám phá mà cả du khách bốn phương cũng muốn đi và đến.

1.Hà Nội, một địa danh thiêng liêng mà hình như tất cả những ai mang dòng máu Hùng Vương đều hướng tới và ao ước ít nhất có 1 lần trong đời được đi và đến, như một cuộc trở về lịch sử đất nước, như một cuộc hành hương hướng về cội nguồn dân tộc. Hà Nội, như ví von của người Việt, là trái tim của Việt Nam.
Với du khách phương xa,trong bản đồ du lịch Châu Á- Đông Dương, Hà Nội- Việt Nam, là một cái tên biểu tượng cho hoà bình, cho nền văn hiến lâu đời của một quốc gia với nhiều di tích mang dấu ấn của văn minh Sông Hồng, có nhiều bí ẩn để khao khát khám phá, say mê chiêm ngưỡng, thú vị thưởng ngoạn…
Hà Nội bây giờ không chỉ có trong phạm vi “nội” Sông Hồng mà đã vươn xa với nhiều địa danh mới, thêm nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích mang dấu ấn lịch sử, văn hoá. Hà Nội không chỉ có một “dòng” văn hoá “Kinh Thành” của người Việt, mà đa dạng hơn, nhiều màu sắc hơn, phong phú hơn. Chỉ 1 thống kê nho nhỏ, từ cấp thôn-làng đến quốc gia, Hà nội có hơn 1000 lễ hội các loại trong năm.
Tôi có những người bạn khi sang VN công tác, không lần nào không tìm cách sắp xếp để có vài ngày đi “vòng quanh” Hà Nội, như cách nói của họ. Dịp đầu năm nay, khi họ sang, tôi đã khoe vui: Hà Nội bây giờ rộng lắm, nhiều danh tích không đi là mất một người tình…
Nhưng…

2.Khi chúng tôi quyết định sẽ khám phá một số địa danh mới thuộc về Hà Nội, việc đầu tiên là đi mua bản đồ hướng dẫn ở mấy công ty du lịch, lữ hành, kể cả nhà sách, không đâu có. Hỏi tiếp đến sách hướng dẫn du lịch Hà Nội “mới” cũng không. Bản thân tôi là người phương Nam, nên không hơn những người bạn ngoại quốc, chưa biết gì về những địa danh mới của Hà Nội. Chúng tôi cười và an ủi nói vui: Mình tự khám phá, đi sẽ đến và sẽ thấy…Đi đâu rồi cũng là Hà Nội,quay về được Hồ Gươm.
Có lẽ việc in ấn bản đồ du lịch, làm sách hướng dẫn du lịch ở VN nói chung, ở Hà Nội nói riêng không được chú trọng mấy.Trong khi ta luôn có những chương trình quảng bá du lịch VN, luôn có nhiều dự án lớn nhỏ khuyến khích, kích cầu ngành du lịch, nhưng hình như ta vẫn không có được một sự chuyên nghiệp từ khâu nhỏ nhất, làm bản đồ hướng dẫn du lịch.
Không chỉ riêng Hà Nội, mà khi đi đến các tỉnh thành khác cũng rơi vào tình trạng đó, đi tìm một tấm bản đồ, tìm một cuốn sách hướng dẫn du lịch vùng, miền là cực khó, vì hiếm và cả vì không có.Và tôi, đôi khi cũng cảm thấy lúng túng và không an tâm vì không biết gì khi đến một vùng miền lạ ngay trên đất nước mình.
Những người bạn ngoại quốc của tôi, khi sang VN, lần nào trong tay họ cũng có cuốn“ Lonely Planet- Vietnam”, hướng dẫn chi tiết các vùng, miền,từ Nam ra Bắc, từ đồng bằng, duyên hải, đến vùng núi cao, không chỉ nhà hàng, khách sạn xếp hạng “*”, các dịch vụ cao cấp, mà đến từng chén nước chè xanh quán vỉa hè, cuốc xe ôm…Một du khách “balô” có thể tự tin đi trong một thành phố xa lạ không hề tỏ ra lúng túng.
Tôi không có ý quảng cáo cho nhà xuất bản sách của họ, nhưng quả thật không thể không khen họ tài làm du lịch bằng sách, và sách đã mang đến họ lợi nhuận rất cao, bằng chứng là riêng ấn phẩm về VN, mỗi năm họ lại tái bản có bổ sung sửa chữa cập nhật những gì mới nhất, và gần như trên tay du khách nước ngoài tới VN, ai cũng có 1 cuốn. Song tiếc là cuốn sách các bạn tôi mang theo, chưa kịp cập nhật Hà Nội “mới”.
Và rồi để có thể có được thông tin về những nơi chúng tôi định khám phá, đành phải dùng một công cụ hữu hiệu, đắc dụng là lên mạng internet, tìm kiếm từng địa danh từ các bloger, các trang du lịch lẻ tẻ của các báo, các công ty lữ hành… góp nhặt lại làm “vốn” trước khi lên đường, trong khi không có mấy tự tin lắm, kể cả tôi, người Việt.

3.Khi Hà Nội được mở rộng, phạm vi du lịch Hà Nội không chỉ là những địa danh truyền thống mà còn có cả những địa danh mới sát nhập, như hệ thống các chùa, đình, đền, miếu cổ, các danh thắng núi non hang động, các làng nghề thủ công lâu đời, các sự tích danh nhân nước Việt, các phong tục tập quán khác với người “Kinh thành”…
Nhưng để đi được đến các địa danh đó, dù đã có “vốn” thông tin lấy từ trên mạng, song thực tế lại là chuyện khác. Cuộc hành trình khám phá đầu tiên của chúng tôi là Ba Vì, địa danh có nhiều điểm đến hấp dẫn, vừa có rừng cây, núi cao, sông suối , có những di tích lịch sử gắn với lịch sử dựng nước giữ nước VN.Và những gì trải nghiệm cũng thật đáng để ghi chép như một kỷ niệm.
Cứ ngỡ một địa danh không xa trung tâm Hà Nội, không lạ với người địa phương, đã có tên trên bản đồ du lịch của một số tour nội địa, thì có thể dễ dàng đi và đến. Hỏi thăm đường đi đã là một vấn đề, vì gần như trên lộ trình, không thấy có biển đề, nên từng chặng một là phải dừng để hỏi không thì đi lạc. Ngạc nhiên nhất, có nhiều nơi hỏi thăm đường,họ không hiểu chúng tôi tới đó làm gì,họ không hề biết đó là địa chỉ du lịch, thắng cảnh của địa phương?? ?
Không chỉ chuyến đi Ba Vì, sau đó chúng tôi còn đi mấy vùng khác ở khu vực Hà Tây (cũ), Mê Linh, Lương Sơn…, những nơi chưa được nổi tiếng như Chùa Hương,Chùa Tây Phương, Đền Gióng, Đền Và,…những nơi hình như vẫn đang còn trong sự “giao thoa” làm quen với Hà Nội mở rộng. Sản phẩm, dịch vụ du lịch như thởu sơ khai, nghèo nàn… và không mấy tin cậy về nhiều mặt. Ở lại đêm, là một trải nghiệm khác không mấy thú vị.
Điều gây trong tôi một cảm giác xấu hổ với mấy người bạn nước ngoài, cho dù không phải người Hà Nội, nhưng tôi là người VN, chính là việc gần như những người dân địa phương không hề ý thức mình đang sở hữu những địa danh, những di tích, di sản vô giá. Họ xa lạ và không quan tâm, nên cách đối xử với những nơi đó cũng thật là lạnh nhạt, vô tình, thậm chí là vô cảm.Muốn tìm thêm thông tin cụ thể về nơi đó kể như con số “O”.

4.Hà Nội là 1 trong rất ít nhữngThủ đô trên thế giới có lịch sử 1000 năm. Bản thân Hà Nội đã chứa trong mình những di sản vô giá, cả vật thể, phi vật thể minh chứng cho sự tồn tại, phát triển, trường tồn của quốc gia.Mỗi một địa danh Hà Nội là một câu chuyện, một sự tích mang hồn sông núi đầy tự hào không chỉ của người Hà Nội mà của cả người VN.
Du lịch là một ngành công nghiệp không khói, lợi nhuận cao. Một số quốc gia không có tài nguyên, không có khả năng phát triển những ngành công nghiệp khác, đã lấy du lịch làm ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần chủ lực trong chỉ số GDP của quốc gia. Với họ, Thủ đô của quốc gia là một “nguồn” khai thác du lịch cực kỳ giá trị.
Ngành Du lịch Hà Nội, từ trước tới giờ vẫn chưa có một tiêu chí khoa học, mang tính tập hợp, liên kết, mà manh mún, vụn vặt, ai làm người đó biết, uy tín tạo dựng không bền vững, sản phẩm thì công thức, dịch vụ lạc hậu, nghèo nàn và không hấp dẫn…Khi Hà Nội mở rộng, ngành du lịch có lẽ chưa chuẩn bị cho mình tâm thế vươn xa, vươn rộng tới những miền đất mới của Hà Nội, nên ở một khía cạnh, du lịch Hà Nội đã bị “chậm” , không theo kịp nhu cầu du lịch, sản phẩm du lịch mới, nên mới bị thiếu hụt đủ bề.
VN là đất nước có nhiều tiềm năng du lịch, không chỉ có một lịch sử 4000 năm dựng nước giữ nước, một vùng đất với nhiều kiến tạo địa lý địa chất hình thành nhiều cảnh đẹp thiên nhiên kỳ vĩ lộng lẫy, mà còn có một nền văn hiến rực rỡ với sự đa dạng của nhiều nền văn hoá.
Ngành du lịch ở VN nói chung dù đã có nhiều phát triển, song việc chuyên nghiệp hoá để trở thành một ngành công nghiệp thật sự vẫn còn ở phía trước.. Nhưngthiết nghĩ ngành du lịch VN nói chung, du lịch Hà Nội nói riêng, trước mắt nên xây dựng một kế hoạch về du lịch Thăng Long- Hà Nội cho kịp với Đại lễ 1000 năm. Vâng! Chỉ còn hơn 500 ngày nữa thôi./.


Hòai Hương

Dưa hấu-Chút tự tình mùa xuân

Dưa Hấu – Chút tự tình mùa xuân

1. Mùa xuân phương Nam không giống nơi phương Bắc, có những cơn mưa phùn mỏng nhẹ như sương khói lay động trong cơn gió lạnh miên man khêu gợi các chồi non mướt xanh lộc; mà là nắng, nắng vàng đến chói mắt, đem theo cái khô khát hanh hao cháy lòng.

Nhưng như phép màu huyền diệu, ông Trời đã đem cho mùa Xuân phương Nam một món quà thần tiên, thứ trái quả có tên Dưa Hấu, mang vị ngọt thanh tao dịu mát lòng người.

Dưa Hấu – có lẽ đây là thứ trái quả đầu tiên gắn bó với lịch sử nguồn cội dân tộc Việt từ thuở khai bang lập quốc, được lồng trong một huyền sử rất đẹp về chàng trai Mai An Tiêm – con nuôi vua Hùng Vương thứ 17, với câu nói như triết lý sống ở đời: “Của cải là vật tiền thân”.

Phương Nam, cứ mỗi độ xuân về, những núi dưa hấu chồng chất dọc đường, bến xe, bến đò, xung quanh các chợ, chiếm lĩnh một góc siêu thị lớn…, chen lẫn những cánh mai mảnh khảnh đầ nụ vàng, là hình ảnh đầy ấn tượng. Sự tương phản màu sắc, hình dáng cho trí tưởng tượng bay bổng góp vào khí sắc mùa Xuân, tạo dáng cho Xuân phong cách lạ.

Với người phương Nam, dưa hấu tượng trưng cho thanh xuân (vỏ xanh), xinh đẹp (ruột đỏ như má hồng môi son thiếu nữ), duyên dáng (hạt huyền như răng giai nhân nước Việt xưa), hiền hòa (ngon ngọt, mát dịu), viên mãn (hình tròn láng). Trên bàn thờ tổ tiên nhà nào đó, dù nghèo đến đâu, ngoài mâm ngũ quả cũng có một cặp dưa chưng Tết, trên trái dưa dán miếng giấy hồng điều nhỏ, viết chữ Phúc – Lộc vàng nhũ. Dưa Hấu tượng trưng cho Phúc – Lộc đầu năm. Hai loại dưa được ưa chuộng nhất để chưng Tết là dưa An Tiêm, dáng trái tròn, vỏ xanh lá cây đậm bóng láng, và dưa Hắc Mĩ Nhân, dáng thon thả, tròn dài, da xanh đen, ánh ruột dưa đỏ như son, cát mịn ngọt đậm, ít hạt và hạt đen nhánh. Đặc biệt như một tín ngưỡng, ngày 1 Tết thế nào cũng phải xẻ một trái dưa lấy hên. Ruột dưa đỏ, vị ngọt, năm ấy cả nhà phúc lộc tràn đầy. Dưa hấu trong ngày Tết còn là biểu tượng của xum họp gia đình, trái dưa xẻ ra, mỗi người một miếng, chia lộc đầu năm để ai cũng “đỏ như son”.

Những ngày xuân phương Nam, nắng nóng như thử thách khách du Xuân, cơn khát se cổ họng luôn thường trực, cảm tưởng như những giọt nước cuối cùng trong người cũng bốc hơi theo nắng, không có loại nước giải khát nào có thể làm dịu ám ảnh khát. Sắc xanh đậm cua vỏ, màu đỏ tươi của ruột và vị ngọt mát mọng nước ở trái dưa hấu có sức mê hoặc quyến rũ lạ thường. Chỉ nhìn và tưởng tượng, cơn khát đã dịu đi một nửa. Và khi cầm trên tay miếng dưa được cắt theo hình vầng trăng khuyết, chạm môi vào, không còn là miếng dưa bình thường, mà như một vành môi thiếu nữ ngọt lịm, mát lạnh, như mê như đắm, những mệt nhọc trần ai biến mất, nhường cho sự khoan khóai nhẹ nhàng, để rồi tiếp tục du xuân ngoạn cảnh ngắm môi hồng mắt xinh.

2. Cuộc hành trình của dưa hấu cũng như một điều kỳ lạ dưới bàn tay sắp đặt của thần tiên. Những hạt dưa được loài chim lạ mang từ phương Tây đến thả xuống hòn đảo Nga Sơn – đảo Mai An Tiêm - ở miền Trung nước Việt, và theo cánh chim thiên di, nó dần tiến về phương Nam trở thành trái quả biểu tượng cảu mùa xuân. Rồi như để chia sẻ, góp màu sắc cho ngày Tết ở phương Bắc, dù thời tiết ướt mưa lạnh, dưa hấu ngược đường ra Bắc, màu đỏ tươi trái dưa khi xẻ ra hòa vào màu hồng thắm hoa đào, kỳ diệu thay như ngọn lửa nồng nàn ấm áp ngày Xuân, tăng thêm men say chén rượu cùng tri âm tri kỷ.

Anh ở phương Bắc, ngồi ngắm những hạt mưa mong manh huyền hoặc trong gió xuân, độc ẩm bên chén rượu miên man nghĩ: “Em giữ ấm áp, ngọt ngào, một chút phương Nam về bên anh”.Trái dưa hấu trên bàn hình như thoáng lay động. Một nàng thiếu nữ xiêm áo như mây, tóc dài bồng bềnh, má hồng môi son mắt phượng như từ trái dưa bước ra, tay nâng chén rượu, cất giọng ngâm nga: “Rượu rót tỉnh say rượu đầy vơi / Trần gian ảo ảnh kiếp luân hồi / Bụi hồng vương vấn tình sương khói / Cạn ché tương phùng chút lương duyên...”. Một cơn gió thoảng qua, phả hơi lạnh. Trái dưa xanh thẫm vẫn nguyên vẹn trên bàn, cành bích đào vẫn e ấp khoe nụ hồng chúm chím, chén rượu vẫn cầm trên tay… Một giây mơ màng thoát tục vào cõi mộng Xuân. Dưa hấu phương Nam và Em…

3. Trong tác phẩm “Quả Dưa Đỏ” của Nguyễn Trọng Thuật đăng ở Nam Phong tạp chí số 104, 4/1926 có hai bài thơ rất hay về dưa hấu như khúc tự tình dễ thương phảng phất âm hưởng ca dao dân ca:
“Gặp em ngoài cõi bể Đông
Yêu em về một tấm lòng thắm tươi
Răng đen nhoẻn miệng em cười
Dẫu trời nóng nực cũng nguôi cơn nồng
Yêu em anh bế anh bồng
Nước non ghi nghĩa tương phùng từ đây
Nhờ duyên cái phận em tròn
Bõ công giữ phấn gìn son những ngày
Tương phùng nghĩa cả là đây
Nắng mưa che chở nước mây đào bồng
Chàng về chốn cũ non sông
Thì chàng chờ thiếp cùng về với nghe”

Dưa Hấu – chợt lung linh một chuyện tình đẹp trong cổ tích của trai anh hùng – gái thuyền quyên.

Dưa Hấu – Một loài dưa bình dị nơi ruộng quê, thành một trái quả trân quí trên bàn thờ tổ tiên, ẩn chứa trong mình cả huyền thoại của nhân gian từ những hạt dưa màu nhiệm đến cách sống tự lực cánh sinh, dũng cảm kiên cường đối mặt với gian khó của ông cha xưa, để lại cho đời thơm thảo nghĩa tình mãi mãi cùng mùa Xuân ./.

Hoài Hương

Mai vàng phương Nam-Linh hoa mùa xuân

Tản mạn

Mai Vàng phương Nam – Linh hoa mùa xuân

Thật lạ, dải đất cong cong hình chữ “S” nhỏ bé, thế mà ông Trời ban cho mùa xuân phương Bắc – phương Nam hai khí sắc khác nhau lạ lùng. Phương Bắc lạnh, ẩm ướt, sương – mưa giăng mắc. Phương Nam nắng ấm tràn trề như rắc vàng mật. Và hoa, cũng kì lạ, cùng một họ nhưng phương Bắc là sắc Đào hồng đỏ tuyệt mĩ, kiều diễm như má hồng môi son thiếu nữ, còn phương Nam – vàng rực cánh Mai, sang cả quí phái nhưng đầy phóng khoáng của miền nắng gió.

Cũng không hiểu từ khi nào và như thế nào mà những cây mai rừng đã “vượt thoát” khỏi các triền núi cao ngất lởm chởm đá, để rồi có mặt như một sứ giả mùa xuân ở khắp vùng châu thổ phương Nam, hay chính do những thần tiên theo ý Trời ban tặng cho miền đất này loài hoa tượng trưng cho mùa xuân nơi những khí chất đặc biệt không loài hoa nào có được.

Ở những lễ hội hoa, “Tứ hữu”: Mai – Lan – Cúc – Trúc luôn là tâm điểm, và Mai, bao giờ cũng đứng hàng đầu. Trong vườn xuân rực rỡ đủ các loài kỳ hoa dị thảo, hồng nhung kiêu sa lộng lẫy, mẫu đơn loan phụng sang trọng, thủy tiên nguyệt cầm thơm ngát… hoa Mai nổi bật lên với dáng vẻ cứng cáp của thân gốc, mạnh mẽ của những cành đâm ngang sổ dọc, dịu dàng mềm mại của những đường uốn cong, mảnh mai quí phái của cành hoa và màu vàng cứ rực lên trong nắng, hòa lẫn vào nắng, cho người ngắm hoa phải say, cái say ngấm từ từ như uống ly rượu ngọt.

Hoa Mai không đẹp lồ lộ như các loài hoa khác, mà kín đáo phô diễn vẻ đẹp tiềm ẩn của mình, chỉ có con mắt nhìn, có tâm cảm được mới nhìn thấy vẻ đẹp đó. Từ dáng cây theo những thế tượng trưng: Long – Phụng – Phong – Vân – Sơn – Thủy…, dáng cành Tam Tài: Thiên – Địa – Nhân, Bốn phương: Thượng – Hạ - Tả - Hữu, đến búp trên cây: búp tròn như hạt cườm là những chùm hoa vàng đang ẩn náu chờ đúng thời khắc bung nở, búp hình móng gà là nơi ẩn thân của những lá non xanh trong như ngọc. Khi hoa nở, lá chồi ra điểm xuyết cho màu vàng mai thêm quyến rũ. Và hương hoa, không phải ai cũng biết được mùi thơm của Mai vàng. Nó là một thứ hương gọi là “ám hương”, chỉ khi đêm xuống, tiết trời hơi se se, vạn vật ngủ yên, lúc ấy tâm người cũng phải tịnh không vọng động thì mới cảm nhận được hương thơm thanh khiết đầy bí ẩn lẩn quất, càng tịnh, hương thơm càng tỏa ra… Chính điều này cũng tạo nên cốt cách của Mai.

Có lẽ thế mà Mai đã song hành cùng nhiều nhà thơ xưa nay. Mai đã đi vào thơ Thiền sư Không Lộ thời Lý,… nhà sư Huyền Quang Tôn Giả, một trong ba vị Thiền Tố Trúc Lâm thời Trần, Mai có mặt trong thơ Thần của Nguyễn Trãi thời Lê, được Nguyễn Du, triều Nguyễn mượn để ví vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Rồi tới Tản Đà, Nguyễn Đình Chiểu, mãi như một tri âm tri kỉ trong thơ của mình. Những năm tháng chiến tranh chống Mỹ khốc liệt đầy gian khổ hy sinh , nhưng Mai trong vần thơ của Thanh Hải, Chế Lan Viên, Thanh Thảo… vẫn đằm thắm và chứa đựng bao tình yêu trong từng cánh mai. Người quân tử phương Đông cũng lấy Mai tượng trưng cho khí tiết của mình, như Chu Thần Cao Bá Quát với câu thơ để đời: “Thập tái luân giao cầu cổ kiếm / Nhất sinh đề thứ bái hoa mai – Mười năm chu du tìm gươm cổ / Cả đời chỉ cúi lạy hoa mai”.

Khi những cơn mưa mùa vừa chấm dứt, tiết trời heo may về đêm như ủ sương cho những gốc mai, cái nắng hanh như vuốt nhẹ thức tỉnh mầm lộc mai.. Và lúc những bầy chim én lũ lượt làm tổ báo hiệu Xuân đến Tết về. Tết ở phương Nam có hai đặc sản không có miền nào sánh được: Dưa hấu - Mai vàng. Không có mai thì không còn là Tết, hoa chỉ nở rộ trong 3 ngày Tết nhưng sắc vàng nắng theo suốt cả năm. Những ngày đầu xuân, mai từ các vườn cây đổ dồn về khu thị tứ, về phố chợ, những cây mai đặc kín nụ xanh tròn, loáng thoáng vài chiếc lá non xanh tơ, điểm xuyết vài nụ vàng chúm chím, tạo nên không khí Tết. Nhà giàu đem cả cây mai về nhà, nhà nghèo dù khó đến đâu cũng cố kiếm một nhành mai nhỏ bày trên bàn thờ tổ tiên ông bà. Mai không chỉ là hoa để trang trí cho sắc màu Tết, mà còn là biểu tượng Phúc – Lộc trong năm, mai như vị thần linh tiên đoán tương lai trong năm mới. Nếu mai nở hoa rộ trong ba ngày Tết, cánh hoa đều đặn, sắc vàng tươi là năm đó gia chủ phúc lộc mỹ mãn. Nếu hoa nụ héo, rụng, cánh hoa bé quăn, thì gia chủ sẽ gặp nhiều khó khăn vất vả. Mai là buồn vui một năm mới… nên đối với Mai, không chỉ gượng nhẹ nâng niu “hứng hoa”, mà còn cả sự tôn kính ngầm như “linh hoa” của Xuân. Hết Tết, dù hoa đã rụng hết, không vứt bỏ cành mà giâm dưới đất để trồng thành một cây mai cho mùa Xuân tới.

23 đưa ông Táo, em đóng hộp kỹ lưỡng một cành mai nhỏ đầy nụ, gửi bảo đảm theo đường chuyển phát nhanh ra phương Bắc… Em gửi nắng phương Nam để những ngày xuân của anh thật ấm dù không em. Anh khi nhận được đã cẩn trọng cắm vào bình gốm xanh ngọc thật đẹp, lại đốt thêm một cây nến bên cạnh để hoa đỡ bị lạnh. Giao thừa, bên hai ly rượu đầy, anh nín thở nhìn những nụ mai động đậy tách vỏ xanh hé màu vàng mở rồi bung từng cánh một… nắng phương Nam, Xuân phương Nam đang ở bên anh thật gần… Anh tự cụng hai ly rượu mơ màng:
Cạn chén cùng anh người tình xa
Ấm ngọt môi mềm mộng bên hoa
Tình say thả hồn trong phiêu lãng
Mai vàng – Em – Xuân – đến mọi nhà…


Hoài Hương

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng


1. Không thể không nhớ tới câu thơ cổ của thi sĩ thời Đường bởi không thể không ngây ngất khi ngắm cả một vừơn đào Nhật Tân trong ánh nắng những ngày giáp Tết đầu xuân Sài Gòn. Trời Sài Gòn những ngày này thật lạ,sáng mù sương se se, chiều xuống gió heo heo, đêm về không khí như được ướp đá mát lạnh, chỉ có chút nắng giữa trưa. Hình như Sài Gòn được chia cái rìa vươn dài xuống phương Nam từ những cơn gió mùa đông bắc rét đậm của Miền Bắc, hay là cái khí lạnh đã theo những cây hoa đào “hành phương Nam”, để giữ cho vẻ đẹp của đào không bị nắng Sài Gòn làm “rám” cánh đào. Những cây Bích Đào,cánh hoa tròn xinh, sắc thắm cứ rực lên lồ lộ quyến rũ, những cành Đào phai cánh mỏng trong suốt, nõn nà, ửng hồng, e ấp hoang ảo. Và trên đất Sài Gòn,giữa nắng gió phương Nam, đào Nhật Tân- Hà Nội như nàng tiên nữ đẹp phiêu dật trong muôn hoa xuân phương Nam.

2. Có lẽ cành đào đầu tiên vào phương Nam là cành đào của làng hoa Ngọc Hà được Vua Quang Trung- Nguyễn Huệ sau khi đánh tan 20 vạn quân Thanh, giải phóng Kinh thành Thăng Long, vào ngày mùng 5 Tết, gửi vào Phú Xuân tặng Công chúa Ngọc Hân báo tin chiến thắng. Và kể từ mùa xuân đầu tiên đất nước Việt Nam thống nhất, Nam- Bắc sum họp một nhà tháng 4.1975,những cành đào Nhật Tân- Hà Nội đã xuôi đường thiên lý Bắc- Nam, qua sông, băng đèo, vượt núi , vào phương Nam góp sắc màu xuân “ánh hồng” tuyệt đẹp.Đào như một nhan sắc mong manh sương khói diễm lệ, như một vẻ đẹp vừa quyến rũ vừa hư ảo,khiến người ngắm hoa như lạc vào một cõi mơ mộng đắm say liêu trai.

Và có lẽ thế mà Đào lúc nào cũng được nâng niu, ưu tiên ở một góc đẹp nhất trong khu chợ hoa hay khu trưng bày cây cảnh trong công viên, có nhiều bóng cây che phủ không cho ánh nắng táp xuống, lại được bao bọc xung quanh nhiều cây nước đá phả hơi mát làm dịu cái nóng, để Đào như vẫn được tắm trong gió lạnh phương Bắc, mà yên tâm phô diễn sắc đẹp cho người Sài Gòn ngắm nhìn.
Người Sài Gòn cũng rất biết cách thưởng thức Đào, dù đã quen với hoa mai. Họ không khác với người Hà Nội gốc khi chọn cho mình những cây đào thế, với nhiều dáng vẻ rất đẹp: Long giáng, Phượng vũ, Bạt phong, Song thụ, Huynh đệ đồng khoa, Mẫu tử, Tráng sĩ tung hòanh, Trực xiên, Tam đa, Ngũ phúc, Độc hành, Túy ông, Thượng mã, Giai nhân… Còn đào cành, thì luôn chọn những cành đào có dáng thế tròn, cành nhỏ quấn quýt tụ hội, như một sự tròn đầy viên mãn, hay có dáng vươn cao như một sự phát đạt thăng tiến…còn hoa cũng là sự kén chọn khá tỉ mỉ. Nụ phải đầy mập mạp, có chấm hồng sẫm với bích đào,hay phớt hồng với đào phai, các nụ phải gần sát nhau, không cách xa rời rạc, nụ cũng phải có đủ 3 tầng, từ nụ già, nụ tơ đến nụ mầm để hoa nở liên tục trong 3 ngày Tết, và hoa không bị thưa thớt.

3.Nơi sảnh đón làm thủ tục nhập cảnh cho Việt Kiều về quê ăn Tết dân tộc ở sân bay Tân Sơn Nhất, ngòai những trang trí đặc trưng của ngày Tết, lúc nào cũng có 2 cây mai vàng- đào bích đứng sóng đôi, tượng trưng cho Bắc- Nam thống nhất, sum họp một nhà. Cây đào bích có dáng thế của cánh chim đang bay,Việt Nam đang trong vận hội mới để phát triển và hội nhập, hoa nở rất đẹp. Tôi đã chứng kiến rất nhiều người khi đi ngang qua đã cố dừng bước ngắm hoa với nhiều ánh mắt chứa đựng không chỉ là trầm trồ vẻ đẹp của hoa mà như ẩn dấu những kỷ niệm xa xưa đầy tâm trạng.Một thiếu phụ có tên Hoa Xuân,Việt Kiều Úc, đứng tần ngần, chùng chình bên cây hoa đào, ngượng ngịu khi được hỏi thăm:” hoa đẹp quá,đã lâu lắm tôi mới được thấy tận mắt một cây đào Hà Nội thật sự. Cách đây hơn 30 năm, tôi cũng đã một lần được thấy khi còn nhỏ, trong Hội Hoa xuân năm đầu tiên đất nước thống nhất, ở trước cửa Dinh Độc Lập.Vâng, bên Úc cũng có hoa đào, nhưng nhập của Nhật hay nước nào đó, không đẹp và không thân thuộc như đào Hà Nội”.

Một lần khác, tôi thấy có cụ bà trong chuyến bay từ Pháp về, cụ cũng đứng rất lâu bên cây hoa đào, nói gì đó một mình. Tôi lại gần, xem cụ có cần giúp đỡ, thì thấy cụ lúng túng nói bằng thứ ngôn ngữ rất lạ,tôi hỏi lại cụ bằng tiếng Việt, cụ lắc, hỏi tiếng Anh cụ cũng lắc, chuyển qua hỏi tiếng Pháp, cụ mới chậm rãi nói:” Tôi người Việt, nhưng là dân tộc H’Mông,tên ngày bé của tôi là Mỉ, quê tôi xa lắm, trên miền núi cao ở Sapa, xa quê lâu lắm không còn nhớ gì hết, chỉ nhớ màu hoa đào khi xuân về, nhà tôi khi xưa trước cửa có trồng một cây đào, nó bằng tuổi tôi, không biết bây giờ còn không. Nhìn cây đào này, ký ức đang dần trở về trong tôi…”

Và không hiếm khi chứng kiến cảnh các em bé người Việt, chỉ trỏ hai cây hoa mai- đào, líu lo ngọng ngịu thứ tiếng Việt không dấu, và đến bên cây đào vuốt ve cánh hoa trìu mến , lạ lẫm trong sự thích thú. Không ít lần thấy những ông- bà già đứng lặng trước cây hoa đào, lén lau một giọt nước mắt, cả một thời thanh xuân của họ có lẽ ùa về cùng lúc khi nhìn thấy màu hoa đào của hòai niệm.

4. Không biết bắt đầu từ mùa xuân nào, sắc hồng của hoa đào Hà Nội đã có trong các trang trí xuân của Sài Gòn, đào luôn sánh vai bên mai vàng phương Nam như một đôi tình nhân mùa xuân không tách rời.Và cũng như một sự đón đợi bí ẩn của những người yêu hoa ở phương Nam, ai cũng háo hức chờ những cành đào đầu tiên vào Sài Gòn như chờ một người tình. Sắc hồng của hoa đào như một sự quyến rũ mê hoặc trong nắng phương Nam, làm cho những người dù tính cách có mạnh mẽ đến thế nào mà nhìn những nụ đào hàm tiếu, những cánh đào mềm mại,mong manh, hồng tươi,cũng dịu lòng.

Vườn hoa Tao Đàn, Hội Hoa xuân, đường hoa Nguyễn Huệ, các công viên lớn nhỏ trong thành phố …, đào Nhật Tân- Hà Nội như nàng tiên thướt tha, đẹp thanh thóat giữa muôn ngàn lòai khoe sắc vườn xuân, những dáng thế đào cổ thụ tạo một phong thái Thăng Long- Hà Nội ngàn năm, như mang cả thần thái thanh lịch, tinh tế, vẻ đẹp cổ xưa của kinh thành vào phưong Nam, cho người Sài Gòn như đắm như say. Và cả con đường hoa Nguyễn Huệ, như duyên dáng hơn trong sự điểm xuyết của những cây đào được mang một cách kỳ công từ Hà Nội vào. Những cây đào cổ kính mang vẻ đẹp như một câu chuyện thần thoại cổ tích xưa đứng trước những tòa nhà cao tầng lộng lẫy trên đường hoa như một sự tương phản thú vị,giống một sắp đặt nghệ thuật giữa mầu sắc và hình khối, giữa vẻ đẹp thần tiên của tự nhiên với sáng tạo của con người , tô điểm thêm sắc thái cho một xuân phương Nam nhiều phong vị hấp dẫn.

Nhiều công viên trong thành phố, cũng bị hấp lực của sắc hồng hoa đào, nên không còn lạ,khi chen vào màu vàng rực rỡ của hoa mai như làm nền, là những cây đào Hà Nội e lệ trong màu hồng, để những thiếu nữ Sài Gòn khi đứng bên hoa đã làm nhiều đôi mắt nam nhân ngẩn ngơ, hoa và người “nhân diện đào hoa tương ánh hồng”, một bức tranh mùa xuân thấm đẫm chất thơ.

5.Sài Gòn, phương Nam, đang vào Xuân, các con đường ngập hoa và sắc màu mùa Xuân. Trong cái gió nắng, trong hương xuân tràn trên phố, hoa đào Hà Nội không chỉ là làm đẹp sắc xuân phương Nam mà như một biễu tượng “ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” của người Sài Gòn-TP.Hồ Chí Minh, người phương Nam hướng về 1000 năm Thăng Long- Hà Nội./.


Hoài Hương

Tết Sài Gòn

Tết Sài Gòn, xuân Thành phố Hồ Chí Minh


1.Rồi dập dìu, mùa xuân chim én về. Mùa bình thường, mùa xuân nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên… Giai điệu tràn ngập vui tươi trong ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của nhạc sĩ Văn Cao lần đầu vào xuân 1976 đã vang lên và cũng từ đó như là một giai điệu đẹp báo hiệu mùa xuân về trên TP.HCM. Ca khúc này cho đến 25 năm sau, mùa xuân 2001 đã như bản nhạc “hiệu” mùa xuân khắp trong Nam ngoài Bắc, và mỗi khi giai điệu vang lên là lòng người cũng như bồi hồi với một mùa xuân mới. Nhưng riêng với người TP.HCM thì giai điệu “Mùa xuân đầu tiên” còn mang thật nhiều ý nghĩa.
Là ca khúc cách mạng đầu tiên đã được báo Sài Gòn Giải Phóng, tờ báo cách mạng đầu tiên của Sài Gòn-TP.HCM, đăng trang trọng trong số báo Xuân đầu tiên của mùa xuân giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, Xuân Bính Thìn 1976. Và ngay sau đó ca khúc được Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng qua giọng ca của ca sĩ Trần Khánh.
”Mùa xuân đầu tiên”, là mùa xuân của người Sài Gòn- TP.HCM không còn chiến tranh, không còn tiếng súng bom,”với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông, một trưa nắng vui cho bao tâm hồn”…, là “người mẹ nhìn đàn con nay đã về…nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh…” , là hạnh phúc của những người vợ không còn cảnh bồng con chờ chồng như huyền thoại “vọng phu” ngàn đời của nước Việt, “hạnh phúc trong tay anh đầu tiên, một cuộc tình êm ấm...” . Để rồi “từ đây người biết quê người, từ đây người biết thương người, từ đây người biết yêu người…” Một khung cảnh hạnh phúc, giản di mà êm đềm, ấm áp.
Ca khúc chỉ có 177 từ, nhưng như gói tất cả tình cảm của mọi người trong niềm hạnh phúc của hoà bình,thống nhất, sum họp, ước mơ không chỉ của riêng 30 năm khói lửa chiến tranh đầy hy sinh mất mát, mà là của cả 4000 năm dựng nước và giữ nước từ thời lập quốc dồn lại. Người Sài Gòn-TP.HCM cảm thấy hơn bao giờ hết, cảm nhận sự thiêng liêng vô cùng của những chữ:Hoà bình, Thống nhất, Sum họp…

2. Sài Gòn- TP.HCM hình như “ăn” Tết sớm nhất, ngay từ Lễ Giáng sinh , Tết “Tây”, không khí Tết đã tràn ngập.Khí trời hanh heo khô mát như tiếp sức cho các loài hoa, trái ươm nụ, nảy chồi chuẩn bị cho cuộc phô diễn khoe sắc màu xuân, cống hiến vẻ đẹp của thiên nhiên vào không khí Tết.Nhưng “ăn” Tết đầu tiên có lẽ là những người “Cựu chiến binh” của thành phố,họ đến với Tết bằng những hồi ức, kỷ niệm, hoài niệm về những ngày chiến trận, binh nghiệp,về những đồng đội còn, mất… từ những cuộc gặp mặt truyền thống từ những ngày cuối năm cũ dương lịch, sang đến gần tết Nguyên Đán. Những thư mời họp mặt được thông tin trên các phương tiện truyền thông, như cánh thiệp đầu xuân của tình đồng đội, đồng chí : Họp mặt Tiểu đoàn 5 Trinh sát đặc công Nam Bộ, Họp mặt binh chủng Đặc công Sài Gòn- Gia Định, Họp mặt chiến sĩ Biệt động Thành Sài Gòn- Gia Định, Họp mặt chiến sĩ Công trường 5- Chủ lực Miền, Họp mặt Cựu chiến binh Quân đoàn 4, Họp mặt văn công Quân giải phóng,Họp mặt cơ quan Trung ương Cục…
Những ngày này, đường phố Sài Gòn-TP.HCM ngoài dòng người ngược xuôi với những “mode” thời trang mới, lạ, của đủ các hãng thời trang Việt Nam, ngoại quốc , thì chen vào đó có những tốp người, quân phục xanh, ngực gắn đầy huân chương, tóc bạc trắng, nhưng nét mặt hồ hởi đi trên phố một cách đường hoàng, đầu ngẩng cao…Họ như tâm điểm kéo theo bao ánh nhìn, ngưỡng mộ, lạ lẫm và cả kính phục không chỉ của những người đi đường, mà còn của các du khách đến với thành phố. Họ là những “cựu chiến binh”, những “anh hùng” đã từng gửi lại cả tuổi xuân vì sự nghiệp độc lập, tự do, giải phóng, thống nhất đất nước, góp một phần cho “Mùa xuân đầu tiên”, mùa xuân vĩnh cửu trên thành phố mang tên Bác được sống trong hoà bình, hạnh phúc..
Tết Sài Gòn, xuân TP.HCM có một góc riêng thật lạ, thật xúc động và có chút gì như tâm linh thiêng liêng riêng có của người Sài Gòn- TP.HCM. Kể từ sau năm Mậu Thân 1968,một cái Tết đã trở thành ám ảnh kinh hoàng của những người lính Mỹ và chính quyền Sài Gòn khi đó,khi cả Sài Gòn rung chuyển trong tiếng súng Tổng tấn công vào các cơ quan đầu não Mỹ và chính quyền Sài Gòn của Quân giải phóng…để rồi hình ảnh anh Giải phóng quân với “dáng đứng Việt Nam, tạc vào thế kỷ” đã ăn sâu vào tâm trí của người Sài Gòn với niềm kính yêu, ngưỡng mộ, biết ơn sự hy sinh của họ..
Hàng năm mỗi khi xuân về, Tết đến, cho dù có những con mắt ngầm theo dõi của những nhân viên đặc vụ chính quyền Sài Gòn thời đó, người dân vẫn âm thầm kín đáo bằng nhiều hình thức làm lễ tưởng niệm những chiến sĩ Giải phóng quân đã hy sinh trên đường phố Sài Gòn năm Mậu Thân. Và từ sau 1975, đặc biệt trong đêm giao thừa, rất nhiều người dân và những người Cựu chiến binh đồng đội xưa đã đến những nơi xưa kia là cuộc chiến giao tranh khốc liệt để tưởng niệm các liệt sĩ Quân giải phóng hy sinh. Những nén nhang thơm, nhiều vòng hoa, bó hoa tươi như sưởi ấm linh hồn thiêng của các anh.Khói nhang trong đêm giao thừa như quyện lại không tan ra, đốm lửa trên đầu nhang cứ lập lòe sáng và như bừng lên cùng ánh sáng pháo hoa đón giao thừa, các liệt sĩ vẫn không bao giờ đi đâu xa, vẫn có mặt ở thành phố, như những thần linh bảo vệ sự bình yên cho mọi người.
Có một người con gái, hơn 30 năm nay không giao thừa nào cô không đến đài tưởng niệm 11 liệt sĩ Quân giải phóng ở Toà Đại sứ Mỹ (nay là Tổng lãnh sự Mỹ),với 1 bó hoa hồng đỏ và một nén nhang thơm, từ khi cô là một thiếu nữ và đến Tết này, không chỉ có cô mà có thêm một cô gái giống cô ngày xưa. Không có ai trong danh sách được khắc trên bia là người thân của cô, nhưng họ là những người đồng đội của cha cô, một “Cựu chiến binh”, và cô xem họ như cha chú của mình.

3. Người Sài Gòn- TP.HCM “ăn” Tết cũng lạ lắm. Kể từ sau mùa xuân 1975, người thành phố “ăn” Tết không theo một phong vị, sắc thái riêng biệt nào, và đó chính là nét đặc trưng của Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM tạo nên sự hấp dẫn, quyến rũ đầy cá tính của thành phố. Không chỉ là Tết phương Nam với những tập quán phong tục của người Nam Bộ, mà là sự hội tụ những tinh hoa truyền thống Tết của các vùng miền đất nước từ Bắc vào Nam, từ miền núi cao đến đồng bằng châu thổ, từ rừng núi Tây Bắc mờ sương đến miền biển nắng tràn gió lộng…
Mai- Đào là hai loài hoa “Chủ” của mùa xuân- Tết, luôn đứng sóng cặp bên nhau,một mạnh mẽ phóng khoáng với màu vàng của nắng gió kết tinh, một mềm mại duyên dáng trong sắc hồng thanh khiết yêu kiều nét đẹp của thần tiên, như một đôi tình nhân Nam- Bắc gắn kết trong tình yêu tuyệt đẹp.
Những nét tinh tế thanh lịch của Thăng Long- Hà Nội ngàn năm tuổi luôn là hương vị được người Sài Gòn- TP.HCM trân trọng như sự “thuần Việt” nhất. Bánh chưng, bánh giày,giò chả… với những truyền thuyết có từ thời lập quốc thuở Vua Hùng dựng nước,những phong tục cổ truyền có tuổi cả 4000 năm lịch sử đất nước, những tinh hoa văn hoá dân gian đặc trưng của Việt Nam được người Sài Gòn-TP.HCM đón nhận không chỉ làm cho thêm phần ý nghĩa của Tết mà còn mang cả tình cảm của “Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.
Bên cạnh đó là những “mỹ vị” nhân gian của khắp 3 miền Nam-Trung-Bắc quây quần giống như một mâm cỗ lớn đầy đủ sản vật của “rừng vàng, biển bạc”, hoa thơm trái ngọt, ngũ cốc 4 mùa thơm thảo đồng quê, biểu trưng của dân tộc Việt, giống như một sắp đặt mang tính ngẫu hứng nhưng đầy nghệ thuật của sự phong phú, đa dạng sắc thái trong văn hoá ẩm thực Việt.
Cũng là rượu Việt,nhưng ở Sài Gòn là cuộc gặp gỡ “quốc tửu”, là một cuộc du ngoạn lên rừng xuống biển, ngang dọc các miền châu thổ,lãng du khắp vùng miền đất nước trong lâng lâng men say của nhiều hương vị: Đi theo chiều dài của hình chữ “S”. Rượu Mẫu Sơn – Lạng Sơn, rượu bản Phố - Bắc Hà, rượu San Lùng – Bát Xát – Lào Cai, rượu Đao – Yên Bái, rượu Bó Nặm – Bắc Cạn, rượu Làng Vân – Bắc Giang, rượu Đại Lâm – Bắc Ninh, rượu Thổ Hà – Vĩnh Phúc, rượu Trương Xá – Hưng Yên, rượu Phú Lộc – Hải Dương, rượu Làng Vọc – Hà Nam, rượu Tĩnh Xá, rượu Nga Sơn, rượu Kim Long, rượu Làng Chuồn, rượu Đá Bạc, rượu Bồng Sơn, rượu Phú Lễ - Bến Tre, rượu Xuân Thạch, rượu Tân Lộc,… Các loại rượu cần Tây Bắc, Tây Nguyên. Gần như miền đất nào cũng có một lọai rượu của riêng mình, để uống, để say … trong nắng gió Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM.
Trong làng danh tửu Việt Nam “sum họp” ở thành phố Phương Nam này có ba loại được liệt vào “Đệ nhất danh tửu – mỹ tửu”, thuộc ba vùng Bắc – Trung – Nam, với ba hương vị, tính cách khác nhau rất đặc biệt. Rượu Làng Vân được ví như “Vân hương mỹ tửu”, loại rượu tao nhã như “Văn”. Rượu Bàu Đá,loại rượu huyền thoại , nồng men,khí chất mạnh mẽ, được ví như “Võ”. Rượu Phú Lễ, hương vị như nắng gió phóng khoáng,mênh mang, được ví như “Lãng tử”. Ba lọai rượu này như ba cung bậc của niềm đắm say,không dễ gì một lần uống mà có thể quên được.

4. Sài Gòn-TP.HCM “chơi” Tết cũng “không giống ai”. Có lẽ là vì sự du nhập của nhiều luồng văn hoá khác nhau do tính chất địa lý và lịch sử, 3 ngày Tết là 3 ngày mọi người mặc sức vui chơi thoải mái, ăn uống thả giàn, không phải gò bó trong những tục lệ truyền thống thuần Việt.Những “lễ nghi” gia đình được thực hiện ngay trong đêm giao thừa,sang tới mùng 1,2,3 là ai thích gì chơi đó, ai muốn đi đâu, kể cả đi du lịch xa thì tự nhiên “xuất hành”. Nhưng rất đặc biệt, sáng 1 Tết, đường phố Sài Gòn gần như rất ít người đi, kỳ lạ ở chỗ, đến các tụ điểm vui chơi xuân thì thấy đã đông ngợp người, không hiểu mọi người đi từ lúc nào.Có một thú vị là phần lớn du khách chơi xuân ở Sài Gòn là người của các tỉnh thành lân cận và khách du lịch ngoại quốc.
Là một thành phố năng động và không “lãng phí” để thời gian trống,các hàng quán ở Sài Gòn-TP.HCM trong mấy ngày Tết cũng không nghỉ, các nhà hàng, khách sạn, tiệm ăn khách đông nườm nượp.Tết nhưng không thích ăn uống tụ họp trong nhà mà kéo nhau ra quán thưởng thức các hương vị xuân bốn phương, thế mới thú. Với những người buôn bán, họ mà nghỉ Tết thì sau đó phải “xem” lại ngày khai trương năm mới sợ mất “hên” như năm trước, nên bán luôn không nghỉ để hưởng dài lộc từ năm cũ, phần nữa Tết, khách lại đông hơn thường ngày.
Ngoài ra ngày Tết ở thành phố Phương Nam này còn có một phong tục cổ của người Hoa, nhưng đã được Việt hoá, từng đoàn Lân , Sư nhỏ với vài người cầm phèng la,chũm choẹ đi tới những nhà mặt tiền trên phố, chúc phúc lộc gia chủ bằng mấy câu thơ, vè dân gian, xua đuổi những xui rủi năm cũ, mang điều may mắn tới… Gia chủ tuỳ tâm gửi tặng bao lìxì cho Lân, Sư . Không nhà nào Lân, Sư ghé thăm mà không vui, họ cho đó là điều tốt lành trong năm mới, nhất là các gia chủ làm nghề kinh doanh buôn bán.
Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM còn có kiểu du xuân rất khác, là một phong tục đẹp, không biết bắt nguồn từ đâu, nhưng như một kiểu “chơi” xuân mang đậm chất văn hoá tín ngưỡng và văn hoá truyền thống dân tộc. Ngày 1 Tết, gần như mọi người đều dành cho cuộc xuất hành đầu năm là viếng thăm các chùa trong thành phố, hoặc những ngôi chùa cổ nổi tiếng ở các vùng xung quanh như Bình Dương, Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh…Rồi sau đó là đi thăm mộ người thân ở các nghĩa trang, thắp nhang cho vong linh được ấm cúng.
5. Người Sài Gòn-TP.HCM còn một sự “háo hức” khi xuân về Tết đến, là đón đợi “Đường hoa Nguyễn Huệ”- năm nay có gì lạ? Kể từ năm 2004, trục đường Nguyễn Huệ, giữa trung tâm thành phố, mỗi khi Tết đến là trở thành một đường hoa với những đặc trưng của năm và như biểu tượng khát vọng, mơ ước của người dân thành phố qua chủ đề và những hình ảnh được sắp đặt. Xuân Kỷ Sửu này, chủ đề của đường hoa là “Vững tin”, tiếp nối chủ đề “Vượt sóng” của năm 2008, sau khi VN gia nhập WTO 1 năm. Người thành phố vững tin và đồng thuận về sự phát triển vững mạnh của thành phố và của cả nước, với khẩu hiệu đã bao năm nay được thực hiện” vì cả nước và cùng cả nước”.
Là một thành phố trẻ, hiện đại, tưởng như các dòng văn hoá phương Tây và các quốc gia khác du nhập sẽ làm cho người thành phố không còn để ý tới những gì thuộc về truyền thống. Nhưng thật thú vị , đường hoa Nguyễn Huệ năm nào cũng dành một khúc đường tạo dựng một cảnh đồng quê VN rất sống động,y như một thôn làng thật được “trích” mang đến đây. Tất cả đều là “thật” không phải đồ giả, đồ composit…
Có cả cây cầu khỉ vắt ngang con rạch,mọi người áo quần súng sính, trẻ em rồng rắn đi qua trong tiếng cười. Có ao sen, ruộng lúa đang ngậm đòng, một mảng lúa chín thơm, có cả đăng đó kéo cá bắt tôm, mấy giàn bầu bí, những trái quả miệt vườn, rồi xe trâu, và một góc nhà tranh có cối xay lúa, giã gạo, có thúng mủng giần sàng và một bồ to đầy ắp hạt lúa thơm….Không chỉ thu hút sự hiếu kỳ của lớp trẻ thành phố , của du khách phương xa, mà như một mảnh hồn ký ức của những người thành phố lớn tuổi, như được phút chốc trở lại nơi dòng sông quê, một khoảnh khắc đầy ý nghĩa khi xuân về.
Năm nay, hình ảnh “chủ” là chú Trâu- đầu cơ nghiệp, được tôn vinh và có mặt khắp đường phố với nhiều dáng vẻ từ tôn nghiêm như một vị thần đến ngộ nghĩnh như một nhân vật dân gian vui vẻ. Hình ảnh những chú Trâu-ông Trâu bình dị, hiền hoà, vui vẻ nhưng ngầm chứa một sức mạnh tiềm tàng, chen vào sự lộng lẫy, kiêu sa của hoa, của sắc màu lung linh ánh đèn và những dòng người đi chơi xuân, như một hình ảnh tương phản khá độc đáo của thành phố trong Tết.

6. Tết Sài Gòn- xuân TP.HCM không chỉ là niềm vui của người thành phố, mà kể từ mùa xuân 1975, khi xuân về, là cả nước có niềm vui chung một nước VN thống nhất, độc lập, tự do, hoà bình. Không mùa xuân nào trong hơn 33 năm mà không nhắc đến “Mùa xuân đầu tiên”, để khóc, để cười, để hạnh phúc đến trong từng ngôi nhà, để rồi “Vững tin” đi tới trong niềm tin vào sự vững mạnh của thành phố, sự trường tồn của đất nước./


Hoài Hương

Phiên khúc mùa đông

Phiên khúc mùa Đông



Hà Nội lập Đông

Trời Hà nội bâng khuâng những nét phác thảo mùa. Thu chần chừ, vấn vương chia tay trong hương cốm Vòng man mác đồng quê, hương hoa sữa nồng nàn, ngây ngất phố, và màu nắng mật ong say say Tình Yêu. Mùa Đông ngập ngừng với mấy cơn gió mùa đông bắc đầu tiên tràn về, lẫn vào từng cơn mưa, mưa lá bay đầy trời, kéo theo cái lành lạnh dịu dàng của khỏanh khắc giao mùa, vừa đủ cho những đôi tình nhân tìm hơi ấm tay trong tay bên nhau. Lập Đông Hà Nội có gam màu và hương vị đắm say là lạ. Màu vàng nắng của cây, lá, hương phố ở những hàng quà rong dọc vỉa hè mang cho nhiều người đến với Hà Nội, xa Hà Nội nỗi nhớ khó tả.

Đường Tràng Thi, Quan Thánh và nhiều con đường khác là những rặng bàng đang thay sắc lá. Thỉnh thỏang vài chiếc lá cây rơi xuống trông giống một mảnh nắng vàng lấp lửng khỏang không, nhưng hấp dẫn đến ngẩn ngơ là màu vàng rực của quả bàng chín, treo lủng lẳng trên cành, lâu lâu gió ào qua lại lộp độp rớt xuống gốc. Quả bàng tỏa mùi thơm nhẹ nhàng mà có lẽ chỉ có trẻ em Hà nội mới gọi đúng tên được. Tôi đã từng được nghe kể về kỷ niệm của người Hà Nội với những gốc bàng, mùa quả chín, một thứ quả đặc biệt của tuổi thơ Hà Nội, lấy bao nỗi nhớ ngày lớn lên vào đời. Và đúng là khó quên được cái vị bùi bùi, ngọt ngọt của nhân quả bàng mà những em bé đã mời tôi nếm thử. Mang cái hồn nhiên ngây thơ lây từ em bé và quả bàng, tôi ngạc nhiên với một lòai cây mang cái tên rất chân quê nơi con phố khá sầm uất ở Hà Nội: Cây Cơm nguội, ở dọc phố Lý Thường Kiệt. Cây cao, thẳng, lá nhỏ, tiết trời đầu đông nhuộm lá thành màu vàng mơ bay rơi ào ào như mưa nắng từng giọt đổ xuống phố trong chiều… Đẹp quá. Rồi bần thần, thầm thắc mắc, quả của nó có giống cơm nguội không? Và ai đặt tên cho lòai cây đẹp thế một cái tên bình dị, khiêm tốn đến vậy.Thắc mắc và lang thang tiếp.., đến đường Hòang Diệu. Màu nâu bóng của những quả xà cừ nổi bật trong vòm lá um tùm, như những con mắt đa tình, ấm nồng của người tình bí ẩn lặng ngắm những thiếu nữ môi hồng đi trên phố.. Lòai cây này hay hay, cây to,cao lực lưỡng, chắc chắn, lá lúc nào cũng xum xuê, xanh thẫm, rợp bóng, nhưng hoa thì mỏng manh với bốn cánh nâu nhạt như một cái chong chóng đơn côi.Mùa hoa rụng, hàng vạn cái chong chóng hoa xà cừ xoay tít rơi, đậu, vương vào bất cứ ai, bất cứ gì đến tội nghiệp..Nhưng tới quả thì lạ thay, cứng như một viên bi gỗ cứng cáp. Tôi nhặt một quả xà cừ. Màu nâu ấm áp. Tôi nhớ mầu mắt của anh khi chúng tôi đi bên nhau.

Cứ vẩn vơ, mơ màng với cây, với lá phố Hà Nội trong cái lạnh ngọt ngào còn vương chút thu.Tôi dừng chân phố Hai Bà Trưng. Mùi bếp núc ấm nóng ngầy ngậy theo gió xộc vào mũi.. Ôi! Quẩy nóng! Món quà phố giản dị, hình như chỉ có ở Hà Nội.. Chảo dầu đầy ắp sôi lăn tăn trên bếp lửa liu riu không to, không nhỏ. Cứ hai thỏi bột nặn trắng mịn quấn lấy nhau thành một…ngụp lặn trong chảo dầu. Chốc lát, ngả màu vàng rộm, tỏa mùi thơm quyến rũ vô cùng. Cô chủ hàng tròn như cục bột, trắng y bột nặn, má hồng rực, luôn tay nắn, xe bột thả vào chảo…Ngồi xuống một cái ghế con con, bên cái bàn bé bé, tò mò nhìn chủ hàng dọn một đĩa quẩy nóng hổi, giòn rụm, một đĩa nhỏ tương ớt, một bát nước mắm pha xinh xinh và mấy miếng dưa góp trên cái đĩa sứ mỏng.Tất cả là sự hòa trộn màu sắc thỏa mãn đôi mắt, và các vị chua, cay, mặn, ngọt, béo , thơm, kích thích tâm hồn ẩm thực của tôi không thể tả được. Quẩy nóng. Một khám phá thú vị về món quà vặt của người Hà Nội. Ấn tượng mùa Đông.

Chưa hết, tôi còn được thưởng thức một món ăn cũng rất mùa Đông phố Hà Nội. Đậu phụ nướng. Miếng đậu trơn mát mịn, mềm non, không giống các lọai đậu phụ khác tôi biết. Nghe bà chủ hàng nói, đây là lọai đậu phụ Mơ của làng Mai Động nổi tiếng ba nươi sáu phố từ xưa tới nay, và chỉ có đậu phụ Mơ thì mới ra được vị của món quà vặt này, mới đáng đồng tiền để bỏ công ngòai trời lạnh ăn quà phố.Đậu được phủ một ít muối có trộn gia vị như tiêu, gừng, tỏi, rồi để trên cái vỉ sắt đặt lên bếp than hoa không khói, đượm, nổ lách tách bắn những tia hoa lửa rất đẹp. Lật qua lại vài lần, miếng đậu ươm , bóng, thơm lừng… được dọn trong một đĩa sứ thô trắng ngà, nhìn món ăn rất cổ tích, nếu lịch sự thì dùng đũa. Nhưng tôi bắt chước mấy cô cậu học trò ngồi bàn bên cạnh bốc tay, vừa thổi, vừa ăn, vừa xúyt xoa… Ăn quên no. Không hiểu những ai đã đến Hà Nội, ăn thử món đậu phụ nướng này. Nhưng tôi tin, chỉ một lần thôi sẽ nhớ mãi hương vị của nó. Một món ăn tầm thường, giản đơn, bình dân nhưng khi dừng lại ở Hà Nội phố, nó đã mang nét ẩm thực tinh tế kín đáo và thi vị rất Tràng An.

Những ngày đầu Đông ở Hà Nội, tôi đã được nếm nhiều vị ngon, vị lạ của nghệ thuật ẩm thực người Hà Nội. Và để khi trở về phương Nam, muốn tặng tôi một cái hậu trước lúc tạm biệt cho hòan hảo bức tranh lập Đông Hà Hội, run rủi sao, tình cờ tôi được uống trà(chè) giữa phố cổ Hà Nội. Một cái quán chè chén-người Hà Nội gọi thế, giữa phố Hàng Gai, cạnh gốc cây đa mấy trăm tuổi với ông chủ quán hình như không có tuổi. Trà được pha trong cái ấm sành màu đen mun bé bằng nắm tay, chén uống cùng màu và bé tí như cái hạt mít. Chẳng biết ông pha thứ trà gì mà khi tôi nhấp chén nước, cái vị trà đắng tê lưỡi làm tôi muốn dội ngược, song kỳ lạ thay, chỉ thóang một chút bỡ ngỡ, tôi cảm nhận vĩ ngọt ấm lan tỏa ngấm dần vào lưỡi, vào cổ và hình như hương vị trà có chân, khắp người tôi như được vị trà kia sưởi ấm, cái ấm nhẹ nhàng thanh thóat.. Ông chủ phác một nụ cười hiền khi quan sát tôi uống chén trà. Và sau đó tôi được ông chủ kể cho nghe các lọai danh trà, các kiểu trà đạo của người Hà Nội xưa nay. Khi rời quán (chè chén) của ông, trong tôi cứ ẩn chứa câu hỏi, ao ông lại cho tôi thưởng thức hương vị đặc biệt của một lọai tra Tuyết San, danh bất hư truyền, chỉ mọc ở trên các đỉnh núi đá tai mèo quanh năm mây phủ vùng Tây Bắc. Lại kể cho tôi nghe một thú chơi thanh tao quí phái đậm chất nhân sinh Đông phương- nghệ thuật uống, trà đạo người Hà Nội. Có lẽ ông và tôi có mối giao cảm đặc biệt, vì tôi yêu Hà Nội bằng tình yêu tâm linh.

Hà nội lập Đông… Nỗi nhớ theo tôi về phương Nam.


Dạ khúc đầu đông

Chiều nhè nhẹ buông xuống màn sương như một tấm sa mỏng màu xám cuốn theo bước chân ai lãng đãng trên hè phố vắng. Gió lướt trên ngọn cây và không thương xót ngắt nốt vài chiếc lá còn sót lại của mùa thu. Ánh đèn vàng ngái ngủ ở một góc phố hẹp đầy rêu phong phủ mờ bức tường loang lổ. Và một chút se se lạnh chớm đông đủ làm ai đó tương tư bóng dáng yêu kiều của thiếu nữ trong tranh… Bất ngờ câu hát :”Ta còn em, cây bàng mồ côi mùa đông. Ta còn em, góc phố mồ côi mùa đông, mảnh trăng mồ côi mùa đông…”, vẳng ra từ một ngôi nhà, làm trái tim lỗi nhịp thóang xao động, chân như bị níu bước và nén một tiếng thở dài, nuốt vào ngực giọt bâng khuâng…

Rồi đêm trùm màu đen thẫm ẩn hiện những điều huyền ảo của óng tối. Sương rơi như nặng hơn, gió lướt như nhanh hơn. Và đêm như say hơn trong không gian yên lặng. Chợt từng tiếng, từng tiếng đàn từ căn gác nhỏ không tên rơi xuống lòng phố vắng, đọng lại trong ai một chút hòai cảm, một chút vấn vương, quyện vào đêm để cho một tâm hồn thơ đi hoang ngẫu hứng thành dạ khúc đầu đông nửa mơ- nửa thực, vừa động- vừa tĩnh, vừa say- vừa tỉnh trong gió trong sương đêm…

Đêm đông, một mình lang thang phố vắng, nghe sương rơi trên ngọn cỏ, rùng mình khi một ngọn gió lướt qua, bềnh bồng trong khúc nhạc buồn, thi sĩ mùa đông như trôi vào những vần thơ kỳ ảo để rồi đời có được nhiều áng thơ như những dạ khúc bất tận…


Đêm đông

Đã có một ca khúc nổi tiếng “Đêm đông’ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Và cũng đã có bao nhà thơ, nhà văn, họa sĩ viết , vẽ về “đêm đông”… Nhưng có một “đêm đông” thật lạ, như một hấp lực không kém thi vị trong tôi. Đơn giản thôi. Nhắm mắt lại, tưởng tượng, trên vỉa hè hẹp, một bếp than hồng rực nho nhỏ và những bắp ngô nướng thơm, ấm nóng… hương vị “đêm đông”. Có thể vấn vương nhớ, khắc khỏai chờ thưởng thức khi đông về.

Đêm đông, cái rét ngọt thấm qua từng lớp áo, mang hơi lạnh đén run người. Ấm áp đến say lòng. Bên cạnh một góc hè nhỏ, bốn, năm cô gái xinh xinh xúm quanh một bếp than hồng, cười rúc rích sau từng câu nói của người thiếu phụ đã luống tuổi, đang luôn tay xoay trổ những bắp ngô trắng nuột, đều tắp trên lửa than. Ánh than hồng hắt lên những gương mặt thiếu nữ trong đêm có một vẻ đẹp liêu trai lạ lùng. Mắt ai cũng long lanh, thăm thẳm, bí ẩn trên gương mặt hồn nhiên, trẻ thơ và nụ cười cứ lẩn quẩn theo vào cả giấc mơ đêm.

Giữa những khỏang sáng rực của đèn màu và quán xá ồn ã với các món ăn đặc sản trên rừng, dưới biển, giữa các hàng quà cao cấp đắt tiền đầy màu sắc nơi thị thành, những hàng ngô nướng như một thóang hương xưa đọng lại. Không phô trương ồn ào, có phần khép nép bình dị, những bếp than hồng cùng tiếng nổ lách tách reo vui, công thêm mùi ngô nướng thơm thơm, khen khét…, như món quà dân giã của đêm đông, tặng cho những kỷ niệm ngày thơ tuổi học trò, tặng cho những mối tình thơ mộng thời sinh viên, và tặng cho tất cả những ai luôn nhớ về một miền quê xanh lúa, xanh ngô cổ tích thời đã qua…

Trong bãng lãng sương đêm phủ những làn hơi ẩn ẩm, trong làn gió như roi quất buốt giá, trong mờ mờ ánh đèn vàng vọt, đốm than hồng và mùi thơm từ những bắp ngô non trên lửa hồng như lời mời gọi một niềm vui đơn sơ, nhỏ nhoi, tỏa ấm cả một khỏang phố đêm.

Cứ nghĩ vẩn vơ, một ngày nào đó, không còn những hàng ngô nướng trong đêm đông, chắc buồn lắm, như đánh mất một cái gì gắn bó thân thuộc… Và mỗi khi những cơn gió đầu đông mang hơi lạnh tràn về, lại háo hức chờ, hồi hộp đợi những bếp than hồng cùng vị ngọt, dẻo, thơm của hạt ngô nướng. Vị nhớ suốt cả những đêm đông…


Nốt nhạc mùa đông

Trong sắc xám như phủ sương, bầu trời thấp xuống, nặng nề. Gió lang thang giống kẻ thất tình lạnh lẽo, buồn thảm lướt qua những khỏang không trống trải. Hàng cây khẳng khiu, trơ trụi vẽ vào bầu trời những hình thù kỳ dị… Tất cả ủ rũ, thu mình run rẩy trong giá buốt của mùa đông. Riêng một góc, tách ra khỏi thế giới ảm đạm, co ro, héo úa, màu đỏ mời gọi, thách thức giá lạnh của những chiếc lá bàng xòe rộng, nhuộm cả một khỏang trời ấm áp.

Trên căn gác xinh xinh, có tán bàng đỏ xòe ô che, vẳng ra tiếng vĩ cầm réo rắt, khuấy động cả không gian buốt lạnh. Thấp thóang qua ô cửa kính mờ mờ, một mái tóc buông lơi nghiêng nghiêng, một dáng thiếu nữ mảnh mai, mê mải theo khúc nhạc, như giá rét ngòai trời kia không tồn tại. Tiếng đàn quấn quít trên vòm lá đỏ, đổ xuống mặt đường, xao xuyến một tâm hồn thơ đang thả bước trong gió đông. Như một khao khát mong manh, thi sĩ mùa đông muốn nắm giữ những nốt nhạc đang nhảy nhót đùa nghịch từ căn gác kia vọng ra, xếp lại thành một dòng thơ tặng cho đời.

Rồi một ngày mùa đông, trời không có nắng, cái lạnh phả vào không khí đến tê cóng. Trên căn gác, dưới màu đỏ lá bàng, có hai người bên nhau. Một mái tóc dài, đôi mắt long lanh, say mê tung vào khỏang không đầy gió lạnh những nốt nhạc reo vui. Bên cạnh, một người mắt ngời hạnh phúc lắng nghe những dòng âm thanh rộn rã, trên môii đọng một nụ cười…

Mùa đông hào phóng rắc từng sợi rét, trói tất cả trong vòng băng giá, khóac một màu xám buồn lên mọi vật…

Và cây bàng lá đỏ, cứ rực lên như lửa sưởi ấm tiếng vĩ cầm réo rắt, sưởi ấm cả dòng thơ được chép bằng nốt nhạc suốt cả mùa đông.


Mùa đông phương Nam

Thế là em được nếm chút phong vị mùa đông ở phương Nam, nơi chỉ có hai mùa mưa nắng. Anh sẽ cho là em tưởng tượng, chỉ vì nhớ anh và thèm có được cái se se ngọt ngào của phương Bắc mùa đông, chui vào căn phòng nhỏ, bật máy lạnh ào ào, rồi nghĩ… Đang mùa đông. Nhưng, anh ơi, lạ lắm, thật sự có mùa đông đi qua thành phố phương Nam em ở, thóang chốc thôi, đủ để cho em mơ màng… đang được ở phương bắc cùng anh.

Những ngày cuối năm, sáng sớm, thức dậy mở tung cửa sổ ra, thay vào ánh mặt trời là một màn sương mỏng giăng mờ, che khuất cả những tầng cao của khu cao ốc trung tâm thành phố,mà hàng ngày kiêu hãnh vươn mình trong nắng sớm. Khẽ rùng mình với cơn gió lành lạnh, như một cái lưỡi mỏng nhẹ chạm vào mặt… Ôi, nụ hôn mùa đông phương Bắc lạc vào. Một niềm vui thật trẻ thơ khó diễn tả… có thể diện cái áo khóac anh tặng em ngày nào, mà khi cầm trên tay, em cứ băn khoăn, bao giờ mới mặc, vì nơi em ở chỉ tòan nắng.

Đường phố những buổi sáng này thật tuyệt. Không như mọi ngày, khói bụi mịt mù, người xe hối hả lao trên phố như các “Ninja” mặt mày bịt kín, bí hiểm. trong khí trời se se gió, mọi thứ như nhẹ đi, người xe đi chậm lại, thỏang vài nụ cười duyên rất dễ thương, khói bụi chỉ xóay nhẹ dưới mặt đường… Đặc biệt hơn, đường phố đầy màu sắc. Không chỉ riêng em, hình như mọi người đều háo hức với mùa đông bất chợt ghé thăm đến bất ngờ ở thành phố phương Nam. Áo len đủ màu hồng, hòang yến, tím, đỏ…, áo “vét” khóac đủ kiểu ta, Tây, Hàn Quốc, Hồng Kông…được dịp phô diễn. Phố vui hơn với màu sắc. Dọc các vỉa hè, quán cà phê “cóc” san sát, như đông hơn, chật chội, cứ như mọi người ai cũng muốn nán lại thêm mấy phút thưởng thức cái ấm áp của hương vị cà phê trong gió lạnh mang hơi mùa đông phương Bắc.

Chưa hết, mùa đông phương Nam cò khá lạ nữa. Cây phố như bị một cây cọ nghịch ngợm vung vẩy hắt những đốm màu vàng lẫn vào màu xanh ngắt, thi thỏang theo làn gió, vài chiếc lá bay xuống, nửa vàng, nửa xanh, ngơ ngác hè phố. Và những cơn mưa rắc bụi nước mát lạnh, như có như không, chưa thành cơn mưa phùn, chỉ đủ ướt ít tóc mai, chẳng đủ ướt phố, đến thật mau, đi cũng thật mau. Mọi người ngỡ ngàng và mỉm cười. Mùa đông có lẽ là như thế.

Mùa đông phương Nam, khỏanh khắc của nỗi nhớ. Em vẩn vơ. Phải chăng chính anh đã gởi một góc mùa đông phương Bắc vào cho em, để anh- em Nam- Bắc luôn có chung tất cả, là tình yêu không cách biệt…/..

Một mình hay hạnh phúc bên ta là một người phụ nữ yêu ta

Một mình hay hạnh phúc khi bên ta là một người phụ nữ thương yêu?


Gió nhớ gì ngẩn ngơ ngoài hiên/ Mưa nhớ gì thì thầm ngoài hiên/ Bao đêm tôi đã một mình nhớ em/ Đêm nay tôi lại một mình/ Nhớ em vội vàng trong nắng trưa/ Áo phơi trời đổ cơn mưa/ Bâng khuâng khi con đang còn nhỏ/ Tan ca bố có đón đưa/ Nhớ em giọt mồ hôi tóc mai/Gío sương mòn cả hai vai/ Đôi chân chênh vênh con đường nhỏ/ Nghiêng nghiêng bóng em gầy/ Vắng em còn lại tôi với tôi/ Lá khô mùa này lại rơi/ Thương em mênh mông chân trời lạ/ Bơ vơ chốn xa xôi/ Vắng em đời còn ai với ai/ Ngất ngây men rượu say/ Đêm đêm liêu xiêu con đường nhỏ/ Cô đơn cùng với tôi về…

Ca khúc “Một mình” của nhạc sĩ Thanh Tùng, mộng mị, hoài niệm, đầy cảm xúc, tưởng như tất cả là lãng quên nhưng lại ào ạt tìm về trong một lúc đối diện mình với mình, như là câu chuyện về hạnh phúc đã rời xa trong khắc khoải và mãi không bao giờ còn có được. Một hạnh phúc giản dị của thời nghèo khó, nhưng thấm đẫm tình yêu và trở nên giàu có hơn tất cả. Nỗi cô đơn thấm đẫm đến tận cùng của người đàn ông nhớ vợ, nó làm cho không chỉ những người phụ nữ phải rưng rưng nước mắt mà còn làm cho trái tim tưởng là mạnh mẽ của những người đàn ông cũng phải nhói lên.
Câu chuyện kể của nhạc sĩ Thanh Tùng về ca khúc này, cũng là câu chuyện của nỗi vương vấn không bao giờ nguôi ngoai trong trái tim người nhạc sĩ. Ông nói “một mình” có lẽ là số phận dành cho ông. Ông từ 6 tuổi đã phải sống xa gia đình, giờ hơn 60 tuổi, nhưng tính tóan lại chưa đầy 1/3 con số đó được sống trong hạnh phúc một gia đình- gia đình có vợ, chồng, con cái. Ông chỉ có được 18 năm hạnh phúc khi bên ông có người vợ. Lúc đó là thời kỳ khó khăn nhất của đất nước nói chung, nhiều vất vả, gian khổ, thiếu thốn… nhưng có vợ, ông cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Khi đã có thể sống dễ thở, có chút thoải mái vật chất, thì vợ ông mãi mãi đi xa, mang theo hạnh phúc của ông, để ông chỉ có “một mình”, cô đơn đi tiếp con đường với trái tim không còn biết hạnh phúc là gì nữa. Sau này ông cũng có vài mối tình, nhưng ông nói không ai yêu ông như người vợ đã đi xa vĩnh viễn kia….Cái gì đã mất thì không bao giờ còn tìm lại được. Có lẽ trong người đàn ông này chỉ có thể có một người phụ nữ- là mẹ của các con ông mới mang đến ông hạnh phúc đích thực.
Đi ngược lại thời gian, những mối tình thời chiến. Giữa bom đạn khốc liệt của chiến trường, nhưng bên cạnh có một tình yêu của người con gái thì “Cuộc đời vẫn đẹp sao/ Tình yêu vẫn đẹp sao/Dù đạn bom man rợ thét gào /Dù thân thể triền miên mang đầy thương tích”… Và trong nội dung bao nhiêu bức thư thời chiến, bao nhiêu câu chuyện đầy cảm động của những chiến sĩ ngoài mặt trận, trong lao tù đế quốc, chỉ cần nghĩ, nhớ đến hình ảnh người phụ nữ là mẹ, vợ, người yêu… thì tất cả những gì gọi là gian khổ, hy sinh ác liệt, tàn khốc của chiến trận, tù ngục… họ đều vượt qua. Hình ảnh, bóng dáng người phụ nữ không chỉ là hạnh phúc khi nghĩ đến mà còn như một sức mạnh vô hình để tiếp sức, để khích lệ, động viên những người chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng được Tổ quốc trao cho sứ mạng: chiến đấu bảo vệ đất nước, dành độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc. Ngay cả khi họ trước lúc hy sinh, những lời cuối cùng nhắn gửi cũng là gửi về cho mẹ, vợ, người yêu, có lẽ lúc đó hình ảnh những người phụ nữ thân thương nhất của họ được họ mang theo, và đó cũng là hạnh phúc cuối cùng của họ có được hình ảnh người phụ nữ yêu thương nhất trước lúc nhắm mắt.

Bên cạnh sự thành công của người đàn ông là bóng dáng người phụ nữ.Ngày xưa, thời cổ đại, các anh hùng, chí sĩ, văn, võ, thường bao giờ cũng có bên mình một “hồng nhan tri kỷ”, không chỉ là người chăm sóc những gì thuộc về đời thường mà còn là người chia sẻ, đồng cảm về tinh thần, giúp cho người đàn ông thăng hoa trong sự nghiệp.Người đàn ông thành đạt mà không có một người phụ nữ kề bên, có lẽ sự thành đạt đó cũng chỉ có một nửa.Ngay cả ở thời công nghệ cao hôm nay thế kỷ 21, vị trí của người phụ nữ bên cạnh người đàn ông rất quan trọng, chẳng thế mà các cuộc bầu cử Tổng thống của các quốc gia lớn, người vợ của ứng cử viên luôn sát cánh trong các cuộc vận động tranh cử, gần như là một sứ giả giúp cho hình ảnh của chồng chiếm được cảm tình của cử tri, nếu người vợ được mọi người yêu quý, thì người chồng “ứng viên” khả năng chiến thắng càng cao.

Quay lại với ca khúc “Một mình” của nhạc sĩ Thanh Tùng, hình ảnh người phụ nữ trong đó không còn là của riêng nhạc sĩ, nó đã vượt thoát ra để chỉ chung cho hình ảnh của những người phụ nữ Việt Nam đảm đang, nhân hậu, chịu thương chịu khó vì chồng vì con, không đòi hỏi gì riêng cho mình. Đức tính hy sinh vì chồng con của người phụ nữ Việt Nam đã như một “tài sản”, di sản truyền thống từ ngàn xưa thời lập quốc.Trong ca dao dân ca, cổ tích, thần thoại…, những câu chuyện truyền khẩu từ ngàn xưa, trong nhiều tác phẩm văn học và trong đời thực, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam vì chồng, con mà quên đi bản thân mình như một biểu tượng bất tử. Và khi người đàn ông bên mình không có người vợ thì đó là chuỗi ngày của đắm chìm trong cô đơn, thậm chí như một nỗi đau đớn triền miên bởi hạnh phúc đã là quá khứ chỉ còn trong hoài niệm.
Nhạc sĩ Thanh Tùng hình như chưa bao giờ quên được hình ảnh người vợ tần tảo của mình. Ngay bây giờ, khi nhắc đến, trong ông vẫn vương vấn, ngậm ngùi, vẫn xót xa cho số phận của người vợ hay cho chính ông. Ông kể trong nỗi niềm của sự “một mình”: Những ngày gian khổ nhất có nhau,nhưng tới lúc hoà bình, tạo được chút kinh tế nho nhỏ trong gia đình thì tự nhiên một người không được hưởng gì hết. Thật trớ trêu. Vắng đi người vợ yêu thương, cuộc đời của ông như cũng chông chênh với những cơn say, không phải là sự bê tha, mà như ông nói, trong lúc say, ông thấy hạnh phúc có người vợ ở bên, dù là ảo ảnh nhưng nó giúp ông sau đó lấy được thăng bằng trên con đường đi tiếp còn dài của nghĩa vụ, trách nhiệm người cha mà ông đã hứa với vợ trước lúc bà đi về”chốn xa xôi,chân trời lạ”.
Từ chuyện của ông, lại nhớ đã từng nghe kể về một người phụ nữ đẹp. Chị đẹp nên có một tình yêu đẹp, nhưng rồi có lẽ “ Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, nên chị không được làm người phụ nữ hạnh phúc bên tình yêu của chị. Số phận cho chị làm dâu một người do gia đình sắp đặt hay do số phận mang đến. Nhưng rồi chị đã vượt lên tất cả ngang trái, vượt qua những nỗi đau, chị trở thành niềm hạnh phúc không thể thiếu của người đàn ông số phận…Hình như một trong những thiên chức của phụ nữ là mang hạnh phúc đến cho người đàn ông, cho dù mình gặp bất hạnh? Lại nhớ tới câu chuyện như cổ tích của thời hiện đại, chuyện có thật, không nhắc tên nhưng có thể nhiều người biết. Một cô gái xinh đẹp người Hà Nội, cảm thông, chia sẻ nỗi đau của chàng hoạ sĩ mắc bệnh HIV/AID, và rồi yêu thương chàng hơn cả bản thân mình, cô đã trở thành người đồng hành trong cuộc đời chàng và mang đến không chỉ là hạnh phúc một gia đình ấm áp mà là niềm tin vào cuộc sống để chàng hoạ sĩ có được nhiều thành công trong sự nghiệp. Có thể nói đó là một sự vĩ đại không thể đong đếm được của người phụ nữ.
Hầu như không có cuộc trò chuyện, phỏng vấn những nhân vật VIP nào mà không nhắc tới “nội tướng” của mình với sự trân trọng và những lời yêu thương, xen lẫn niềm tự hào.Hạnh phúc là bên mình có người đàn bà yêu thương,và chính tình yêu đó làm cho người đàn ông có thể “dời non, lấp bể”.Nếu không có những người phụ nữ đảm đang, hết mình vì người đàn ông thương yêu của mình thì hỏi liệu những người đàn ông có thể yên lòng mà hoàn thành nghiệp lớn.Nếu người phụ nữ không là một bến đỗ bình an, ấm áp, thì có người đàn ông nào có thể nhẹ nhàng gách vác chuyện non sông…

Lại nhớ một câu chuyện cảm động, khi cả hai người đã về già, con cháu đã phương trưởng, nhưng rồi bà vẫn luôn chăm sóc ông như chưa hề xao nhãng suốt hơn 50 năm qua.Còn ông chỉ có bà mới làm ông hài lòng, họ vẫn “tương kính như tân” như thời trẻ. Rồi có một ngày bà ốm,bà như người có lỗi vì không chăm sóc ông được, bà xin ông trời làm sao chóng qua khỏi, đừng bắt bà “đi “ trước ông. Hỏi vì sao, bà nói, nếu bà đi trước, ông ở lại một mình, ông sẽ buồn, không ai lo chăm ông chu đáo…Có lẽ cảm động tấm chân tình của bà , như ước nguyện, ông đã đi trước, sau khi lo ông yên thì bà cũng ra đi với lời trối trăng lại cho con cháu: Đi theo ông kẻo ông cô đơn nơi ấy, không ai chăm sóc, bầu bạn.

Đôi khi nghe “Một mình” của nhạc sĩ Thanh Tùng,giai điệu bàng bạc, như một lời thủ thỉ, một tâm sự của nỗi khắc khoải trong cô đơn tận cùng trái tim người đàn ông,lan man nghĩ đến hai chữ “hạnh phúc” và người phụ nữ Việt Nam cả thời chiến, thời bình… Người phụ nữ là hạnh phúc của người đàn ông mà không cần một sự bù đắp. Và khi không có người phụ nữ trong cuộc đời,thì đó là khoảng trống vô tận trong người đàn ông./.

Mùa Noel ở Sài Gòn

Mùa Noel ở Sài Gòn


Thành phố Sài Gòn -TP.HCM của tôi chỉ có 2 mùa mưa nắng theo khí hậu địa lý, nhưng trong một góc riêng của người thành phố có thêm một mùa được mọi người ngầm đặt tên: Mùa Noel- Mùa Giáng sinh, kéo dài từ đầu tháng 12 đến Tết Dương lịch đầu năm mới. Mùa mà trong mỗi người hình như ai cũng có một kỷ niệm, một sự mong đợi đón chờ và cả một chút háo hức tò mò, và trên hết nó “vui hơn Tết”.
Có lẽ duy nhất thành phố Phương Nam này đón Giáng sinh sớm hơn tất cả, bắt đầu từ giữa tháng 11, khi những cơn mưa mùa vẫn còn đang trút nước ngập các phố, thì không khí chuẩn bị cho một mùa Noel- Giáng sinh đã rục rịch. Và khi tuần đầu tiên của tháng 12 đến, thì gần như tất cả các cửa hàng,các siêu thị, các khách sạn lớn, nhà hàng… đã cùng lúc bày ra mặt tiền của mình những sắc màu rực rỡ, trang trí theo hình ảnh đặc trưng của đêm Giáng sinh:Hang đá, Cây thông, ông già Noel, những chiếc xe tuần lộc,những ngôi sao sáng lung linh, những quả chuông xinh xinh, gói quà thắt nơ kiểu cách, những vòng dây trang kim kim tuyến lấp lánh… và cả tuyết trắng, với hàng chữ :”Merry Christmas and Happy New Year”- Chúc mừng Giáng sinh và năm mới.
Các cửa hàng bán đồ trang trí, chủ lực là những mặt hàng dùng để treo lên cây thông Noel, trông bắt mắt như lạc vào một thế giới huyền ảo của màu sắc trong cổ tích… Nhưng có lẽ hấp dẫn nhất là ở đâu cũng treo biển “sale”,”discount”,”promotion” , gift -hạ giá, giảm giá, khuyến mãi- quà tặng…với đủ hình thức, đủ kiểu để thu hút khách hàng. Vâng! Đây cũng có thể là một trong những đặc trưng riêng của mùa Noel- Giáng sinh mà người thành phố phương Nam chúng tôi cảm thấy rất thú vị.
Hình như thiên nhiên cho thành phố của tôi một đặc ân hào phóng. Quanh năm gần như chỉ có mưa- nắng, khí trời không ẩm ướt thì nóng rát, thế nhưng vào tháng cuối năm, vào mùa Noel- Giáng sinh, thời tiết đẹp đến kỳ lạ, bầu trời lúc nào cũng trong veo, buổi sáng sương bảng lảng trong gió mát lạnh, buổi trưa nắng vàng nhạt hanh heo, chiều xuống hơi gió heo may mỏng nhẹ lướt qua, tối đến không gian như được ướp đá lạnh ngọt như kem. Mà thời tiết như thế, thật lý tưởng cho những cuộc dạo phố ngắm nhìn và hoà nhập vào không khí của mùa Noel- Giáng sinh, cho dù có một mình cũng thấy thật lãng mạn.
Sài Gòn- TP.HCM những ngày này như một khung cảnh Âu châu thu nhỏ, trên đường phố, đèn trang trí nhiều mầu giăng mắc từng dãy ngang, dọc, trên các lùm cây, nhìn như sao sa lung linh, nhửng bông tuyết trắng dù là giả, nhưng y như thật, vương trên các cành cây, trong ánh đèn màu càng làm không gian mang vẻ đẹp kỳ ảo của xứ sở truyện cổ tích “Bà Chúa Tuyết”, phố xá sáng trưng ánh đèn và đầy những hình ảnh tượng trưng cho đêm Noel- ngày Chúa giáng sinh. Khu trung tâm TP.HCM, đường Đồng Khởi, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, trước cửa Nhà thờ Đức Bà,người đi dạo phố, mua sắm, mặc rất đẹp, như một cuộc trưng bày khổng lồ, ngẫu hứng mode mới nhất thời trang Đông-Xuân của nhiều hãng thời trang danh tiếng thế giới và cả của Việt Nam. Chỉ ngắm người đi cũng cảm thấy vui mắt.
Đặc biệt ở Sài Gòn có 2 khu phố, là 2 xứ đạo nổi tiếng, xóm đạo Chấn Hưng,P.6.Q.Tân Bình (Cư xá Bắc Hải), và dọc đường Phạm Thế Hiển,Q.8, trong mùa Noel- Giáng sinh là một thế giới thần tiên thu nhỏ đầy huyền tích của những câu chuyện về Chúa giáng sinh, Chúa hài đồng, Đức Mẹ Maria, các Thánh và Đức Chúa Jesus…. qua những mô hình sắp đặt hang đá, mang tính nghệ thuật sắp đặt rất cao, như một tác phẩm nghệ thuật tổng hợp tinh xảo, khéo léo, kỳ công. Nơi này gần như là một địa điểm mà ai đến thành phố, hay ở thành phố đều muốn ghé qua vào mùa Noel- Giáng sinh, để chiêm ngưỡng, ngắm nhìn và có thể được “sống” trong khoảnh khắc của không gian hơn 2000 năm trước, vào giờ phút Chúa giáng sinh.
Sài Gòn- TP. HCM là thành phố trẻ, tốc độ phát triển về kinh tế, văn hoá,… gần như đứng đầu cả nước, cụôc sống của người dân cũng ngày càng được nâng cao, nhu cầu hưởng thụ và giải trí cũng đòi hỏi nhiều hơn, không chỉ là về quy mô mà còn cả ở chi tiết. Điều đó thấy rõ rệt ở những sản phẩm mang tính thương mại lẫn văn hoá nghệ thuật của mùa Noel- Giáng sinh này. Các mặt hàng được bày bán đều có chất lượng cao, không chỉ của các nhãn hiệu nổi tiếng thế giới mà còn có sự góp mặt của sản phẩm Việt Nam “chất lượng cao”, sánh ngang ngửa với hàng ngoại nhập.
Ngay cả cách trang trí ở các nơi công cộng cũng mang tính nghệ thuật, như một tác phẩm mỹ thuật sắp đặt kết hợp nhiều hình thái đương đại: Performance- Ông già Noel là người thật, Installation - sắp đặt các hình khối tượng trưng sự tích Chúa giáng sinh, Vidéo Art- chiếu phim màn hình Led rộng hình ảnh mùa đông tuyết phủ, những đàn tuần lộc kéo xe, những ông già Noel đi phát quà và những khung cảnh lộng lẫy của giáng sinh các nước, Music & Sound- âm nhạc và âm thanh, những bản nhạc cổ điển về Giáng sinh, những bài thánh ca vui tươi, những tiếng chuông nhà thờ reo rộn rã…Nhưng ấn tượng nhất chính là sự gần gũi, không hề xa lạ của những khung cảnh đó, làm ai cũng thích được đứng bên, hoà mình vào không gian đó để vui, để chụp ảnh. Ngay cả với du khách, họ cũng thật vui và hào hứng chen chân với mọi người để như thấy một góc quen thuộc nơi quê hương họ.
Thành phố của tôi không chỉ có vẻ bên ngoài hào nhoáng của mùa Noel- Giáng sinh, mà còn mang vẻ đẹp khác, như chính tính cách của người Phương Nam, hào phóng,cảm thông, chia sẻ, chân tình…Nhiều cơ quan, đoàn thể, doanh nghiệp… và cá nhân đã cùng nhau góp công, góp của để tổ chức cho những người nghèo, người có số phận không may mắn, những trẻ em khuyết tật, mồ côi, không nơi nương tựa, kể cả với trẻ em đường phố, có được đêm Noel- Giáng sinh cùng vui với mọi người.
Thời gian này, đã có rất nhiều nhóm đi phát quà khắp nơi trong thành phố, nhất là các trẻ em có số phận không may mắn ở các cô nhi viện, các trại trẻ SOS, các trường trẻ em khuyết tật và trẻ em đường phố.Hình ảnh trong Công viên 30.4, và một số sân lớn các nhà văn hoá hàng đoàn các em thiếu nhi đường phố đang quây quần bên bóng những chiếc áo xanh- thanh niên tình nguyện của Đoàn TNCS HCM vui chơi và được tặng quà, như một nét đẹp mà khách du lịch nước ngoài cũng cảm thấy thích thú, luôn dừng lại để chụp ảnh, như một kỷ niệm về nhân văn của thành phố, của người Việt.
Ở một góc khác của thành phố, nơi được gọi là “Khu phố Tây”, dọc theo đường Phạm Ngũ Lạo, Bùi Viện, Đề Thám, nơi tập trung đông nhất những khách du lịch- được gọi là “Tây balô”, hình ảnh của Noel- Giáng sinh- Năm mới tràn ngập từng m2 của phố, cho những vị khách đến đây cảm giác ấm áp, thân thuộc, dù không kịp về nhà bởi thú phiêu lưu, lãng du nơi xứ lạ. Nếu ai lần đâu đến thành phố, lạc vào đây, chắc chắn sẽ nhầm là một khu phố nào đó của nước ngoài, nếu như không thấy những người bán hàng, phục vụ… nói tiếng Việt.
Mùa Noel- Giáng sinh ở Sài Gòn-TP.HCM của tôi còn một cái thú, đi vào nhà thờ, thưởng thức những bản Thánh ca được các ca đoàn hát tập dành cho đêm Noel. Ở Sài Gòn, có nhiều ca đoàn của các nhà thờ hát rất hay, nhưng gần như ai cũng thích nghe các bài Thánh ca được dàn dựng, phối khí mang tính chuyên nghiệp cao và mang phong cách “âm nhạc bác học” của 2 nhà thờ: Nhà thờ Đức Bà và Nhà thờ Kỳ Đồng. Những âm thanh như có ma lực, đầy cuốn hút, cho dù vừa mới nhộn nhạo ngoài phố kia, bỗng như có cả một làn sóng âm nhẹ nhàng, êm dịu,du dương, ấm áp, trùm lên, ve vuốt làm lòng người bình an, tĩnh lặng…để âm nhạc bao phủ trong một cảm giác lâng lâng, chỉ thấy những gì sáng đẹp thanh cao.

Sau Lễ Tạ ơn của người Công giáo vào thứ năm, tuần cuối của tháng 11, không chỉ những người có đạo mà hình như mọi người đều nghĩ đến Noel- Giáng sinh, đều chuẩn bị cho “mùa” đặc biệt này. Với người Sài Gòn- TP.HCM, Noel- Giáng sinh- Tết Tây là của chung, không của riêng ai, đã thành một thông lệ từ nhiều năm, là “mùa” của những lễ hội, vui chơi, mua sắm cuối năm, như một ngày “Tết”.Thông điệp của đức Giáo Hoàng trong đêm Giáng sinh cũng là Thông điệp của mọi người, của nhân loại luôn hướng về Hoà bình- An lạc- Hạnh phúc.
Thành phố Phương Nam của tôi rất hiếu khách, mong được đón bạn bè khắp các tỉnh thành trong nước, khách bốn phương đến với thành phố trong “mùa “ Noel- Giáng sinh và đón năm mới ./.

Mùa nghiêng

Mùa nghiêng


Tháng tư mùa – Nắng óng ánh nghiêng ngả vờn cuối xuân sang hạ. Cây lá dọc phố xanh ngời ngợi như không còn có thể xanh hơn. Lác đác một vài chấm đỏ e ấp hoa phượng mời gọi say say đầu mùa hạ… Đi giữa lòng phố vắng, trong níu kéo nghiêng xuân, nghiêng hạ, trong hương xoan tím man mác, trong vị quả mùa giao thoa xuân hạ ngọt nắng thơm gió… Mơ mơ màng màng như nhấp một ly rượu suốt mùa nghiêng mãi không cạn… trong má em hồng, mắt em màu trời xanh.
Tháng tư mùa. Xuân – Hạ - Thu – Đông cùng nghiêng bên nhau một ngày. Buổi sáng của xuân. Buổi chiều của thu. Buổi trưa của hạ. Buổi tối của đông… Như bốn nàng Tố Nữ trong tranh xưa, chúm chím môi cười như nụ hoa, lúng liếng mắt đen nhìn vời vợi vào nhân gian, đến chết lòng các thi nhân. Nghiêng người ngắm tranh, ngắm mùa, nghe xa xa tiếng nhạc dìu dặt, thấp thoáng bên khóm trúc, cành mai, giữa sắc lan, dáng cúc, những cầm - kì - thi - họa loáng nét yêu kiều của lung linh sắc màu, thánh thót yến oanh… Và cứ nghiêng ánh nhìn chiêm ngưỡng trong giấc mơ vừa thực vừa ảo đến ngọt say.
Tháng tư mùa – Đêm mưa cuối xuân, trăng như ướp đá trong suốt, lạnh buốt. Cây cối, cảnh vật đậm đặc từng khối đen thẫm đầy bí ẩn… Mùi đêm như khói mỏng nghiêng, bay lả lướt từ chỗ này sang chỗ khác, như muốn khám phá,, như muốn mang một chút ấm áp sưởi cho đêm… Xuân nuối tiếc nghiêng chút đêm nghe như lời thầm thì giã từ mùa, cho hạ về khi bình minh lên nghiêng từng giọt nắng đổ xuống, cho trong hơn tiếng họa mi như xoáy vào tim người, cho sắc cầu vồng trên những lá cỏ lóng lánh châu ngọc giọt nước mắt đêm, cho vỡ òa những hạnh phúc của yêu, thương…
Tháng tư mùa. Em đi bên anh, hồn nghiêng say. Em say gió, say nắng, say hoa và say anh. Những con đường nghiêng hun hút hai hàng cây xa tít tắp, đỏ rực hoa gạo vẽ tranh trên nền trời. Những dãy núi trùng trùng lớp lớp thành vòng cung xám nghiêng trong ánh nắng chiều xiên xéo mũi tên bằng tia mặt trời vàng… Em, anh nghiêng soi in hình suối nước lăn tăn sóng trong tím sẫm hoàng hôn, lắng lòng mình giữa không gian êm đềm của miền quê yên ả với lũy tre làng đầu mùa cháy lá đỏ vàng, ẩn hiện những mái chùa cong cong rêu phong cổ kính nghiêng qua làn khói lam… Em nghiêng vào vai anh tìm sự chở che bình yên… Và em muốn nghiêng cả cuộc đời vào anh…
Những cái nghiêng suốt tháng tư cứ đọng lại, lớn dần…
Tháng tư – mùa nghiêng…

Hoài Hương

Thứ Sáu, 13 tháng 8, 2010

Mùa đông phương Nam

MÙA ĐÔNG PHƯƠNG NAM

Thế là em được nếm chút phong vị mùa đông ở phương Nam, nơi chỉ có hai mùa mưa nắng. Anh sẽ cho là em tưởng tượng, chỉ vì nhớ anh và thèm có được cái lạnh se se ngọt ngào của phương Bắc mùa đông, chui vào căn phòng nhỏ bật máy lạnh ào ào rồi nghĩ… Đang mùa đông. Nhưng, anh ơi, lạ lắm thật sự có mùa đông đi qua thành phố phương Nam em ở, thoáng chốc thôi, đủ cho em mơ màng… đang được ở phương Bắc cùng anh.

Những ngày cuối năm, sáng sớm, thức dậy mở tung cửa sổ ra, thay vào ánh mặt trời là một màn sương mỏng giăng mờ, che khuất cả những tầng cao của khu cao ốc trung tâm thành phố hàng ngày kiêu hãnh vươn trong nắng sớm. Khẽ rùng mình với cơn gió lành lạnh, như một cái lưỡi mỏng nhẹ chạm vào mặt… Ôi nụ hôn mùa đông phương Bắc lạc vào. Một niềm vui thật trẻ thơ, khó diễn tả… có thể diện cái áo khoác anh tặng em ngày nào, mà khi cầm trên tay, em cứ băn khoăn, bao giờ mới mặc, vì nơi em ở chỉ tòan nắng.

Đường phố những buổi sáng này thật tuyệt. Không như mọi ngày khói bụi mịt mù, người xe hối hả lao trên phố như các “Ninja” mặt mày bịt kín bí hiểm. Trong khí trời se se gió mọi thứ như nhẹ đi, người xe đi chậm lại, thoảng vài nụ cười duyên rất dễ thương, khói bụi chỉ xoáy nhẹ dưới mặt đường… Đặc biệt hơn đường phố đầy màu sắc. Không chỉ riêng em, hình như mọi người đều háo hức với mùa đông bất chợt ghé thăm đến bất ngờ ở thành phố phương Nam, áo len đủ màu hồng, hoàng yến, tím, áo “vét” khóac đủ kiểu tây, ta, Hàn Quốc, Hồng Kông. Được dịp phô diễn, phố vui hơn với màu sắc. Dọc các vỉa hè, quán cà phê “cóc” san sát, như đông hơn, chật chội, cứ như mọi người ai cũng muốn nán lại thêm mấy phút thưởng thức cái ấm áp của hương vị cà phê trong gió lạnh mang hơi mùa đông phương Bắc. Chưa hết, mùa đông phương Nam còn khá lạ nữa. Cây phố như bị một cây cọ nghịch ngợm vung vẩy hắt những đốm màu vàng lẫn vào màu xanh ngắt, thỉnh thoảng theo làn gió, vài chiếc lá bay xuống, nửa vàng nửa xanh, ngơ ngác hè phố. Và những cơn mưa rắc bụi nước mát lạnh, như có như không, chưa thành cơn mưa phùn, chỉ đủ ướt tóc mai, chẳng đủ ướt phố, đến thật mau, đi cũng thật mau. Mọi người ngỡ ngàng và mỉm cười. Mùa đông có lẽ là như thế.

Mùa đông phương Nam, khoảnh khắc của nỗi nhớ. Em vẩn vơ. Phải chăng chính anh đã gởi một góc mùa đông phương Bắc vào cho em, để anh và em Nam – Bắc luôn có chung tất cả, là tình yêu không cách biệt.

Sông nước miền Tây Nam Bộ

Sông nước miền Tây Nam Bộ

Nói đến miền Tây Nam Bộ, mảnh đất phương Nam là nói tới sông nước. Sông Mêkông khi đổ vào đất Việt chia thành 2 dòng sông lớn: Tiền Giang, Hậu Giang và cả hệ thống sông lớn sông bé khác làm nên một vùng châu thổ trù phú với nhiều nét văn hóa sông nước đầy hấp dẫn , quyến rũ, đầy những điều kỳ lạ.Năm 2008, vùng châu thổ Sông Mêkông được chọn là năm du lịch quốc gia với tâm điểm là Lễ hội đầu xuân tại Tây Đô- TP.Cần Thơ.

Theo thống kê chưa đầy đủ, miền Tây Nam Bộ có khỏang 54.000km chiều dài sông rạch. Ngòai hệ thống sông rạch tự nhiên mà người địa phương gọi là sông rạch “Trời sanh”, còn vô số những con kênh đào ngang, xẻ dọc chằng chịt, mà nếu được nhìn trên đồ hình có cảm tưởng là cái mạng nhện chồng lên một bàn cờ. Sông Cái- Tiền Giang, Hậu Giang tức sông Mẹ sinh ra hàng trăm sông con, mỗi nhánh sông con lại sinh ra cơ man con rạch nhỏ, mỗi con rạch nhỏ lại rẽ ra các con xẻo, khóm, mương, ngòi…Nước và nước… mênh mang…
Nói đến sông nước thì không thể thiếu những con thuyền, mà ở miền này được gọi ghe, xuồng. Ghe, xuồng ở miền Tây Nam Bộ là bộ sưu tập phong phú, đa dạng cả kiểu dáng lẫn chức năng, mỗi lọai đặc trưng cho một vùng sông nước. Từ Long An tới An Giang thường thấy ghe , xuồng lườn tròn để dễ lướt trên những đám lục bình dày đặc ở các khúc sông vùng này. Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau người dân chuộng ghe, xuồng lườn phẳng gọi là xuồng 3 lá (do có 3 tấm ván đóng ghép lại), vì sông nước vùng này rộng, thóang. Chiếc xuồng 3 lá còn có nhiều biến tấu: Lọai nhỏ nhất gọi là be bảy, lớn hơn nữa gọi be tám, be chín, be mười. Nếu đóng thêm một tấm ván nữa cho lớn hơn gọi be mười kèm. Các lọai ghe nhỏ có ghe tam bản, ghe bầu, ghe cui, ghe cà vom, ghe rỗi (dùng chở cá, chia nhiều khoang, có đục lỗ tròn để rộng cá sống trong nước sông tự nhiên), ghe cửa dùng để nhảy sóng ở cửa sông… Cách sơn màu ghe cũng khác nhau, mũi ghe rất nhiều kiểu như một sự trang trí cho đẹp. Đặc biệt “mắt” ghe là lý lịch của nơi xuất xứ, thuộc lò đóng ghe nào, của ai..

Là miền sông nước, nên những nghề sông nước ở miền Tây cũng mang lại kỳ thú cho những ai muốn khám phá nét độc đáo của vùng này. Chỉ riêng việc đánh bắt cá mà có đủ lọai: cất vó, đặt lọp, xây nò, đóng đáy cọc, đáy bè,thả chà đăng cá, đáy rập cua, trễ cá, chài lưới… Còn câu thì cũng đủ kiểu : câu cắm, câu giăng, câu thả, câu thượt, câu nhấp, câu rê…Hãy thử một lần về miền Tây câu cá hay đi đặt lọp, cái cảm giác sung sướng phấn khích tràn ngập trong người khi nhìn thấy cá tôm nhảy loi choi, giữa sông nước mênh mang trên một chiếc xuồng nhỏ, nó khác hòan tòan cái thú đi câu ở thành thị ở trong mấy cái ao, hồ nhân tạo của các khu du lịch giải trí.
Về miền Tây sông nước Nam Bộ, điều hấp dẫn nhất với tất cả khách từ phương khác đến là những cái Chợ Nổi, không một ai đến vùng này lại không tìm cơ hội để đi ít nhất một cái chợ. Không đi Chợ Nổi là chưa xuống miền Tây. Chợ Nổi là nét văn hóa rất đặc trưng của miền sông nước , nó như một bảo tàng văn hóa sống động của người dân miền này. Những cái chợ có tuổi đời gắn với thời khẩn hoang khai phá của vùng đất sông nước kỳ bí phương Nam. Ở miền Tây, những khu Chợ Nổi nổi tiếng luôn được mọi người nhắc tới và là những địa chỉ du lịch văn hóa nằm trên bản đồ du lịch của các hãng lữ hành Việt Nam, quốc tế: Chợ Nổi Cái Bè- Tiền Giang (nằm ở đọan sông Tiền giáp ranh giữa 2 tỉnh Tiền Giang- Vĩnh Long),Chợ Nổi Trà Ôn- Vĩnh Long, Chợ Phụng Hiệp, Ngã Bảy, Phong Điền, Cái Răng- Cần Thơ, Hậu Giang; Chợ Năm Căn- Cà Mau…
Chợ Nổi thường được họp ở vùng giáp ranh giữa các con sông, một khúc sông nước rộng mênh mông đủ cho hàng trăm, hàng ngàn ghe, xuồng lớn nhỏ quần tụ. Chợ ở trên bờ có gì, thì dưới sông có y như thế không thiếu bất cứ thứ nào, nhưng cách tiếp thị quảng cáo thì độc nhất vô nhị. Chiếc ghe, xuồng nào bán đồ gì, họ treo thứ đó trên một cây sào dài 5- 7m, đi từ xa 200- 300m đã thấy.Chính cái kiểu “treo” hàng độc đáo này làm cho ai tới chợ cũng thấy lý thú, như một tác phẩm nghệ thuật thị giác sắp đặt rất đương đại và đầy ngẫu hứng.Cả một rừng “ang ten” đầy màu sắc, từ bó rau muống, miếng thịt heo, trái bầu, bí, củ khoai… đến cả tô hủ tíu, ly café’… lủng lẳng trên cao. Đặc sản của mỗi chợ cũng mang nét riêng. Chợ Cái Bè, Trà Ôn là trái cây của các nhà vườn nổi tiếng của miền Tây. Chợ Năm Căn thì tòan thủy hải sản cá, tôm, cua, mực của cả vùng sông biển cực Nam Nam Bộ. Chợ Cái Răng nổi tiếng với các lọai rau củ đất phương Nam. Chợ Phụng Hiệp là nơi cho dân nhậu bốn phương mê say với rùa, rắn, chuột đồng…
Có một nét văn hóa vùng này làm bất kỳ ai khi rời khỏi đều mang theo một cảm giác bâng khâng khó tả. Đó là những điệu hò sông nước và những khúc nhạc tài tử vọng cổ để nhớ. Hò chèo ghe, hò mái đỏan, hò mái trường, mái nhất, mái nhì…cùng điệu buồn phương Nam qua bàn tay những nghệ sĩ dân gian khảy trên các phím đàn.Âm điệu da diết thấm đẫm hồn sông nước nghe man mác, mênh mang diệu vợi, một chút cảm hòai xa vắng, khó quên. Ở miền này cũng lạ, vào bất cứ một quán ăn bình dân nào đều thấy treo một cây ghi-ta phím lõm- một sự biến thể Việt Nam hóa cây đàn ghi-ta nguyên thủy của châu Âu, chuyên dùng để đàn các bản nhạc tài tử, vọng cổ, cải lương.Quán nào “sang” hơn thì có thêm cây đờn cò- đàn nhị, cây độc huyền cầm- đàn bầu. Khách muốn nghe, dù chỉ là một người, chủ quán và có khi cả nhân viên phục vụ sẵn sàng đàn hát, hình như ở đây ai cũng thấm trong người những giai điệu sông nước “dạ cổ hòai lang” không chỉ cho khách mà cho cả mình.
Nhưng rất thiếu sót, nếu không nhắc tới một nét văn hóa rất đặc trưng của miền sông nước Tây Nam Bộ- Văn hóa ẩm thực đậm nét thời khẩn hoang 4- 5 thế kỷ trước. Các món nướng. cái gì cũng có thể nướng được , không chỉ tôm, cua, cá, heo, gà, vịt, chim, rùa, rắn… mà các lọai rau củ quả cũng nướng như khoai, cà tím,lá lốt…là những món ăn tuyệt ngon, đầy hương vị lạ. Nướng cũng có nhiều cách: nướng trực tiếp trên lửa, nướng trui, nướng trên khói, bọc đất nướng, bọc lá vùi vào lửa… Nướng bằng lửa than đước, rơm lúa nếp, chân rạ, hay lá cây khô… Và những lọai rau ăn kèm là cả một khám phá về “thực vật” sông nước Nam Bộ, những tên lá tên hoa vừa lạ vừa quen: đọt lục bình, đọt bông súng, đọt lá xòai, bông điên điển, bông so đũa, rau kèo nèo, lá vị…hàng chục thứ bông, lá, rau mà chỉ có người dân địa phương mới biết tên. Các lọai rau lá này ăn kèm với các món thịt nướng kia , không những làm món ăn ngon hơn, tăng thêm hương vị hấp dẫn mà còn có tác dụng như những vị thuốc dân gian, bổ tì vị, mát gan mật, thông khí huyết…Để “đưa” các món ăn cho “ngọt”, thấm cái mênh mang sông nước,thêm thi vị, không thể quên một lọai “mỹ tửu” của vùng đất Bến Tre, rượu Phú Lễ, Ba Tri. Lọai rượu này uống ly đầu vị đậm đà, mềm môi cạn tiếp cảm thấy cái phóng khóang , lâng lâng uống vài ly nữa thấy như bay bổng trong một giấc thần tiên, cởi mở tâm tình với tri âm, chẳng thế mà giới sành điệu phân lọai rượu đã ví rượu Phú Lễ là “lãng tử” dùng đãi bạn tri âm tri kỷ.
Một lần đến , rồi tạm biệt với niềm luyến tíếc. Ước mong miền đất sông nước Tây Nam Bộ này lưu giữ mãi cái nét hoang sơ đặc trưng của một vùng văn hóa đậm dấu ấn của lịch sử khai phá mở đất mở cõi, mang đầy tính cách phóng khóang nhưng dũng cảm kiên cường của người dân phương Nam. Đừng vì bất cứ lý do gì mà “thành thị hóa”, “đô thị hóa” miền đất này, để mất đi báu vật di sản văn hóa miền sông nước Tây Nam Bộ./.


Hòai Hương

Thăng Long-Hà Nội nghìn năm tuổi

Thăng Long-Hà Nội nghìn năm tuổi


1.Đêm chuyển giao năm cũ 2009 sang năm mới 2010 hình như có gì đó thật khác lạ với Thăng Long-Hà Nội, ít nhất là trong mắt một người phương Nam.Không phải là mặt nước Hồ Gươm mờ ảo lãng đãng sương giăng, nhành liễu rủ rèm lá trong lung linh ánh đèn. Không phải là sắc màu rực rỡ của Lễ hội phố hoa nơi trung tâm thành phố, với tấp nập nam thanh nữ tú, tao nhân mặc khách và cả những gương mặt in dấu nhiều cung bậc cảm xúc của thời gian, của cuộc sống… Và cũng không phải cái giá lạnh ẩm ướt của mùa đông trong cơn mưa phùn lất phất, làm cảnh vật cứ liêu xiêu, hư thực trong đêm.
Tôi chỉ cảm nhận thôi, chứ khó diễn tả cái khác lạ đó cụ thể như thế nào. Hình như đâu đó trong thinh không có tiếng chuông chùa vọng từ Hoa Lư,cố đô của nước Việt nghìn năm trước. Thỏang nghe mơ hồ như có tiếng chèo khua từ những chiếc thuyền rồng cổ xưa nghìn tuổi với thấp thóang bóng vị vua tay cầm “Chiếu dời đô” đang rẽ sóng Sông Hồng…Lại như nghe tiếng reo vang chiến thắng quân xâm lược của những đòan quân dũng sĩ mang tinh thần Đông A đi xuyên qua thời gian không gian từ 7-8 thế kỷ trước đến hôm nay…
Không biết có phải do đang đứng ở ngay mảnh đất linh thiêng của nước Việt, nơi truyền thuyết và huyền thọai lẫn hiện thực hòa quyện vào nhau, để cho bất kỳ ai mang dòng máu Hùng Vương cũng đều tự hào mỗi khi thốt lên những tiếng thiêng liêng “Thăng Long-Hà Nội”.

2.Những người bạn bên kia đại dương, với một tình yêu con người Việt, văn hóa Việt và văn chương Việt, đã không quản xa xôi, không quản sự khác biệt ngôn ngữ, thậm chí không e ngại hay mặc cảm vì đã từng có một quá khứ là “đối phương” trong cuộc chiến tranh xâm lược nước Việt… Họ đã đi và đã đến Thăng Long-Hà Nội với nhiều cảm xúc trong một cuộc gặp gỡ để thắt chặt sự giao lưu và đối thọai với các nền văn hóa giữa các quốc gia với Việt Nam bằng ngôn ngữ của một trong 6 nữ thần nghệ thuật trên đỉnh Olympia- Nữ thần thi ca.
Tôi khá ngạc nhiên khi những người bạn, tóc vàng,tóc bạch kim, mắt xanh, mắt tím, da trắng, da nâu… đứng lặng im và có vẻ gì rất kính cẩn bên những ông rùa đội bia trong Văn Miếu. Hỏi người bạn tóc bạch kim là Giám đốc của Trung tâm William Joiner- Mỹ, ông ta nói rất khẽ:” Chúng tôi đang nghiêng mình chào những bậc Thánh nhân văn hóa Việt Nam”.. Nhìn vào mắt ông, thật lạ, dù tuổi cao nhưng mắt ông rất trong, in hình cả hàng rùa đội bia. Hình như ông muốn thu hết không phải bằng mắt mà bằng cả trái tim, trí óc những hình ảnh tượng trưng cho tinh túy văn hóa văn minh của dân tộc Việt với sự thán phục và kính nể trân trọng.
Những ngày Thăng Long-Hà Nội trong khuôn khổ của cuộc gặp gỡ văn chương, những người bạn bên kia đại dương đều như cảm nhận không khí Thăng Long-Hà Nội nghìn năm tuổi qua những câu thơ cổ mang linh hồn dân tộc Việt bất tử với lịch sử hơn 4000 năm, qua những vần thơ mà bên trong như “có lửa” của những năm tháng kháng chiến chống xâm lược đầy kiên cường và chiến thằng vinh quang, qua những bài thơ mang hơi thở cuộc sống đương đại với khát vọng hòa bình, tự do, vững mạnh, trường tồn.
Họ lắng nghe một cách chăm chú những giai điệu liêu trai của ca trù. Họ thích thú khi nhận một miếng trầu têm cánh phượng của các liền chị quan họ. Họ nhún nhảy theo tiếng cồng chiêng của rừng núi Tây Nguyên…Và khi lọt vào không gian của Bảo tàng dân tộc, nhìn thấy hình ảnh tượng trưng cộng đồng 54 dân tộc anh em của Việt Nam, họ hiểu rằng không thể có một thế lực lớn mạnh nào có thể khuất phục được một đất nước có tinh thần đòan kết của 2 chữ “đồng bào”.

3.Vẫn là những người bạn bên kia đại dương trong những ngày bên nhau ở cuộc gặp gỡ văn chương, trong một buổi trò chuyện thân mật ngòai chương trình. Và thật thú vị khi cái tiệm café đó lại chơi “nhạc đỏ”, mà ca khúc đầu tiên khi chúng tôi vào ngồi lại là “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi. “Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây. Đây lắng hồn núi sông ngàn năm. Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội…”
Tôi đã dịch nghĩa của ca từ cho những người bạn nghe. Kể câu chuyện về xuất xứ ca khúc, gắn với trang sử bi tráng của Thăng Long-Hà Nội hơn nửa thế kỷ trước, về tác giả, một “người Hà Nội” cầm, kỳ, thi, họa xuất sắc. Cũng không bất ngờ khi những người bạn này biết khá rõ về tác giả, bởi ông cũng là một thi nhân, một văn nhân tài hoa, tên ông đã vượt đại dương, như một cầu nối văn hóa của Việt Nam với bạn bè quốc tế từ nhiều năm trước.
Và thế là câu chuyện Thăng Long-Hà Nội nghìn năm tuổi trở thành chủ đề của cuộc trò chuyện mà ngôn ngữ không hề có sự ngăn cách vì có chiếc cầu nối của văn chương giữa những người yêu văn chương dù khác màu da và quốc tịch.
Khu khách sạn chúng tôi ở trong dịp này nằm sâu trong Hồ Tây, miệt Quảng Bá. Yên tĩnh đến kỳ lạ, gần như thuộc về một thế giới khác không hề có tiếng động cơ xe, chỉ có tiếng chim hót, cho dù đang mùa đông.
Kỳ lạ hơn là sáng sớm, nhìn từ cửa sổ ẩm mờ hơi nước, như sát bên là đầm sen gần tàn,lơ thơ vài mảnh lá úa vàng trên mặt nước, nhưng vẫn có vài bông sen thắm vươn lên bất chấp gió buốt. Xa xa vài chiếc thuyền nhỏ xíu cắm sào như đang trông đợi ai mà cũng như không đợi ai, như một nét vẽ vào khỏang không mù mịt sương. Những người bạn bên kia đại dương của tôi hầu như mê mẩn khung cảnh nơi này. Họ đã đi nhiều nơi, và cũng đã từng nghỉ trong vài khách sạn hạng 4-5 sao trong khu trung tâm Hà Nội, nhưng ở đây, họ nói, cảm giác như thiên nhiên đang hòa vào từng hơi thở, cho sự trong lành thanh khiết… Một người ví von: Ở nơi này, con người ta không thể không lương thiện.
Gió đưa cành trúc la đà/Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương/ Mịt mù khói tỏa ngàn sương/Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Tôi không đủ khả năng dịch thành thơ câu ca dao về Hồ Tây nổi tiếng mà gần như người Việt nào cũng biết, nhưng khi tôi dịch nghĩa và kể những câu chuyện về các làng nghề cổ của miền đất huyền thọai này, gần như tất cả họ đều “ồ” lên một cách thích thú, vì không ngờ cái miền hồ xinh đẹp phía Tây Thăng Long-Hà Nội lại có nhiều sự tích đẹp lãng mạn,là một trong những địa danh gây cảm hứng cho thi nhân kim cổ và để lại bao áng văn chương trác tuyệt.

4. Bạn nói, Thủ đô của Việt Nam nghìn năm, nhưng đặc biệt hơn các Thủ đô nghìn năm tuổi ở các quốc gia khác. Đó là nét cổ xưa nhuốm màu huyền thọai luôn hiện diện trong cuộc sống đương đại thời công nghệ số. Không chỉ tên những con đường mà qua đó thấy được cả lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam, mà cả tên của đầm, hồ, ao… cũng cứ lãng đãng như từ nghìn năm trước không thay đổi. Rồi những con phố cổ cho dù bên ngòai là sự bóng lộn của văn minh thế kỷ 21, nhưng hình như lẩn khuất sâu thẳm trong từng góc nhỏ phố, từng gốc cây cổ thụ sù xì, từng mái ngói vảy cá rêu phủ… là những thầm thì bất tận của những người xưa về mảnh đất nghìn năm tuổi.
Họ cũng có cảm nhận về 2 chiều “động- tĩnh” của Thăng Long-Hà Nội như người bạn nghệ sĩ tạo hình của tôi. Họ nói người Hà Nội rất hay, khi chạy xe ngòai phố thì cứ vun vút chóng cả mặt, nhưng khi làm việc gì hay nói chuyện thì lại rất điềm tĩnh, chậm rãi, thong thả. Ở Hà Nội, ra công viên buổi tối thấy các bạn trẻ nhảy hip-hop cuồng nhiệt,tưởng như đất trời đảo lộn, nhưng cũng nơi đó sáng sớm thì tòan người già như muốn níu thời gian dừng lại bằng những động tác phiêu diêu của bài Thái cực quyền gần như bất động trong từng nhịp thở.
Hà Nội còn lạ nữa, khi giữa trung tâm Thủ đô, đanh thức bình minh không chỉ có tiếng còi xe ồn ã mà còn có tiếng chuông chùa thong thả gõ nhịp. Và hình như không đâu nhiều chùa như Thăng Long-Hà Nội, nhất là từ khi Thủ đô được mở rộng. Bạn nói nghiêm túc, nếu thống kê, có thể là kỷ lục Guiness về Thủ đô có nhiều chùa nhất thế giới? Mà có lẽ thế thật, sao hình như chưa ai phát hiện điều này?

5.Tiễn bạn về nước, tôi cũng về phương Nam nắng gió khi đồng hồ đếm ngược thời khắc nghìn năm chỉ con số 272 ngày. Những câu chuyện lan man bên các bạn văn nước ngòai về Thăng Long-Hà Nội cho tôi cảm giác quyến luyến hơn khi bước lên máy bay tạm biệt Thủ đô.
Lại nhớ buối tối bế mạc cuộc gặp gỡ văn chương, một bạn nước ngòai, hình như là người châu Âu, phát âm tiếng Việt chưa chuẩn lắm, nhưng đọc khá trôi chảy câu thơ “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long…” của thi tướng Hùynh Văn Nghệ.. Bỗng như muốn trào nước mắt vì xúc động. Với bạn, Việt Nam là Thăng Long-Hà Nội.. Ai cũng là người Hà Nội, cũng mang trong mình niềm tự hào của lịch sử nghìn năm Thăng Long-Hà Nội, và hơn 4000 năm của dân tộc Việt Nam./.

Hòai Hương

Hà Nội, xuân và tình yêu của tôi

Hà Nội xuân và tình yêu của tôi


1.Tôi được sinh ra trong một ngày cuối đông Hà Nội. Được uống nước Sông Hồng, nên dù lớn lên ở phương Nam, tôi vẫn giữ nguyên cái “giọng Hà Nội” duy nhất trong gia đình. Mỗi khi nhắc tới hai chữ “Hà Nội” là trái tim tôi lại rung lên những nhịp đập khác thường.
Hà Nội, đêm chuyển giao năm 2009- 2010, có gì thật lạ trong mắt tôi, người phương Nam.Không phải là mặt nước Hồ Gươm mờ ảo lãng đãng sương giăng, liễu rủ rèm lá trong lấp lánh ánh đèn. Không phải là sắc màu rực rỡ của Lễ hội phố hoa nơi trung tâm thành phố, tấp nập nam thanh nữ tú …Cũng không phải cái giá lạnh ẩm ướt cuối đông trong cơn mưa phùn lất phất, làm cảnh vật liêu xiêu, hư thực trong đêm.
Hình như trong thinh không có tiếng chuông chùa vọng từ Hoa Lư,cố đô của nước Việt nghìn năm trước. Mơ hồ như có tiếng chèo khua từ chiếc thuyền rồng cổ nghìn tuổi, thấp thóang bóng vị vua tay cầm “Chiếu dời đô”, đang rẽ sóng Sông Hồng…Lại như nghe tiếng reo vang chiến thắng quân xâm lược của những đòan quân dũng sĩ mang tinh thần Đông A đi xuyên qua thời gian không gian từ 7-8 thế kỷ trước đến hôm nay…

2.Những ngày giáp Tết Canh Dần, Hà Nội thật ấm, đêm về mới cảm nhận cái lạnh ngọt như kem. Nửa khuya,thả bộ quanh Hồ Gươm như nghe được tiếng thở của thành phố, tiếng khẽ cựa mình của chồi non đang lách qua mắt cây để vươn lộc biếc, và như có tiếng rì rầm âm vọng đang kể những câu chuyện huyền thọai Hà Nội ngàn năm tuổi.
Hà Nội ấm, hay nắng phương Nam nương cành mai theo con đường hành quân thần tốc của Vua Quang Trung giải phóng Thành Thăng Long khỏi họa xâm lăng năm xưa, đậu lại, để màu vàng của những cánh mai tạo nên sắc lạ trong xuân Hà Nội.
Xuân Hà Nội không chỉ là những giọt mưa phùn phiêu lãng siêu thực, mà còn ngây ngất bởi hương hoa. Mùa đông đã nén hương hoa để dành đến mùa xuân mới tỏa mùi ,nên hoa Hà Nội không chỉ nhiều sắc màu mà đặc biệt thơm. Đi trong làng hoa Ngọc Hà, cả người như được ướp thơm, thanh khiết kỳ lạ, cảm giác như được thanh lọc tinh thần.
Hà Nội có những con phố như luôn mặc định đêm-ngày. Ngày huyên náo ồn ào, hào nhóang,đặc trưng một phố thị sầm uất. Đêm, như rùng mình trở về ngàn năm trước, những gốc cây cổ thụ xù xì từng chùm rễ rủ xuống mặt đất đầy bí ẩn thời gian, những ngôi nhà vảy cá rêu phong tưởng chừng im lìm nhưng lại chứa đựng bao câu chuyện buồn vui của những chủ nhân trong đó….

3.Hà Nội còn có tình yêu của tôi. Ngẫu nhiên hay sự sắp đặt giao hòa Đông-Tây của Thần Tiên, ngày đầu năm mới Canh Dần trùng với ngày Lễ Tình Yêu- Valentine Day. Không được đón giao thừa cùng anh trên cầu Thê Húc, ngắm pháo hoa lung linh in mặt nước Hồ Gươm vào thời khắc Đất- Trời chuyển giao, nhưng sắc đào thắm anh chọn gửi tặng tôi từ làng hoa Nhật Tân vào phương Nam như một sứ giả tình yêu ý nghĩa nhất.
Tôi yêu Hà Nội bằng tình yêu của tiềm thức như cổ tích, huyền thọai. Nhưng tôi có anh, một người Hà Nội, tình yêu Hà Nội có sức sống của hiện thực. Hà Nội trong tôi là hai chiều của xưa-nay, động-tĩnh. Tôi thích thú cùng anh lên sân thượng một tòa nhà cao tầng ở trung tâm uống café,ngắm những dòng người ngược xuôi dưới phố. Tôi thong dong cùng anh thả mình vào sự tĩnh lặng thâm nghiêm của những ngôi chùa cổ. Tôi hào hứng nắm tay anh đi len lỏi vào khu phố cổ, rồi ghé bất kỳ quán nào nếm một món ngon Hà Nội. Tôi rón rén bước, cùng anh vào mấy bảo tàng mà ở đó là cả dòng chảy lịch sử Việt Nam, Hà Nội hiện hữu…

Hà Nội xuân và tình yêu của tôi như không thể tách rời trong trái tim và tâm hồn. Khi về phương Nam với cành đào thắm trên tay,với cái nắm tay ấm áp của anh, là đã mang cả mùa xuân Hà Nội, tình yêu Hà Nội, yêu người Hà Nội cùng đón xuân phương Nam với tôi./.