Thứ Sáu, 13 tháng 8, 2010

Cổ tích Bạch Mã

CỔ TÍCH BẠCH MÃ

Hoài Hương

Một vóc dáng rất đàn ông, một đôi mắt hơi u uẩn buồn, anh không có gì đặc biệt lắm ngòai việc là người Việt Nam duy nhất trong nhóm lữ khách du lịch đi lên núi Bạch Mã. Gần đến giờ khởi hành, sếp tôi đưa anh ra xe và dặn dò tôi một câu nửa thân mật, nửa "lệnh": "Chăm sóc chu đáo anh bạn thân của anh nghen chú mày". Tôi chào anh với vẻ hơi kính cẩn, bạn sếp mà, nhưng anh khóat tay dễ dãi: "Tự nhiên. Chú làm việc của chú đừng bận tâm đến anh". Anh nhảy lên xe trước, ngồi ở hàng ghế sau cùng. Khi tất cả mọi người đã ở trong xe, tôi nhìn anh hơi áy náy vì phía trên còn ghế trống, nhưng anh ra dấu để mặc anh. Suốt quãng đường đi, tôi kín đáo quan sát anh với sự tò mò, trong khi miệng vẫn liếng thoắng giới thiệu cảnh quan dọc đường cho các vị khách. Anh lơ đãng nhìn ra ngòai cửa xe, hình như đang suy nghĩ điều gì đó, anh tên gì, làm gì, ở đâu, tôi chưa được biết. Nhìn anh vừa giống một lãng tử phong trần vừa có nét lịch lãm của một người hiểu biết qua cách ăn mặc và cách anh cười khi nghe tôi nói một chuyện vui với khách. Mà sao anh đi Bạch Mã có một mình, không giống lắm người đi du lịch,càng không phải là người đi làm việc. Sếp tôi không nói rõ ràng ngòai hai chữ "bạn thân", hay đây cũng là mẫu người "quái quái" như sếp, thôi thì như sếp dặn "chăm sóc chu đáo", nhưng có vẻ như anh không cần đến cái "chăm sóc chu đáo" đó.

Xe tới chân núi Bạch Mã, tôi thấy anh có một cái gì đó thật lạ. Vẻ bồn chồn, anh đẩy cửa kính xe, chồm hẳn ra ngòai nhìn, gương mặt không còn vẻ lãnh đạm thờ ơ như nãy giờ trên đường đi. Chương trình của tôi ở Bạch Mã có nghỉ đêm nên tôi cho làm thủ tục nhận phòng ở khách sạn Bạch Mã ngay lưng chừng núi. Mải giúp khách nhận chìa khóa nên tôi không để ý đến anh; hơn nữa, anh và tôi chung phòng, phải ưu tiên mấy vị khách nước ngòai trước. Xong hết, tôi quay ra kêu anh, nhưng hình như anh không nghe dù chỉ đứng cạnh tôi có mấy bước chân. Anh đứng như bị thôi miên trước bức tranh thêu một tiên nữ đang vui đùa giữa hoa lá chim muông rất đẹp, sống động... Tôi lại gần chạm vào anh, anh mới giật mình, môi lắp bắp: "Hương Phong...là nàng...". Anh đi theo tôi nhưng không quên ngóai đầu lại nhìn bức tranh, ánh mắt thật lạ, như cười như pha chút băn khoăn, khắc khỏai thế nào ấy.

Buổi tối, sau khi cùng đòan tham gia chương trình tour, trở về khách sạn,tôi lại thấy anh đứng như bị thôi miên trước bức tranh thêu tiên nữ, mắt lộ vẻ gì đó van lơn tha thiết, chen nét trìu mến...Tôi kéo anh ra khỏi mộng mị bức tranh, hơi thắc mắc tại sao anh có vẻ "lụy" trước một bức tranh như thế, vì nó cũng chỉ đẹp như nhiều tranh phong cảnh khác. Đêm đó, sau mấy tuần rượu giữa hai người, cởi mở thân tình hơn, tôi được nghe anh kể chuyện tình của anh, ngỡ như người trong mơ đang tưởng tượng, cứ mông lung kỳ ảo không hiểu thực hư, ngay cả tôi cũng lâng lâng say nên ngồi nghe trong sự lơ mơ hình như đang lạc vào câu chuyện lạ lùng xa xưa lắm...

... Bốn năm trước tôi đến Huế dự Festival, là một nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc, nên Huế không xa lạ lắm, dù còn nhiều bí ẩn vẫn cần khám phá. Trước ngày khai mạc, tôi lang thang ở khu Thành Nội, xách theo máy ảnh định chụp kĩ mấy bức chạm nổi trên chín cái Đỉnh đồng ở nhà Thế Miếu, có rất nhiều nhà nghiên cứu nói về nó, nhưng tôi muốn tìm thêm những thông điệp, tôi tin là vẫn còn ẩn giấu, người xưa thâm thúy lắm, mà nghệ nhân làm ra các tuyệt tác nghệ thuật lại là bậc thầy của những ẩn dụ thời gian, nối quá khứ, hiện tại với tương lai. Đang loay hoay ngồi chỉnh ống kính vì cần phải cận cảnh, rõ ràng, sắc nét...một làn gió thỏang qua đưa mùi hương rất lạ,mũi tôi khá nhạy cảm với mùi, chợt thấy ống kính bị giật nhẹ, tối sầm lại, đồng thời tôi nghe tiếng kêu: "Ui chao...". Ngẩng lên, không thể tin vào mắt mình, một "nàng" Huế chính gốc, áo dài tím nhạt, đẹp không tả được, mắt nhìn vào tôi như muốn nhấn chìm tất cả, cứ vời vợi long lanh, tóc mượt dài như mây, da trắng mịn màu men sứ, dáng mềm như liễu...Đẹp đến muốn nín thở, tôi ngây người ra nhìn quên cả đứng lên, quên cả phép lịch sự tối thiểu... "Ui chao. Anh ni lạ rứa hè!". Tôi cứ như gã khờ thốt ra một câu ngờ nghệch: "Đẹp quá...". "Anh ni lạ rứa...Gỡ áo em ra cho em đi..."; ôi trời ạ, tà áo sau của nàng quấn lấy ống kính của tôi vẫn chưa gỡ ra. "Xin lỗi...". Tưởng nàng sau đó đi luôn, nhưng hình như nàng chùng chình, bất chợt nàng mỉm cười "Anh ni lạ rứa"... còn tôi cũng bất ngờ lúng túng, muốn nói một câu gì để giữ nàng lại làm quen, nhưng lại muốn nàng đi thật nhanh, vì hình như tim tôi hơi bất thường, một sự rung động khó diễn thành lời, giữa tôi và nàng có một giao cảm huyền bí nào đó.

Vâng! Tôi là một thằng đàn ông hơi khó tính, hơn ba mươi tuổi vẫn chưa có một mảnh tình làm phép, trong mắt tôi phái yếu là một thế giới xa lạ, bí hiểm, rắc rối, mà tôi thì chưa muốn bị ràng buộc, tôi đam mê công việc nghiên cứu, lâu dần tôi bị coi là kẻ lập dị, không đàn bà con gái nào để ý, có vài người còn bóng gió cho là tôi "đồng tính". Tôi mặc kệ thiên hạ, không quan tâm.
Nhưng rồi nàng, bất ngờ như lúc xuất hiện, lướt nhanh qua tôi, đi như một làn gió về phía cửa lớn hướng ra Thành Nội. Còn tôi, từ lúc đó người cứ bần thần không tập trung được việc gì. Tôi bỏ dở ý định chụp Cửu đỉnh, ra về, vơ vẩn đi dọc sông Hương, trong đầu ám ảnh về nàng, bất chợt thấy mình cô đơn quá, nhất là ở xứ Huế thơ mộng này. Liệu có còn gặp lại nàng...

Lễ hội Festival khai mạc, cùng với rất nhiều chương trình khơi dậy một Huế xưa cuốn hút tôi. Tôi vẫn không quên gương mặt tuyệt đẹp của nàng, đi bất cứ đâu ở Huế, tôi luôn chú ý tìm nàng trong số những đám đông thiếu nữ, song không ai mang gương mặt siêu thóat ấy...Chợt thấy lòng mình hơi chùng lại, tim se sắt một nỗi buồn khó hiểu. Đến đêm thứ ba của lễ hội, tôi đi dự dạ tiệc cung đình có biễu diễn nhã nhạc trong Thành Nội , đúng lúc tôi chuẩn bị ngồi xuống hàng ghế dành cho khách mời, mũi tôi thóang bắt gặp mùi hương lạ theo làn gió thỏang qua, một cái rùng mình. Trước mặt tôi là nàng, dưới ánh đèn rực rỡ còn đẹp hơn cái buổi tôi gặp ở nhà Thế Miếu, vẫn màu áo dài tím nhạt nhẹ như sương chiều, vẫn một câu nói "Anh ni lạ rứa"... Nàng ngồi xuống ngay cạnh tôi... Đêm đó thật tình tôi không còn nhớ những gì đang diễn ra trên sân khấu, ngay cả bữa dạ tiệc tôi cũng không biết mình đã ăn những thức gì, chỉ biết một điều duy nhất bên tôi là nàng, một nàng Huế đẹp như thần tiên trong tranh. Một đêm Huế thật đặc biệt trong cuộc đời. Sau khi rời khỏi Thành Nội, tôi và nàng đi dạo dọc theo hồ sen Tịnh Tâm... Nàng có tên Hương Phong, cái tên nghe hay hay lạ lạ và hiếm thấy ai có ở đất Huế này. Lần đầu tiên tôi đi bên một cô gái, cảm giác hư thực như đang ngấm một thứ men rượu ngọt cứ lâng lâng dễ chịu. Dù mới gặp nhau nhưng cả tôi và nàng như thể quen nhau lâu lắm, nàng nói cho tôi biết nhiều chuyện về Huế. Những câu chuyện của nàng rất đặc biệt, tôi có cảm giác nàng rất am hiểu về kinh thành Huế xưa, cả lịch sử, triều đại đến những lĩnh vực văn hóa cung đình. Hình như tôi đang nắm trong tay báu vật của Huế-nàng Hương Phong. Cảm giác ấm áp lạ thường, tôi muốn đêm dài mãi, để được đi mãi bên nàng. Tôi không còn hiểu mình khi có một ý nghĩ:nàng sẽ mãi là của tôi. Ừ! Mà sao nàng lại tin tôi, đi với người đàn ông lạ mà không tỏ ra e ngại gì. Hay chính Ông Trời đã tặng nàng cho tôi, hay chính kiếp trước tôi và nàng là hai nửa của nhau. Nhưng rồi tôi cũng phải chia tay nàng không thể đi hết đêm được. Tôi ngỏ ý đưa nàng về nhà, nàng lắc đầu quầy quậy: "Nỏ được mô. Nhà em xa ngái, ngòai Thành. Em đi xem hội, ở nhà dì. Dì khó dữ. Anh để em tự về... Mai em đến anh". Rồi nàng quay đi rất nhanh về phía trong xóm sau hồ Tịnh Tâm, không kịp cho tôi phản ứng gì, thóang đã thấy mất hút bóng nàng, chỉ còn phảng phất mùi hương trong gió...Hương Phong. Đêm đó tôi mất ngủ- mất ngủ vì một nàng con gái đầu tiên ám ảnh tôi trong đời.

Ngày hôm sau, tôi dự định đi sang bên Kim Long để tránh cái nắng gay gắt giữa hạ và để cảm cái chất thơ của hoa lá cây kiểng ở mấy khu nhà vườn nổi tiếng đất thần kinh bên ấy. Lời hẹn của nàng. Ừ. Sao tôi vô tâm quá, không cho nàng biết tôi ở đâu thì làm sao nàng đến được. Không lẽ tôi lại lạc mất nàng lần nữa. Nhưng tôi linh cảm mối giao cảm kỳ lạ, nhất định nàng sẽ tìm được tôi. Tôi xuống dưới sảnh chờ. Nàng Hương Phong của tôi đang nhìn tôi cười, dấu ấn, đóng vào tim tôi vị ngọt ngào. Tôi và nàng có những giây phút lãng mạn đầy thơ mộng bên nhau trong bóng mát rợp và hương thơm của cây trái hoa lá. Và cũng thêm một lần tôi khâm phục sự hiểu biết của nàng về các lọai cây trái, nàng kể tên từng lọai, nguồn gốc, tính cách đặc điểm, thời điểm đơm hoa kết trái, như chính nàng là người chăm sóc cây. Hương Phong, nàng của tôi chừng hai mươi tuổi, mà có một kiến thức không dễ gì ai sánh được.

Quá trưa, tôi và nàng trở về Thành Nội, tôi đưa nàng đi ăn bên Gia Hội, nhưng vừa gần tới chợ Đông Ba, nàng nói đi theo nàng đến nơi này. Lòng vòng qua vài con đường nhỏ bên trong Thành, nàng đưa tôi đến một tiệm ăn. Rất đặc biệt, lối vào rải sỏi tròn trắng, hai bên trồng tòan hoa đủ màu sắc tỏa hương thơm ngát, tiệm ăn là một tòa nhà xinh xắn bằng gỗ lợp ngói lưu ly, bước vào trong không khí mát rượi không hề thấy cái nóng ngòai kia, nhưng tuyệt nhiên không thấy một cái quạt hay máy lạnh nào. Cách sắp đặt cũng thật đặc biệt, bàn ghế gỗ cẩn xà cừ trông rất cổ kính. Những tiếp viên đẹp đến không ngờ, như tranh Tố nữ bước ra, ăn mặc xiêm áo ba tầng bảy lớp, tóc búi cài trâm giắt lược, tay chân đeo vòng nhạc mỗi cử động nghe leng keng rất vui. Tôi thầm nghĩ, Huế làm Festival, muốn phục dựng khung cảnh xưa để thu bút khách. Nhưng ý nghĩ của tôi bị lung lay khi các thức ăn được dọn ra, tôi là nhà nghiên cứu văn hóa, nên có chút hiểu biết về cổ vật, tôi không thể tin vào mắt mình, tất cả đồ sứ gia dụng, cốc, chén, bát, đĩa là đồ cổ chính hiệu mang tên đồ sứ men lam đặc trưng của thế kỷ mười sáu, mười bảy, cả đôi đũa ngà được chạm trổ tinh xảo như tác phẩm nghệ thuật cũng phải có tuổi vài trăm năm. Tiếp thị đến mức này có quá đáng không hay đây là "giả" tinh vi, khéo léo. Nhưng không, tôi cầm lên xem kỹ. Nó hòan hảo và hòan tòan thật. Còn thức ăn, tôi chưa bao giờ được ăn những món lạ và tuyệt ngon đến thế, dù tôi không phải người sành ăn nhưng rõ ràng đây là những món chưa từng thấy trong các thực đơn nhà hàng nào. Nàng ngồi bên tôi, gần như không ăn gì, chỉ gắp cho tôi thức này đến thức khác và tủm tỉm cười mỗi khi tôi buột lời khen. Tách trà sau bữa ăn là một thứ danh trà có lẽ lần đầu tôi được uống. Nước xanh vị ngọt và hương thơm như của muôn lòai hoa hòa quyện, uống đến đâu người thấy sảng khóai, thanh thóat lạ lùng. Chưa hết dư vị của tách trà, đã thấy một cô tiếp viên xiêm áo lả lướt bước tới cười tươi:"Rất lâu rồi bọn em mới được chị tới thăm, hôm nay chị có khách quí, có chi thất lễ và chưa ưng ý, chị bỏ qua". Cô quay sang tôi nháy mắt: "Khách quí...Cảm ơn đã chiếu cố". Tôi chưa kịp phản ứng gì, thì nàng đã kéo tôi đứng dậy: "Đi anh". "Nhưng còn thanh tóan?". "Đừng bận tâm". Thấy tôi còn băn khoăn, nàng cười: "Anh ni lạ rứa". Chỉ thế thôi mà tôi thấy yên lòng. Nhất định tôi sẽ giới thiệu cho mọi người biết về tiệm ăn này.
Nàng hỏi tôi: "Ngày mai anh đi đâu?". Tôi nói nàng muốn đi ngắm mây Bạch Mã, nàng hớn hở: "Ôi...Nhà em ở đó...Em đưa anh đi" và nàng líu lo một khúc hát rất lạ, giai điệu cũng lạ lắm, tôi chỉ biết là rất hay. Mà cũng kỳ, ở nàng có gì đó không giống các cô gái thời nay. Nàng không thích đến những nơi như quán café nhạc, nàng có vẻ xa lạ với những vật dụng thời thượng như điện thọai di động, nàng thờ ơ với những cửa hàng thời trang và rất thích thú khi xem bộ trang phục cung đình trong triển lãm. Trang phục đi với tôi là áo dài một màu tím nhạt như sương. Với những thông tin như nhạc trẻ, hay các trào lưu văn hóa du nhập vào Việt Nam, nàng gần như không hiểu biết gì, nhưng nói tới văn hóa xưa, lịch sử, kể cả âm nhạc cung đình nàng say sưa nói với vốn kiến thức mà ngay cả tôi cũng thua kém và thấy mình còn thiếu hiểu biết hơn nàng.

Sáng ngày đi Bạch Mã, tôi mượn chiếc xe gắn máy và phóng thẳng một lèo đến chân núi khi trời còn mờ sương. Nàng nói, nhà ở núi Bạch Mã, tôi định đi lòng vòng hỏi thăm, chưa đi được vài thước, tôi đã thóang ngửi thấy mùi hương thơm, mùi của nàng, rất riêng không giống mùi nước hoa. Và nàng, không biết đi từ hướng nào, đã thấy đến cạnh tôi, gọn gàng trong bộ đồ đi núi của người dân tộc, nhìn đẹp và lạ với những hoa văn thêu khá cầu kỳ như bức tranh. Nàng đeo một cái túi nhỏ cùng màu áo cũng đẹp và lạ không kém. Nàng leo lên xe, ôm lấy tôi và giục: "Đi anh...". Tôi nhìn lên chiếc barie chắn ngang đường lên núi, người gác có lẽ chưa thức, vì có ai lên núi sớm như tôi. Tôi lại nghe giục phía sau "Đi anh". Cái barie đã kéo lên cao, tôi rồ máy xe chạy qua, không kịp thắc mắc hình như không có ai ở đó. Đường lên đỉnh Bạch Mã ngoằn nghoèo, dốc, hơi khó đi, xe tôi gài số hai, bò lê ậm ạch, nhưng được một lát tôi có cảm giác xe đang chạy trên đường bằng, dù đường vẫn ngoằn nghoèo, hết dốc này đến dốc khác... Mặt trời đã lên, cảnh vật hai bên đường núi đẹp quá. Vừa chạy vừa ngắm, chẳng để ý gì đến đường đi xe chạy như thế nào. Những con thác nhỏ từ trên núi đổ xuống giống như những dải mây trắng, bắn vô vàn hạt nước li ti, lóng lánh phản chiếu ánh nắng như một tấm màn voan dát kim cương. Con thác trượt trên các phiến đá ngắt từng đọan như cụm mây trườn xuống, những vạt rừng đỏ rực hoa đỗ quyên, cùng hàng đàn bướm đủ màu bay lượn như vườn hoa di động.
Chúng tôi dừng xe ngay nơi một con thác cao đổ xuống năm cái hồ, lạ một điều khi dòng nước vừa chạm mặt hồ, hình như dòng thác đứng lại, mặt hồ phẳng lặng hiền hòa, nước trong vắt, nhìn thấy hàng ngàn con cá đủ màu bơi lội tung tăng. Cây cối nơi này rất cao thẳng, tán lá rộng , rợp mát. Đúng là tiên cảnh. Tất cả những nơi này đều là điểm tham quan du lịch của Bạch Mã, không ai lên đây không đến chiêm ngưỡng. Nhưng sao tôi có cảm giác khang khác, cảnh vật có vẻ lung linh kỳ ảo hơn những gì tôi đã nghe qua hay xem qua từ sách báo, phim ảnh. Nơi này đẹp nguyên sơ mang chút hoang dại như chưa hề có bước chân người qua lại.
Một cảnh tượng thần tiên. Nàng Hương Phong của tôi, đẹp như tiên nữ đang nhảy múa trên bãi cỏ xanh mượt, giữa hàng vạn cánh bướm dập dờn lộng lẫy sắc màu, xung quanh là bầy chim trĩ xòe cái đuôi có những chấm sao lóng lánh, rồi mấy chú nai, hoẵng nhịp nhịp gõ chân, trên cao cơ man nào là chim vừa bay vừa đậu đặc trên mấy cây cổ thụ véo von hót những giai điệu bất tận âm vang cả rừng núi. Đúng là một đại cảnh rừng hoang tuyệt đẹp. Tôi gần như nín thở, chỉ sợ động đậy là mọi cái tan biến. Không có gì để nói lên cảm xúc lúc này bởi sự kỳ vỹ của vẻ đẹp Bạch Mã, thiên nhiên con người hòa vào nhau. Và cũng không thể ngờ, nàng không cho tôi đứng yên để ngắm, nàng kéo tôi vào vũ điệu thiên nhiên hoang dã đó. Cảm xúc được thăng hoa tới tận cùng. Tôi- nàng- Bạch Mã khắc dấu trong tôi không phai được. Và nàng, thêm vào hương vị rừng bằng một bữa ăn mà tôi không thể biết đã được chuẩn bị như thế nào, nhưng điều làm tôi kinh ngạc là tất cả những đồ để đựng thức ăn đều bằng loại đá ngọc với nét chạm nổi và hình dáng cực kỳ tinh xảo và lạ, tôi chưa hề thấy ở bất cứ đâu, hơn thế nó hoàn toàn rất cổ, không phải tuổi mấy trăm năm mà phải là mấy ngàn năm trở lên. Đặc biệt nhất là bình rượu bằng ngọc xanh biếc trong suốt, màu rượu cũng xanh như thế, uống vào, hương thơm như theo từng mạch máu lan tỏa khắp người, cảm giác dễ chịu thư thái thoát tục. Nàng đã đem lại cho tôi những giây phút ngọt ngào kỳ lạ nhưng cũng đầy thơ mộng.

Từ Bạch Mã trở về, tim tôi thật sự không còn bình yên nữa. Tôi đã thành con người khác. Hình ảnh nàng choán hết trong tôi, ngự trị trong tôi. Tôi đã yêu... Một tình yêu "sét đánh", không lý giải được. Nàng và cái tên Hương Phong cùng mùi hương thơm rất lạ rất riêng của nàng ám ảnh tôi không chỉ vì cái buổi đầu tiên ở nhà Thế Miếu mà như từ tiềm thức. Nàng vẫn còn nhiều bí ẩn, luôn mang cho tôi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, hình như ở nàng ẩn dấu cả bí mật kinh thành Huế. Những nơi nàng đưa tôi đến đều hết sức lạ lùng, không hề có dấu vết đổ nát, phôi phai của thời gian, nhưng rõ ràng là ở một thời xa xưa hàng mấy thế kỷ. Nhưng tôi không hề để ý điều đó. Được gần bên nàng cảm giác thật dễ chịu, như tôi và nàng gắn kết với nhau. Trong tôi không hề nghĩ sẽ phải xa nàng...

Festival kết thúc, tôi phải trở về nhà với công việc nghiên cứu đang đợi tôi. Ngày cuối ở Huế với tôi thật ngắn, tôi không muốn xa nàng và nàng cũng cảm thấy thời khắc chia tay, gương mặt xinh đẹp của nàng gợn nét buồn làm tim tôi cứ nhói lên. Tôi tự an ủi mình. Đây chỉ là cuộc chia tay tạm thời, thời này khoảng cách địa lý đâu có là trở ngại. Đêm cuối, khi ôm xiết nàng trong vòng tay, hôn lên môi mắt nàng, tôi vẫn nghĩ tôi sẽ gặp lại nàng sớm nhất khi có thể. Tôi không nghĩ đó là lần cuối tôi được bên nàng.

Sáng hôm sau, cứ ngỡ nàng sẽ đến gặp để tiễn tôi đi, tôi đã đợi nàng ở trên cầu Tràng Tiền, đứng nơi tôi và nàng hay dừng chân ngắm sông Hương. Đợi rất lâu... sắp tới giờ phải về khách sạn trả phòng ra ga. Không thấy nàng. Bấy giờ tôi mới chợt nhớ là tôi chưa hề biết địa chỉ của nàng. Thật lú lẫn. Làm sao đây? Tôi bối rối và tự trách mình. Một làn gió thổi qua. Mùi hương của nàng... Tôi dáo dác nhìn. Từ phía xa có một chú bé bán báo dạo đang đi về phía tôi... "Thưa cậu... có một cô nhờ con đưa vật ni". Tôi chưa kịp nói hỏi gì, đã thấy chú bé vụt đi rất nhanh. Trên tay tôi là một chiếc hộp gỗ chạm tinh tế có vẻ rất xưa, tỏa mùi trầm. Tôi mở ra. Một chú rùa nhỏ và một lá thư..."Anh yêu... Đành phụ tình anh... Giữa hai ta là khoảng cách không thể vượt qua. Hãy quên em và cầu chúc anh hạnh phúc. Gởi anh chú rùa Bạch Mã, bạn em nay là bạn anh...- Hương Phong". Tim tôi muốn ngừng đập, cổ muốn nghẹn lại... Không thể... Tại sao... Đêm qua... Nàng có nói gì, tỏ ý gì đâu... Hương Phong... Một làn gió thoảng mùi hương của nàng. Tôi run lên. Bất chợt lá thư trên tay tôi vuột bay xuống dòng sông. Tôi muốn hét to lên gọi nàng nhưng người cứ như mất trọng lượng. Tôi trở về với trái tim bị thương mà không hiểu vì lẽ gì.

Tôi đã trở lại Huế nhiều lần. Tôi không thể quên nàng và những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi. Tôi đi tìm nàng. Hai năm trước, cũng mùa Festival, tôi lại đến Huế, nàng nói thích đi xem Hội, biết đâu tôi sẽ gặp nàng. Tôi ghé lại những nơi nàng đã đưa tôi đến. Cảnh vật hoàn toàn khác, chỉ là những hoang phế đổ nát, không lẽ mới vài năm mà đã bị tàn phá như vậy. Hay là tôi đã nhớ sai địa điểm. Ngay cả cái tiệm ăn cung đình kiểu cổ nàng đưa tôi đến ăn buổi trưa, tôi cũng không thấy, nơi đó là một khu vườn trống bỏ hoang. Tôi hỏi nhiều người, ai cũng lắc đầu "không biết", và họ còn nói ở đây chưa bao giờ có tiệm ăn, ở Huế cũng không có tiệm ăn nào như thế... Mùa hội năm nay tôi lại đến Huế, hy vọng tìm được nàng. Cách đây mấy ngày, tôi đến khu nhà vườn Huyền Không, vẩn vơ trong vườn, nhớ lại kỷ niệm xưa với nàng, trái tim cứ muốn thổn thức, nhoi nhói, không biết nàng ở đâu, ra sao...Gặp một ông cụ râu tóc bạc phơ, chợt muốn hỏi chuyện, những bí ẩn không tên, làm cho tôi không yên, cứ thắc mắc hoài. Tôi hỏi chuyện tiệm ăn, cụ nói thong thả: "Có đấy, nhưng là bốn trăm năm trước. Thời vua Minh Mạng, gặp hạn hán đói kém mất mùa, nghe lời khuyên, vua giải phóng cho vài trăm cung phi về với dân gian, để lập đàn tế Trời cầu mưa. Các cung phi mang danh "vợ Vua", ra ngoài khó sống quá, tập hợp lại mở một quán ăn chuyên nấu đồ ngự thiện để cho các quan trong thành đãi khách và các nhà quyền quý vương tôn hoàng tộc đến ăn... Trong sách sử có ghi chép về việc này". Một cảm giác mơ hồ trong tôi, lạnh cả sống lưng, tôi run run hỏi: "Ông có nghe một cái tên Hương Phong?". Và tôi thật sự toát mồ hôi lạnh khi nghe ông cụ nói: "Hương Phong là nàng tiên Gió của núi Bạch Mã. Một huyền thoại của cư dân vùng đó. Có điện thờ ở dưới chân núi...". Tôi không biết mình đang tỉnh hay mơ. Tôi quyết định đi Bạch Mã để tìm hiểu.

…Chú biết không? Bức tranh thêu ở dưới sảnh khách sạn chính là cái cảnh Hương Phong nhảy múa với bầy chim muông hoa bướm ở Bạch Mã, tôi vừa kể chú nghe... Tôi cũng dò hỏi người quản lý khách sạn này về bức tranh, họ nói, đúng là ở núi Bạch Mã cư dân thờ nàng tiên Gió. Đây là bức tranh thêu họa lại bức tranh thờ ở miếu dưới núi, do một nghệ nhân thêu tặng. Nàng tiên Gió là vị thần hộ mệnh cho vùng này. Tôi không tin. Nàng Hương Phong của tôi không thể là nàng tiên Gió... Tôi đã có biết bao nhiêu kỷ niệm, bao giây phút ngọt ngào êm dịu bên nàng... Nàng là thật không phải là gió... Nhất định tôi sẽ gặp được nàng...

... Tôi nghĩ anh đã say, tôi cũng say, nên không biết nói với anh thế nào. Câu chuyện của anh mơ màng, kỳ ảo, hơi hoang đường như trong giấc mơ. Có lẽ anh là một người đa tình và lãng mạn. Tôi dìu anh lên giường. Ngày mai chúng tôi sẽ có cuộc khám phá Bạch Mã.
Nhưng rồi, tất cả suy nghĩ của tôi bị đảo lộn. Sáng hôm sau, khi tôi xuống sảnh đưa khách đi tham quan Bạch Mã, hơi tò mò, tôi dừng lại ngắm kỹ bức tranh... Dường như tôi bị hoa mắt. Nhưng không, tôi chớp mắt mấy cái, rõ ràng nàng tiên nữ trong bức tranh bước ra đứng trước mặt tôi, mỉm cười và nháy mắt. Một làn gió thổi qua, trong sảnh rất kín không có cửa sổ hay lỗ hổng nào, và mùi hương thơm thật lạ... Tôi gai hết cả người. Không lẽ câu chuyện anh kể có thật. Có một nàng Hương Phong, một nàng tiên Gió. Thời đại này còn có những câu chuyện kỳ lạ như thế sao?
Và tôi kể lại như một câu chuyện cổ tích của núi Bạch Mã./.


HH

Trong tim tôi có một vị tướng

Trong Tim Tôi Có Một Vị Tướng

Hoài Hương


30.04.1975 - Hà Nội.

Tôi chỉ là một cô bé, bé như viên kẹo, sống ở phố lính - nơi tôi ở được người lớn gọi như thế... Vào buổi trưa đó, tôi thật ngạc nhiên vì thấy mọi người ôm nhau vừa nhảy vừa cười vừa khóc vừa hét to đến khản cổ: "Giải phóng rồi" "Giải phóng Miền Nam rồi" "Hoà bình rồi"... Mọi người cứ thế tuôn ra ngoài đường, nhà cửa mở toang hoang không thèm khoá, chẳng biết quen lạ gặp ai cũng ôm mà nói "Giải phóng rồi, hoà bình rồi". Không lâu sau, tôi nghe tiếng loa phóng thanh đọc cái gì đó mà tôi chỉ nghe được bằng đôi tai và trí óc non nớt của cô bé tuổi mẫu giáo hai chữ "giải phóng" "hoà bình", hệt những lời mọi người đang hét vang ngoài phố. Và một khúc nhạc rộn rã cứ lặp đi lặp lại "Việt Nam - Hồ Chí Minh". Vài ngày sau thì tôi biết và thuộc, hát bằng giọng ngọng nghịu bài hát này "Như có Bác trong ngày vui đại thắng". Tôi bé quá, không thể hiểu được tầm cỡ của sự kiện trọng đại này, nhưng nhìn những người lớn khóc cười reo vui, nghe tiếng nhạc âm vang trên loa phóng thanh suốt ngày, rồi pháo hoa, và từng đoàn người cờ hoa rợp trời, tôi biết đây là một ngày vui, ngày vui lớn lắm chưa từng có và không gì sánh được.
Ngày hôm sau, ba tôi đem báo về, chăm chú xem và trong mắt ba tôi thấy những tia lấp lánh vui và hình như có nước mắt. Tôi chưa biết chữ, chỉ nhớ góc tờ báo có ngôi sao năm cánh, tôi bắt chước ba cầm báo lên xem, trang báo có nhiều ảnh chụp và không hiểu sao, đập vào ấn tượng trẻ thơ của tôi là hình ảnh một người lính giải phóng quân, áo quần bụi bặm, vai khoác khẩu súng mũi hướng về một nhóm người, tay đặt tại cò súng, nét mặt hơi căng thẳng nhưng toát lên sự cương quyết và oai nghiêm, nhóm người kia mặt mày ủ rũ thiểu não có chút gì lo sợ. Không đủ trí để hiểu sự việc gì đang diễn ra trong tấm ảnh, nhưng hình ảnh người giải phóng quân đã in đậm trong trí óc tôi, như một chàng dũng sĩ trong những câu chuyện cổ tích đi diệt trừ ác quỉ. Cũng thật lạ, tấm ảnh đó cùng hình ảnh người giải phóng quân đã luôn hiện trong giấc mơ của tôi... Nhiều năm sau lớn lên, đi học, tôi đã biết ý nghĩa ngày 30.4.1975, tôi cũng được biết rõ nội dung tấm ảnh đã in trong đầu óc tôi ngày đó. Nó được đăng nhiều lần trên các báo mỗi khi đến ngày 30.4 hàng năm - Đó là hình ảnh cuối cùng của nội các chính quyền Sài Gòn, đang đầu hàng vô điều kiện quân giải phóng ở Dinh Độc lập trưa 30.4.1975. Và người giải phóng quân - chàng dũng sĩ thần thoại tuổi thơ tôi là một sĩ quan chỉ huy trẻ của một đơn vị xe tăng đánh chiếm Dinh Độc lập. Ông đã trở thành một chỉ huy cao cấp của một Quân khu chiến lược phía Bắc.
Ít tháng sau ngày 30.4.1975, ba đưa tôi vào Thành phố Hồ Chí Minh, quê hương của cha mẹ tôi. Và giấc mơ có hình ảnh người giải phóng quân - chàng dũng sĩ thần thoại của tôi vẫn thỉnh thoảng hiện về. Thật lạ. Tôi nhớ như in gương mặt đó, như được khắc dấu...

30.4.1995 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Tôi đã là một nhà báo, gương mặt trẻ của thành phố trong ngày lễ kỷ niệm 20 năm giải phóng Sài Gòn - thống nhất đất nước. Và như không thể tin được vào mắt, trên lễ đài, trước hàng ghế tôi ngồi ở khu vực báo chí, ngồi ghế danh dự chính là người trong ảnh - người giải phóng quân - chàng dũng sĩ thần thoại trong giấc mơ tôi, tuy có già hơn, nhưng trong bộ lễ phục tướng màu trắng, cành tùng trên ve áo, dây biểu chương vàng vắt ngang ngực, nụ cười thật tươi, đẹp ngời ngợi. Tôi muốn nghẹn thở vì hồi hộp... vội liên lạc với lãnh đạo xin phép một cuộc phỏng vấn "người trong mơ" - của tôi - khách danh dự của thành phố.
Không khó khăn mấy, tôi đã có được cuộc hẹn. Tôi gọi điện thoại đến nơi ông nghỉ để thống nhất giờ làm việc. Tất cả dũng khí được rèn luyện của con nhà lính, cũng như bản lĩnh nhà báo của tôi như bị mềm đi, tôi lúng túng lắp bắp không thể nói trọn vẹn một câu qua điện thoại.
- Dạ... thưa... Chú... Ông...
- Vâng! Tôi đây... Nào bình tĩnh... Phải cô nhà báo không?
- Dạ... cháu...
- Ta hẹn giờ nào có thể làm việc...
Đúng hẹn, tôi đến, đã thấy ông ngồi đó. 20 năm, kể từ ngày tôi nhìn thấy ông trong tấm ảnh trên báo Quân đội Nhân dân - sau này tôi biết tên tờ báo, từ giấc mơ thành hiện thực. Không hiểu sao tim tôi cứ đập loạn hết cả lên, nhìn tôi lúc đó chắc rất buồn cười, nhưng thật kỳ diệu, nụ cười ấm áp thân tình của ông làm tôi trấn tĩnh, cảm giác thân thuộc, quen biết như những giấc mơ có hình ảnh ông suốt 20 năm qua trong tôi. Tôi lại thêm một lần lúng túng không biết phải xưng hô thế nào với ông. "Chú", e già quá vì nhìn ông còn rất trẻ so với tuổi, kêu "anh" thì có vẻ mạo phạm và không thích hợp vì ông có lẽ phải gấp đôi tuổi tôi. Một chút lóe lên trong tôi, tôi nhớ đến câu chuyện "Con gái viên đại úy" của văn hào Puskin, có một kiểu xưng hô rất hay... Tôi quyết định gọi "ông" xưng "em". Ông lắc đầu cười nhìn tôi, nhưng không tỏ ý gì phản đối.
Cuộc phỏng vấn tiến hành thuận lợi, hoàn tất. Tôi không thể ngờ một người lính chiến - một vị tướng chuyên về chiến thuật đánh trận ở chiến trường như ông lại có cách nói chuyện lôi cuốn và thật sự hấp dẫn, diễn đạt rất hay, ngôn ngữ chuẩn xác giàu hình tượng. Tôi chợt nghĩ, nếu như không phải đất nước có chiến tranh, thì có lẽ ông sẽ là một nhà văn. Rồi không thể kìm giữ, tôi buột nói ra ý nghĩ đó, ông cười to.. "Cô bé ơi, thế thì cả thế hệ chúng tôi thành nhà văn hết".
Đêm đó về nhà, trong tôi cứ lâng lâng chếnh choáng giống người uống rượu không quen, một cảm xúc khó tả, tôi nằm ôn lại từng chi tiết, nhớ lại từng câu nói nụ cười của ông, hình ảnh trong giấc tuổi thơ tôi đã thật sự có hình hài. Và bây giờ không phải là chàng dũng sĩ thần thoại, mà là một vị tướng vừa kiêu hùng vừa phong nhã đầy hấp lực trong những giấc mơ con gái của tôi...

Một năm sau, cũng đúng ngày 30.4, nhà báo Ngọc, một trong những nhà báo đầu tiên có mặt trong Dinh Độc lập trưa 30.4.1975, điện thoại cho tôi, nói có một người quen muốn gặp.. Không nghĩ ra là ai, tôi lơ đễnh cầm máy chờ đầu dây bên kia.
- Alô... Chào cô bé nhà báo... Tôi bỗng run lên lắp bắp:
- Ôi... Ông... em...
- Cô bé vẫn thế... nào bình tĩnh...
Tôi không nhớ mình đã nói những gì với ông, một bất ngờ, một niềm vui... Từ sau cuộc phỏng vấn 30.4 năm trước, đã nghĩ không biết bao giờ mới gặp lại ông... Ông vẫn còn nhớ đến tôi, gọi điện thoại cho tôi. Tim tôi lỗi nhịp. Đêm đó, tôi thao thức, nhớ lại từng câu nói của ông, nhưng khác hơn một năm trước tôi đã có số điện thoại của ông với một lời mời: "Khi nào có dịp ra Hà Nội công tác, báo cho biết đón lên chơi nơi đóng quân". Còn ông, ông cũng có được địa chỉ và số điện thoại của tôi. Có một chút xao động trong tôi. Những giấc mơ về ông nhiều hơn.
Không lâu sau, tôi nhận được một lá thư dán con tem quân đội, địa chỉ người gửi là Hộp thư số 1A..., linh cảm đó là thư ông làm tôi hồi hộp, nhưng tôi không vội mở, muốn để dành đến đêm, khi tất cả mọi việc trong ngày hoàn tất, tôi muốn có cảm giác trọn vẹn của lần đầu đọc thư ông...
Một lá thư ngắn, độ mươi dòng, với nét chữ chân phương rõ ràng. Ông hỏi thăm công việc của tôi, nói có nghe vài chương trình tôi làm về quân đội trên sóng phát thanh và khen, ông còn tỏ ý lo ngại sức khoẻ của tôi vì trông mảnh mai quá làm nhà báo đi nhiều sẽ vất vả... Một lá thư thăm hỏi rất bình thường nhưng với tôi từng câu từng chữ làm cho tôi xúc động, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần, như cố tìm thêm những gì đằng sau mấy dòng chữ ngắn ngủn kia... Và ngay trong đêm tôi viết gửi ông một lá thư dài, dài chưa từng có của tôi cho đến lúc ấy. Tôi kể ông nghe chuyện về giấc mơ "dũng sĩ thần thoại" 20 năm trước, tôi kể ông nghe cảm xúc của tôi khi gặp ông lần đầu - đối diện người trong ảnh và trong mơ...
Thế rồi, từ đó tháng nào tôi cũng nhận được thư ông, những lá thư có độ dài tăng dần theo thời gian, những lá thư dán con tem quân đội. Qua các lá thư, tôi đã có ít nhiều hiểu biết về ông, ông không còn là một hình ảnh mơ hồ trong những giấc mơ của tôi ngày xưa, mà ông đang hiện diện bên tôi. Ông kể trong thư về làng quê nơi ông sinh ra, một làng quê êm đềm rất đặc trưng của đồng bằng châu thổ sông Hồng, có con sông quê tắm đẫm tâm hồn trẻ thơ quê ông, có những ngôi chùa tĩnh lặng trầm tư thâm nghiêm dưới bóng rợp của các cây si, cây bồ đề cổ thụ, có đình làng thờ thần hoàng linh thiêng và những hội làng đầy náo nhiệt màu sắc y hệt trong cổ tích. Ông cũng kể tôi biết về thời niên thiếu đầy gian nan vất vả, chính những tháng ngày khổ cực khó khăn đó đã rèn cho ông nghị lực và sức chịu đựng để sau này nhập ngũ, vào chiến trường, đối diện với cái chết - sự sống trong gang tấc giữa các cuộc chiến đấu khốc liệt ngoài mặt trận, ông đã vượt qua được...
Tôi say sưa đọc thư ông, nhớ từng câu chuyện ông kể qua thư, những câu chuyện chiến đấu như huyền thoại, sống động và hấp dẫn, những câu chuyện còn hay hơn thần thoại về việc di chuyển đội hình xe tăng đảm bảo bí mật bất ngờ suốt dọc đường Trường Sơn, cả xe lẫn người hoà vào rừng cây, hoà vào màu đất đỏ... Tôi dù đã đọc và xem phim về những chiến dịch xe tăng ta đánh giặc, nhưng khi đọc thư ông kể về cuộc chiến đấu của xe tăng quân chủ lực ở chiến dịch Khe Sanh 1969, lần đầu tiên khi những chiếc tăng mang trên mình ngôi sao năm cánh màu lửa xuất hiện đã làm bọn Mỹ bị bất ngờ choáng váng, các chiến thuật của chúng đều bị vô hiệu hoá tê liệt dưới sự tấn công dũng mãnh của xe tăng ta, đưa đến sự thất bại về chiến lược của Mỹ ở Tây Nguyên và chiến trường Miền Nam. Tôi thấy như hiện ngay trước mắt mình cuộc chiến đấu của xe tăng ta đang lao mình trong khói lửa, truy kích bọn giặc Mỹ, nghiền nát các căn cứ địch... Và nổi bật lên là ông người chiến sĩ người chỉ huy xe tăng... Ông là người thật việc thật, nên thư ông kể lại sinh động hiện thực hơn tất cả. Ông không chỉ kể về chiến thắng, ông còn viết cho tôi về sự mất mát hy sinh, lời thư của ông hình như cũng nghẹn ngào khi nói về những đồng đội đã hy sinh trước cửa ngõ Sài Gòn trưa 30.4.1975, người lính đã hy sinh trước cửa Dinh Độc lập chỉ vài phút trước khi lá cờ quân giải phóng tung bay trên nóc Dinh...
Ngược lại với thư ông, thư tôi viết gửi ông toàn những vụn vặt đời thường đôi khi có vẻ trẻ con, tôi viết lan man lung tung, và hình dung khi ông đọc thư tôi chắc ông sẽ rất buồn cười. Cũng có khi tôi viết về những suy nghĩ của mình trước hiện thực cuộc sống, tôi không lý giải được nhiều điều. Và ông, qua những câu chuyện mà chính ông trải nghiệm và kiến thức cuộc đời nhân tình thế thái, thực tế và sách vở xưa nay, ông đã cho tôi lời giải đáp. Tôi nhờ ông mà có cái nhìn đúng đắn về con người, xã hội, không bị giao động trước sự thay đổi của các trào lưu nhập ngoại đối với giới trẻ, đặc biệt ông giúp cho tôi trong công việc nhà báo những ý kiến rất giá trị về cách tiếp cận vấn đề, đối tượng để phản ánh chính xác, đạt hiệu quả...
Mà cũng lạ, giữa hai chúng tôi, trong những bức thư không hề có một lời nào bày tỏ tình cảm kiểu như "nhớ", "mến"... nhưng hình như chúng tôi hiểu nhau rất nhiều. Thư ông không chỉ đơn thuần là chuyện lính, mà còn rất nhiều điều về quan niệm sống của ông, ông hay viết câu: "quá khứ để hồi tưởng, hiện tại để nếm trải, tương lai để ước mơ". Và tôi nghĩ về ông không chỉ là một vị tướng oai dũng chỉ biết đánh trận mà là một người đàn ông từng trải rất phong phú về tâm hồn, trái tim ông là trái tim rất nhạy cảm đầy nhân ái bao dung, chiến tranh không hề làm ông chai lì cảm xúc. Chúng tôi viết cho nhau như hai người bạn - nhưng riêng tôi, tôi cảm thấy trong tôi càng ngày càng khác lạ khi viết cho ông. Tim tôi thật sự không nằm yên nữa khi nghĩ về ông. Tôi muốn bóng gió tình cảm của mình, song có gì đó làm tôi ngập ngừng. Có lẽ ông luôn chừng mực và có một khoảng cách với tôi dù rất mơ hồ. Tôi bắt đầu đem ông ra so sánh với những người con trai xung quanh tôi. Cho tới giờ này, tôi vẫn chưa có một tình yêu với bất kỳ ai, tim tôi im lặng trước mọi lời tỏ tình. Và mỗi lần nghĩ, nhớ tới ông thì đập nhanh đến khó hiểu. Tôi cảm giác hình như thầm yêu ông...

Thế rồi tôi cũng có dịp ra Hà Nội công tác. Trước khi đi tôi điện thoại báo ông biết. Cảm nhận trong giọng nói ông qua điện thoại có gì đó rất vui dù chỉ là những lời rất giản đơn, song tôi nghĩ linh cảm con gái không đánh lừa tôi. Công việc hoàn tất nhanh hơn dự định. Tôi đến nơi ông cùng một người bạn đồng nghiệp - biết đường đi. Nơi ông ở và đảm trách nhiệm vụ chỉ huy cao nhất là một vùng đất trung du đẹp hơn cổ tích. Vào lúc tôi đi, là mùa thu, phong cảnh hai bên đường đẹp như tranh vẽ, những cánh đồng lúa xanh mượt đang thì ngậm đòng thơm hương, xa xa là dải núi xám mờ, dòng sông uốn lượn như dải lụa bạch ôm lấy chân núi, nắng vàng như mật ong phủ trên mấy quả đồi ngắt xanh chè, cọ, bầu trời xanh cao trong vắt. Ông đón chúng tôi ngay ngoài phòng trực ban Quân khu bộ. Vừa nhìn thấy ông, không hiểu sao tôi lại bối rối, chẳng thốt lên nổi câu chào, cứ ngây người nhìn ông. Kể từ ngày 30.4 gần 2 năm tôi mới được gặp lại ông bằng xương bằng thịt, chứ không phải là những dòng chữ "sứ giả". Trong bộ quân phục hàng ngày gọn gàng, nụ cười ấm áp, giọng nói trầm vui vẻ, ông vẫn y hệt ngày gặp nhau ở thành phố của tôi, một vẻ đẹp đầy hấp lực toát ra từ ông không tả được, chỉ cảm nhận mà thôi.
Đêm ấy, sau khi ông cho tôi và người bạn tham dự buổi sinh hoạt văn hoá văn nghệ của lính trẻ mới nhập ngũ, trong tôi còn đầy ắp cảm xúc về những người lính, và rất gần... ngay sát phòng nghỉ Quân khu bộ là phòng làm việc và phòng nghỉ của ông. Tôi không sao ngủ được, lạ chỗ chỉ là chuyện nhỏ với cánh nhà báo, mà là vì trái tim tôi không muốn ngủ, cứ thao thức không yên, đêm trung du, vào mùa trăng đẹp liêu trai sương khói, nhìn ra ngoài trời mờ mờ ảo ảo lung linh... tôi vùng dậy khoác thêm áo ra ngoài, định dạo một chút ở khuôn viên dưới trăng sương trung du, để thả hồn cho những mơ mộng. Bất chợt tôi giật mình, ông ngồi ở ngay chiếc ghế gần phòng tôi từ bao giờ, tôi bỗng hồi hộp đến nghẹn thở, phải cố hít sâu mấy cái để trấn tĩnh.
Tôi có một đêm không thể quên. Trăng thượng tuần thung du phủ tấm voan mỏng sáng bạc xuống màn đêm, sương rơi khẽ trên lá cây trong sự yên tĩnh lạ lùng, tôi ngồi bên ông thật gần, như nghe được hơi thở của nhau, cả hai không nói với nhau câu nào nhưng hình như lại cảm thấy nói với nhau rất nhiều, không phải một vị tướng chỉ huy Quân khu và một cô bé nhà báo, mà như hai người tri âm tri kỷ. Thật lâu, không biết lâu đến đâu, ông phá tan không khí tĩnh lặng bằng giọng nói trầm hơi khàn:
- Nói gì đi chứ... im lặng mãi thế này sao?
- Em muốn được nghe ông nói... nói gì cũng được.
- Nói gì bây giờ...? Giọng ông trầm hơn:
- Mỗi người lính đi qua chiến tranh đều mang một vết thương, một nỗi buồn.
Và rồi ông kể cho tôi nghe vết thương của ông - nỗi buồn của ông, trong những lá thư gửi tôi ông chưa hề viết về nó. Đó là sự mất mát, và cả sự hy sinh của những người lính từ cuộc chiến trở về. Người vợ của ông, do một thông tin nhầm lẫn tưởng rằng ông đã hy sinh, đã đi lấy chồng sau 3 năm để tang thờ ông chăm sóc mẹ chồng. Ông càng buồn hơn và càng đau đớn hơn khi biết người vợ của ông không được hạnh phúc vì gặp người chồng sau quá ích kỷ luôn dằn vặt ghen tuông với quá khứ nhất là khi biết ông còn sống trở về. Ông không biết làm sao, để dành lại người vợ thì không thể, nhưng phải chứng kiến cuộc sống đầy nước mắt của bà, trong lòng ông như bị dao cứa nát đứt từng đoạn, ông luôn cảm thấy có lỗi với người vợ dù thật sự không phải do ông tạo nên. Là nỗi buồn chiến tranh. Chỉ có công việc, những bận rộn của chiến dịch huấn luyện, tập trận, những kế hoạch tác chiến phòng thủ... thuộc việc quân là làm cho ông khuây khoả, cho ông tạm quên.
Tôi lặng người nghe... Thương ông quá. Những tưởng một người lính đi qua chiến tranh với nhiều chiến công, ngực đầy huân chương, mang quân hàm tướng, sống trong vinh quang như thế, không thể có những nỗi đau "đời" như vậy. Trong mắt tôi lúc này, ông không còn là một vị tướng kiêu dũng mà là một người đàn ông có nhiều tâm sự cần được chia sẻ. Tôi không biết nói gì với ông, nhưng trong tôi trào dâng cảm xúc, tôi nắm tay ông..., phút giây đó hình như cả hai chúng tôi cảm thấy một cơn chấn động..., chúng tôi thật gần, một sợi dây vô tình nối hai người.

Tôi trở về thành phố phương Nam, với một trái tim không còn bình yên như trước, tôi luôn nghĩ đến ông, nhớ đến ông, trong những giấc mơ của tôi có lúc ông là một chàng trai trẻ, lúc là vị tướng tóc hoa râm lẫn lộn. Không lẽ tôi yêu ông thật rồi? Tôi không thể xác định gọi rõ tên tình cảm của tôi đối với ông. Những lá thư của tôi gửi ông ít đi những chuyện trẻ con, tôi thi thoảng dùng chữ "nhớ" để bóng gió nói tình cảm của tôi với ông. Thư ông gửi lại vẫn như trước, chân tình nhưng không có một ý nào liên quan đến chữ "nhớ" của tôi, cảm giác ông tránh né hay ông thật sự không để ý. Ông đối với tôi như một người cha, một người anh, người bạn không hơn.
Thư ông gửi tôi dày lên thành một chồng trong ngăn kéo riêng tôi dành cho ông, tôi nghĩ đến ông cũng nhiều hơn, hình ảnh ông choán hết trong tôi không còn chừa chỗ cho ai khác xen vào. Mọi người lấy làm lạ lắm, cứ thấy tôi đi về một mình không hẹn hò ai, bạn bè vài người mai mối giới thiệu, nhưng rồi mỗi khi gặp họ tôi lại nghĩ đến ông và thấy họ vô vị tẻ nhạt, cuộc sống của họ quá giản đơn và ít ý nghĩa, vài lần họ chán và tôi cũng chán nên chấm dứt, bạn bè nản luôn mặc kệ tôi. Dần dần thú vui của tôi sau giờ làm việc, nếu không lang thang nhà sách thì tôi lại đem thư ông ra đọc, đắm mình vào những trang thư và hình dung mình đang được sống cùng thời với ông, vui buồn cùng ông. Tôi nhớ ông, nỗi nhớ cồn cào nôn nao... Tôi yêu ông??? Tôi muốn hụt hơi khi nghĩ đến đó. Người ta có thể yêu một người lớn tuổi hơn mình thật nhiều, có thể yêu một vị tướng đầy chiến tích vinh quang thời chiến tranh. Và rồi ông... ông có tình cảm gì với tôi, yêu như tình yêu trai gái, hay thương như một cô em gái, một cô bé con như trong các lá thư ông viết cho tôi, ông có vượt được qua khoảng cách tuổi tác, địa vị xã hội mà sống cho tình yêu nếu có... Tim tôi loạn nhịp. Không kìm nén nổi lòng mình, tôi viết một lá thư dài, rất dài, chẳng nhớ bao nhiêu trang gửi ông. Tôi viết về kỷ niệm ngày thơ, tôi viết về cảm nghĩ khi lần đầu gặp ông, tôi kể ông nghe những giấc mơ có ông và những mộng mị lãng mạn, tôi nhắc lại đêm trung du phương Bắc, tôi và ông thật gần nhau... Tôi bày tỏ tình cảm không là chữ "nhớ", mà hơn thế. Tôi nghĩ ông sẽ hiểu, ông sẽ đón nhận, chúng tôi thân thiết đến thế mà. Gửi đi rồi, bỗng dưng tôi lo sợ, nếu ông chối từ, nếu ông cho là tôi trêu đùa... Tôi phấp phỏng chờ đợi... một tuần, hai tuần, rồi một tháng trôi qua không thư ông, tôi hơi buồn buồn, định gọi điện thoại, nhưng không đủ can đảm, lại chờ đợi trong hồi hộp. Chờ mãi đến lúc tưởng chừng cạn kiệt sự kiên nhẫn thì thư ông tới. Tôi run run mở, áp lá thư vào ngực nhắm mắt thầm cầu mong nó đem lại cho tôi niềm hạnh phúc như mơ ước... Nhưng tôi không thể đọc hết lá thư dù chỉ có một trang giấy. Ngay từ những dòng đầu ông viết: "... Tôi hiểu tình cảm vô giá dành cho tôi, tôi rất cảm động và trân trọng, nhưng tôi không thể... không chỉ là khoảng cách tuổi tác hay vị trí xã hội mà vì trái tim tôi đã nguyện cống hiến cho cuộc đời quân ngũ. Tôi không còn thời gian để có thể bắt đầu... Hãy nghĩ đến tương lai đang rộng mở của tuổi trẻ. Đừng vì tôi..."
Như một đứa trẻ bị đánh đòn oan ức, tôi bật khóc tức tưởi. Ông làm tim tôi đau, tôi như chơi vơi, trong tôi ông đã chiếm địa vị độc tôn, những lời trong thư ông làm tôi hụt hẫng. Tôi buồn suốt một thời gian dài, như kẻ thất tình, không viết thư gửi ông. Nhưng rồi chỉ một thời gian sau bình tâm lại, tôi và ông lại trở lại vạch xuất phát, thư tôi và ông đều đặn gửi cho nhau như trước và cả tôi lẫn ông như cố tình quên đi hai lá thư kia. Tôi vẫn luôn nằm mơ thấy ông, nhưng tôi không kể về những giấc mơ đó, tôi giữ riêng ông trong tôi, và tôi không thể yêu ai, tôi không đẩy ông ra khỏi trái tim tôi được. Hình ảnh ông hằn sâu, sống trong tôi...

30.4.2005 - Thành phố Hồ Chí Minh.

30 năm thành phố tôi cùng cả nước kỷ niệm ngày giải phóng thống nhất Tổ quốc. Ông lại được mời làm vị khách danh dự của thành phố. Vẫn đẹp ngời ngời trong mắt tôi trên lễ đài. Vẫn làm tim tôi hồi hộp nôn nao xao động. Và khi tác nghiệp y hệt 10 năm trước, tôi vẫn lúng túng bối rối trước ông... dù tôi đã thật sự trưởng thành là người lớn không phải cô bé ngày trước. Khi những cuộc diễu hành biểu dương lực lượng và lễ kỷ niệm kết thúc, tôi gặp ông, giữa chúng tôi hình như có thật nhiều điều muốn nói, ánh mắt nhìn nhau nói lên tất cả, vì chúng tôi thật hiểu nhau, dù không gần nhau.
Đêm thành phố đầy sao, gió lồng lộng từ mé sông Sài Gòn thổi vào, tôi và ông ngồi ở sân thượng toà nhà cao nhất thành phố ngắm Sài Gòn lung linh trong muôn vạn ánh đèn màu. Rất gần nhau, như chính đêm trung du phương Bắc năm nào, vẫn im lặng thật lâu, nhưng hình như cả hai đều hiểu đang nghĩ về điều gì... Vẫn là ông phá tan sự im lặng.
- Mỗi người lính đi qua chiến tranh đều mang một vết thương một nỗi buồn.
Tôi thở hắt ra, như đêm phương Bắc lập lại. Giọng ông trầm xuống.
- Vết thương dù lành nhưng vết sẹo không lành được, mỗi khi trái gió nó lại tấy lên. Nỗi buồn cũng khó xoá, dù thời gian có trôi qua, nó vẫn luôn ám ảnh trong cuộc đời. Tôi là con người của quá khứ, nửa đời chinh chiến mang trong mình nhiều vết thương nhiều nỗi buồn. Tôi còn mắc nợ cuộc đời nhiều lắm, nợ với người đã khuất, nợ với người còn sống, nợ với chính mình. Trong tôi cũng có thật nhiều mâu thuẫn mà tôi không giải quyết được, nó làm tôi vướng vất, đau khổ. Tuổi trẻ của tôi đã qua rồi. Tôi hiểu chân tình dành cho tôi lớn lắm. Chúng ta hãy giữ mãi tình cảm trân trọng, yêu quí nhau như hai người tri kỷ thuộc về hai thế hệ...
Dù có thể đoán trước được những gì ông sẽ nói, tôi vẫn cảm thấy hụt hẫng. Trong tôi cứ trào lên những cảm xúc lẫn lộn tủi hờn, giận dỗi. Nhưng tôi không thể không nhận ra ông rất buồn, ánh mắt ông nói với tôi, ông không muốn nói những điều đó nhưng bắt buộc phải nói. Bản thân ông có những lời khác để nói với tôi.
Thế rồi tôi và ông kẻ Nam người Bắc, một già một trẻ, như hai người tri âm vong niên gắn kết với nhau bằng những lá thư xuyên Việt đầy tình cảm, nhưng không có một lời nào đề cập đến tình yêu. Ông vẫn luôn chúc tôi "có niềm vui", tôi hiểu ông muốn nói gì. Trái tim có tiếng nói riêng mà lý trí đôi khi không điều khiển được. Tôi đã qua tuổi 30, đã thật sự trưởng thành cả trong cuộc sống và nghề nghiệp, không ai có thể bắt tôi gạt bỏ hình ảnh ông ra khỏi tôi. Ông đã là hình ảnh in đậm trong tôi từ thời thơ ấu và khi lớn lên hình ảnh càng rõ nét, sâu đậm hơn. Không có người nào làm lu mờ hay thay thế ông trong tôi. Trái tim tôi qua thời gian thử thách, đã khẳng định tôi yêu ông, một tình yêu trọn vẹn, với tôi hạnh phúc không cứ phải được sống chung với nhau cả đời. Hạnh phúc vẫn đến, vẫn cứ tuyệt đẹp và xúc động, đó là hạnh phúc được nghĩ được nhớ về nhau. Tôi tin sẽ có một ngày chân tình của tôi sẽ làm ông cảm động. Trong tim tôi luôn có một vị tướng.

Vĩ thanh:

Tình cờ tôi được biết câu chuyện của cô nhà báo, và cũng thật tình cờ trong chuyến đi công tác lên miền trung du tôi được gặp ông tướng trong tim cô. Có lẽ cảm động vì câu chuyện tôi kể về cô cho ông nghe, có lẽ cần được chia sẻ tâm sự nặng trĩu, ông đã đưa tôi xem cuốn nhật ký. Mạn phép ông tôi trích vài đoạn, hy vọng cô nhà báo đọc được.

30.4.1995... Tôi gặp em, như một làm gió mát thổi vào tôi giữa vầu trời nóng nực mùa khô phương Nam. Một đôi mắt trong veo ngây thơ, một giọng nói Sài Gòn nhỏ nhẹ, một vóc dáng thanh xuân tươi trẻ và vẻ lúng túng bối rối... Tôi thèm được trở về tuổi 20.

Ngày... Tôi làm sao thế, tóc đã hoa râm nhưng lại vấn vương một cô gái nhỏ. Tôi nhớ em. Tôi hay mở đài, hy vọng được nghe em trên sóng phát thanh. Cám ơn nhà báo Ngọc. Tôi đã nối sợi dây với em. Những lá thư, sứ giả tuyệt vời của tôi. Em như một nàng tiên đang dần chữa lành các vết thương nỗi buồn trong tôi.

Ngày... Tôi cảm nhận được đằng sau câu chữ của em là tình cảm thiêng liêng, nhưng tôi sợ gọi tên. Tôi không dối lòng, trong tôi cũng đã nhen nhóm ngọn lửa. Nhưng tuổi tác tôi và em và còn bao nhiêu khoảng cách vô hình dư luận, xã hội... làm tôi do dự, tôi không thể. Số phận đang đánh đố tôi, thử thách tôi còn nghiệt ngã hơn ngày chiến tranh.
Đêm... Tôi biết tôi làm em buồn, thật ra tôi rất yêu em nhưng tôi không đủ dũng cảm thú nhận điều đó trước em. Tôi sợ tôi làm cuộc đời em khổ vì tôi không còn trẻ.
Đêm... 10 năm, em vẫn mang hình ảnh tôi trong em không phai nhạt. Tôi làm sao có thể thờ ơ được. Tôi không thể để em như thế. Trái tim tôi mách bảo, tôi phải dũng cảm lên, đến với em đáp lại chân tình của em, tình yêu của em dành cho tôi... Tôi yêu em.

H.H

Hồng Hà

HỒNG HÀ

Hòai Hương


Đang lang thang tìm tư liệu ở vùng biển Hạ Long, Tổng Biên tập điện thoại nhắn về tòa sọan ở Hà Nội gấp: “Có việc cần”, không thêm một lời giải thích. Trong lòng không vui lắm vì công việc bị gián đọan đúng lúc hứng thú. Lại thêm hơi thắc mắc, có việc gì mà Tổng Biên tập réo gọi khẩn cấp đến thế. Khi tôi chỉ là một phóng viên tàng tàng trong tòa báo, chẳng giữ trọng trách gì, và gần như chưa bao giờ làm việc trực tiếp với Tổng Biên tập. Chạy xe hơn 200km, về đến tòa sọan, không dám nghỉ mệt, tôi vội lên gặp Tổng Biên tập. Nhìn thấy nụ cười và gương mặt “bình yên” của ông, bao nhiêu căng thẳng trong tôi chùng lại, tan biến, dù sự hồ nghi vẫn treo lơ lửng… Thân mật vỗ vai tôi, chỉ vào bộ sa lông tiếp khách, Tổng Biên tập vui vẻ:
- Nghỉ uống nước, rồi từ từ bàn công việc, không có gì phải lo lắng.
- Anh nói liền cho em đỡ hồi hộp.
- Đơn giản thôi. Anh có một lời nhờ cậy của người bạn vong niên xa xứ, ông ta muốn giúp đỡ cho con hòan tất luận văn về Hà Nội. Trong tòa báo của ta, anh thấy cậu có đủ tài “cầm-kỳ-thi-họa”, hiểu biết nhiều về Hà Nội, hơn nữa cậu biết nói “ngôn ngữ của họ”. Cậu thay mặt giúp anh, anh cũng không biết nhờ ai hơn.
- “Ngôn ngữ của họ” là sao anh?
- Con ông bạn anh không biết nói tiếng Việt. Thôi, cậu về nghỉ. Chiều tối nay, anh và cậu cùng ra sân bay Nội Bài đón người và để cậu làm quen.
Ra khỏi phòng Tổng Biên tập, tôi vẫn chưa hết thắc mắc và thêm nỗi lo. Tôi sẽ giúp gì được cho Tổng Biên tập thực hiện nhiệm vụ khó hiểu kia đối với vị khách chưa quen biết không nói được tiếng Việt. Tự dưng đau cả đầu. Thôi, kệ. Tôi tặc lưỡi, chờ đợi trong trạng thái tò mò.
Trên đường ra sân bay, tôi được nghe giới thiệu sơ lược vị khách đặc biệt sắp đón của tôi. Một cô gái Việt Nam, sinh viên năm cuối, sinh trưởng ở nước ngòai, không biết tiếng Việt, lần đầu về Việt Nam, đang chuẩn bị tư liệu làm luận văn đề tài “Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội”. Vì bận việc, bố mẹ không đưa cô ta về được, nên nhờ bạn bè giúp đỡ. Tổng Biên tập của tôi là người bố mẹ cô ta tin cậy nhất ở Việt Nam. Và vì Tổng Biên tập cũng quá bận rộn và không thích hợp lắm công việc này, lại rất tin cậy tôi nên trao sứ mạng khó khăn này cho tôi với niềm tin tưởng tuyệt đối. Than thầm: “Một nhiệm vụ thật khó nuốt trôi”. Thôi đành “nhờ Trời”. Ghé vào quầy bán hoa, tôi chọn mua một bó hồng thật đẹp. Dù sao, khách là một cô gái. Hình như, Tổng Biên tập có vẻ hài lòng khi thấy vậy. Còn tôi, hồi hộp chờ… từng phút trôi qua.
- Cháu chào chú Nguyễn. Một giọng nói hòan tòan Hà Nội, êm mượt…
Cả tôi và Tổng Biên tập cùng quay ngang. Một thiếu nữ mảnh mai, dong dỏng cao, tóc dài loăn xoăn bồng bềnh, đôi mắt to tròn, trong veo, váy len dài mỏng màu hồng phấn, như một búp sen nõn nà, mỉm cười, nụ cười được xóay đồng tiền điểm xuyết đẹp như tranh, hướng về phía chúng tôi.
- Hồng Hà! Mấy năm rồi không gặp. Cháu đã lớn và đẹp thế sao? Và còn nói được tiếng Việt?
Một thóang phụng phịu hờn dỗi như trẻ thơ
- Chú quên cháu rồi. Còn cháu nhớ chú, nhớ chú dặn “phải” nói được tiếng Việt chú mới cho “về nha”.
Quay cái nhìn sang tôi, ánh mắt hỏi thầm “Ai đây?”
- Chú quên giới thiệu. Đây là anh Trần, phóng viên của chú, người sẽ giúp cháu tìm hiểu Hà Nội. Cháu có thể yên tâm với người hướng dẫn tuyệt vời này… Còn đây là Hồng Hà, con gái người bạn… Hai người làm quen nhau đi.
Tôi mất hẳn cái vẻ tự nhiên vốn có hàng ngày của một tên phóng viên chuyên đi bụi. Câu chữ cùng cái liến láu ứng biến trước mọi tình huống bay đâu mất. Lúng túng trao bó hoa, và như chàng ngốc tay thừa chân thừa. Em ôm bó hoa, cảm ơn tôi, nhìn thẳng vào tôi, nói chậm từng tiếng:
- Em rất vui được gặp anh. Anh sẽ đưa em đi hết Hà Nội nhé, và đừng bỏ em dọc đường.
Lúc ấy cả tôi và Tổng Biên tập súyt phì cười khi nghe em nói, nhưng sau này đi với em, tôi mới hiểu, vốn từ ngữ diễn đạt tiếng Việt của em chưa đầy đủ, nên em nói phải đóan ý mới hiểu.
Đường về Hà Nội, tôi nghe em nói chuyện với Tổng Biên tập, vừa tiếng Việt vừa tiếng nước ngòai chen nhau, những chuyện thăm hỏi tình hình cuộc sống gia đình bên này bên kia, chuyện học hành. Tôi ngồi băng ghế trước, im lặng nghe em nói, quan sát em bằng cảm giác, người lâng lâng khó tả, cộng một chút băn khoăn, tôi sẽ giúp em như thế nào đây, yêu cầu của em ra sao liệu tôi có thể làm được. Và em, cô gái Việt sinh ra trên xứ người có giọng nói Hà Nội tuyệt vời đến kỳ lạ, em đối xử với tôi ra sao.
Ngày hôm sau, tôi đến gặp em, bắt đầu vai trò “người hướng dẫn”, với lời dặn dò khá kỹ của Tổng Biên tập: “cô ta con gái cưng duy nhất, được chiều chuộng nên hơi khó tính, quen cuộc sống nước ngòai, lần đầu về Việt Nam, lạ đất lạ người, mọi cái đều chưa biết. Cậu cố gắng đừng để Hồng Hà buồn. Anh trông cậy tất cả vào cậu”. Kể từ giờ phút đó, cái tên Hồng Hà như một dòng chảy ngầm, xáo trộn cuộc sống của tôi, tâm hồn tôi, đem đến trái tim những dịu ngọt tôi không sao quên được.
Cuộc “hành trình tìm dấu vết xưa và nay Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội”, như lời nói vui của tôi và em, bắt đầu bằng những bước chân quanh Hồ Gươm. Ngay buổi sáng đầu, tôi đã nếm mùi kiểu người ngọai, mới đi vài bước chân, em đã nằng nặc đòi tôi phải đưa đi mua bản đồ Hà Nội, dù tôi nói rằng Hà Nội tôi thuộc như lòng bàn tay. Vâng, thì chiều, mua thì mua, cho em vui. Cầm bản đồ trên tay, em hỏi tôi “chỗ mình đứng là ở đâu?”. Tôi chấm một nét mực, em thích thú vẽ luôn hai hình người bé tí, một trai một gái nắm tay nhau, dợm chân bước theo chiều mũi tên dọc Hồ Gươm. Em nói đó là tôi và em… để sau này khi trở lại bên kia, em còn nhớ đã đi đến đâu cùng tôi. Chưa hết, em giao tôi một cái máy ghi âm nhỏ xíu, có dây micro bé tí ti, em bảo tôi bỏ máy vào túi áo, kẹp micro vào miệng túi, tôi có thể vừa đi vừa nói thỏai mái, em còn để dành nghe lại nhiều lần, “nghe anh nói hay lắm, em học thêm tiếng Việt, và khi để nhớ anh, em mở ra nghe…”. Tôi đã kể cho em nghe những gì liên quan đến Hồ Gươm, tại sao mang tên như thế, vì sao có cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, tháp Bút, đài Nghiên…, Tháp Rùa sao là biểu tượng của Hà Nội… Tôi còn đọc cho em nghe vài bài thơ, hát em nghe mấy khúc hát về Hồ Gươm. Lặng im bên tôi, em không nói gì. Đi giáp một vòng hồ, khi dừng chân bên tượng đài “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, nhìn sang đài Nghiên, tháp Bút, em chầm chậm nói:
- Chỉ chưa đầy 2km chu vi mà dày đặc huyền thọai, truyền thuyết, sự tích tồn tại, sống cùng trời đất nơi này. Thế thì cả Hà Nội, mỗi viên gạch, mỗi bước chân là một câu chuyện về Hà Nội. Biết bao giờ kể mới hết.
Em chợt hỏi tôi:
- Nếu cho anh tưởng tượng. Anh sẽ viết gì bằng ngọn bút “viết vào trời xanh” kia?
- Sao em hỏi khó thế. Anh chưa nghĩ kịp. Nếu là em, em viết gì?
- Em sẽ viết hết những huyền thọai, truyền thuyết, những câu chuyện xưa nay về Hà Nội, đất và người, để vĩnh viễn in trên mây trời, để bất cứ người Việt nào dù ở tận cùng trời cuối đất, nhìn lên bầu trời mây đều như thấy cả Hà Nội.
- Ý tưởng của em còn thần thọai hơn hơn cả thần thọai. Em bắt đầu thích Hà Nội chưa?
- Em thích từ hôm qua. Đường đi, trời tối không thấy gì. Nhưng em ngửi trong gió thoang thỏang mùi thơm lạ lắm. Chưa bao giờ được biết. Chú Nguyễn nói đó là mùi lúa làm sữa để tạo thành hạt thóc gạo. Hà Nội được ôm ấp bằng những ruộng lúa. Hôm nào anh đưa em đi xem lúa mọc nhé.
Ngôn ngữ của em diễn đạt rất tự nhiên làm tôi phì cười, nhưng cảm nhận của em về Hà Nội, dù chỉ mới sơ qua những giờ phút đầu đã thật tinh tế, đầy cảm xúc. Chỉ có thể có ở một tâm hồn mang sẵn tình yêu Hà Nội trong tiềm thức.
Đưa em đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám – Đó cũng là một kỷ niệm khó quên và chắc không khi nào gặp lại. Cũng như các nơi khác, tôi kể em nghe về lai lịch về ý nghĩa, những câu chuyện kể, những nhân vật ở đây. Em lắng nghe tôi nói và quan sát rất kỹ lưỡng, đặc biệt là những hàng bia đá trên lưng Rùa, chăm chú một lúc lâu, em níu tôi hỏi:
- Anh ơi, tại sao không Ông Rùa giống nhau, ông cúi đầu, ông ngoảnh mặt, ông ngóc đầu cao, ông vươn cổ, có ông to ông bé, ông nhắm mắt, ông há miệng… Ông Rùa Hồ Gươm có giống các ông Rùa ở đây? Anh có thấy trên vài tấm bia có mấy dòng chữ bị xóa, những chữ đó nói gì?
Tôi tóat mồ hôi hột, dù trời Hà Nội cuối thu se se lạnh. Tôi chưa nghe ai hỏi như thế bao giờ. Những câu hỏi của em đủ để cho mấy luận án tiến sĩ, tôi không đủ dữ liệu để trả lời các câu hỏi đó. Đành khất lại, về nhà tìm thêm tài liệu, hoặc các chuyên gia Hà Nội học để có câu trả lời cho em. Một chuyện vui đến. Có đòan khách nước ngoài, đi theo là bốn cô cậu sinh viên khoa Du lịch thực tập, vô tình tôi và em đứng lẫn với họ. Chẳng hiểu nghe các sinh viên kia nói gì, em bỗng thì thầm vào tai tôi: “mình trêu họ nhé”, rồi quay sang nói với các vị khách bên cạnh bằng ngôn ngữ của họ. Em nói những gì tôi đã kể cho em nghe về nơi này. Và như phép lạ, cả đòan khách dồn lại bao tròn xung quanh em. Khi em đi tiếp, họ tự động theo em, rồi như một trò chơi vui vẻ, tôi cũng hùa vào với em, tôi nói tiếng Việt, em dịch lại cho các vị khách, bốn cô cậu sinh viên đi cùng chỉ biết nhìn ngưỡng mộ. Hết một vòng Văn Miếu – Quốc Tử Giám, đòan khách thích thú bởi được biết nhiều hơn những gì họ nghĩ, bốn cô cậu sinh viên kia rụt rè: “Anh chị là…?” Em cười thật tươi, nắm chặt tay tôi, nói đúng giọng Hà Nội cứ êm mượt dịu nhẹ, nhưng không giấu nổi vẻ hãnh diện hơi trẻ con: “Anh chị là người Hà Nội”… Còn tôi, cái cảm giác được làm “guide tour” đặc biệt bên cạnh em, một cô gái cũng thật đặc biệt, thật khó diễn tả thành lời.
“Gió đưa cành trúc la đà/ Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương/ Mịt mù khói tỏa ngàn sương/ Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ…”
Em mơ màng:
- Hồi bé, em thường nghe mẹ đọc, rồi ngân nga như hát, em không hiểu, nhưng nghe rất du dương, sau này hỏi mẹ, mẹ nói đó là câu hát về quê hương, là nhà của mẹ. Em “về nhà”, nhưng chưa biết, anh đưa em đi nhé.
Tôi đã đưa em đến nơi câu ca dao nằm lòng của Hà Nội xưa, giải thích cặn kẽ ý nghĩa câu ca, những địa danh một thời vang bóng. Và may mà trong ồn ào quay cuồng của thời “kinh tế thị trường” hôm nay, nơi ấy vẫn còn giữ được phảng phất hồn xưa bóng cổ. Nhưng có lẽ tôi phải cảm ơn em, chính em đã đánh thức trong tôi những góc kín bị che lấp, chai mòn bởi cuộc sống phù phiếm, bon chen vật vã nghiệt ngã, tình cảm với Hà Nội nhen nhóm lại như ngọn lửa ấm áp, những tưởng đã bị tắt đi không còn cảm xúc gì với các giá trị tinh thần mà thời buổi này bị xếp như một thứ xa xỉ phẩm trong bảo tàng. Em, cô gái Việt sinh ra và lớn lên ở xứ người, mỗi bước chân “về nhà” lần đầu, như em hay nói, chỉ biết Hà Nội qua lời bố mẹ kể trong ký ức và hồi niệm, thế mà em đắm say từng viên gạch lát đường phố cổ, em si mê những vòm lá đan nhau che ô những vỉa hè, em say sưa với những huyền thọai, truyền thuyết về Hà Nội cả nghìn năm tuổi tinh tế, sâu sắc đến lạ lùng.
Một chiều ngắm hòang hôn trên bờ đê Sông Hồng. Mùa nước lớn, con sông đỏ ngầu, sóng cồn lớp lớp đuổi nhau cuốn băng băng, nhìn dòng sông vừa hoang dại vừa dũng mãnh trái ngược với những hàng tre xanh ngắt hiền hòa bao bọc các thôn làng ven sông. Ngồi giữa vuông cỏ mượt bờ đê, em ngây ngất ngắm vẻ đẹp dữ dội của sông, cạnh bên chỗ tôi và em là mấy chú bò thong thả gặm cỏ, lơ đãng nhìn mặt trời rơi xuống bên kia dãy núi xa mờ. Em từ từ khép hờ đôi mắt… Và nói thầm thì:
- Anh có thấy trong gió mùi thơm không. Em nhớ rồi. Mùi của lúa làm sữa ngậm hạt, còn có cả mùi ngô non thơm mát.
Bất ngờ, em ôm lấy tôi.
- Em hạnh phúc quá. Em đã có quê hương không chỉ là qua lời mẹ. Em thích tên em Hồng Hà… Là Sông Hồng, là Hà Nội… Anh Trần, em ước được như anh, được sống ở Hà Nội.
Bố mẹ em là người Hà Nội, lưu lạc xứ người non nửa thế kỷ, tất cả tình yêu Hà Nội, ký ức về quê nhà họ dồn vào cô con gái xinh đẹp Hồng Hà như một mơ ước Hà Nội thuở ấu thơ, như trái tim họ luôn hướng về Hà Nội.
- Bố mẹ em hay kể cho em nghe về Hà Nội, em có hình dung trong trí tưởng tượng Hà Nội như một kinh thành cổ đầy bí mật, có lúc như một pháo đài kiên cường không chịu khuất phục kẻ thù nào, có khi Hà Nội trong em đẹp như bài thơ… nhưng em không thể tưởng tượng Hà Nội thật sự có hình dáng ra sao. Em rất muốn biết Hà Nội thật, mấy năm trước chú Nguyễn qua chơi, nói em phải học tiếng Việt mới cho “về nhà” về Hà Nội. Khi em chọn đề tài cho luận văn – Hà Nội là cái tên cháy bỏng trong em. Em là người Hà Nội, em phải “về nhà”. Em yêu Hà Nội. Em yêu anh nữa.
Tôi như bị cuốn vào dòng cảm xúc của em. Tôi không cảm thấy khỏang cách xa lạ với em, một Việt kiều, mà gần gũi, thân quen, như em và tôi cùng sinh ra lớn lên, cùng uống chung dòng nước sông Hồng, cùng tắm mình trong hồn phố Hà Nội của họa, của thơ, của nhạc, của những tâm hồn từ ngày đầu trong giấc mơ “Rồng bay”, Thăng Long nghìn năm trước.
Hồng Hà… Em cũng là một dòng sông trong tôi, riêng của tôi lúc này.
Bốn tuần lễ trôi qua nhanh như một nhịp thở, khi em nói với tôi chỉ còn hai ngày nữa là em phải xa Hà Nội, trở lại bên kia. Tôi như người bị hụt hơi, hình như tôi sắp mất cái gì quý giá… Thời gian đưa em đi khắp Hà Nội không tồn tại, tôi quên mất quy luật khắc nghiệt, cứ ngỡ không có ngày và đêm… Thôi đành… tim tôi đập chậm lại.
Ngày cuối, em ngỏ ý muốn được đến ngôi nhà của tôi, một ngôi nhà ngói theo kiến trúc xưa ở ngọai thành Hà Nội, có vườn cây và rất nhiều hoa. Đó cũng là những khỏang khắc thơ mộng tuyệt vời của tôi và em trước lúc xa. Vườn đang mùa quả, táo, ổi, hồng, na… trĩu cành, tỏa mùi thơm, tiếng chim ríu rít rộn ràng. Em hồn nhiên như một cô bé chạy từ gốc cây này sang gốc cây kia, sờ vào gốc một tí, hoặc vuốt vào cành lá một tẹo, khi nghiêng ngó gì đó trong tàn lá, còn tôi cũng như trở về cái tuổi 13, 14 trèo cây hái quả cho em ăn, với niềm vui thích không tả được. Em vừa ăn quả, vừa chạy quanh gốc cây, vừa nói: “Hà Nội vườn anh ăn ngon quá. Ước gì em được thế này mãi”… Một thóang thẫn thờ trong tôi. “Ừ… ước gì cứ thế này…”. Tôi lấy đàn ra, ngồi cạnh gốc táo lúc lỉu quả thơm lừng, em tay cầm một nhánh lá hương nhu ngồi bên tôi. Tôi hát tặng em như món quà nhỏ. Bài hát “Người Hà Nội”, “Em ơi Hà Nội phố” và nhiều bài hát về Hà Nội. Tôi muốn em sẽ đem sang bên kia đại dương cả những giai điệu Hà Nội, và một ước muốn thầm kín, muốn em nhớ đến tôi mỗi khi nghe đâu đó những giai điệu Hà Nội đắm say này. Em bên tôi, đôi mắt to tròn trong veo như trẻ thơ, nhìn hút vào tôi. Cảm giác như không phải em nghe bằng tai, mà là em đang thu trọn cả tôi, cả khu vườn, cả những giai điệu ca từ về Hà Nội thấm vào trong em. Em nghe bằng trái tim… Em đã cảm nhận được tình tôi… Hồng Hà. Em là dòng sông làm tim tôi dậy sóng.
Chia tay trên sân ga, em cứ ôm riết lấy tôi, níu tôi không buông ra, bất chấp nhiều cái nhìn hiếu kỳ của mọi người xung quanh, bất chấp tiếng loa của hãng hàng không nhắc hành khách mau hòan tất thủ tục, sắp đến giờ khởi hành. Tôi lúng túng đưa mắt cầu cứu Tổng Biên tập, trong lòng thật sự muốn thời gian đừng trôi. Tổng Biên tập của tôi phải tốn khá nhiều lời động viên thuyết phục và hứa hẹn… em mới chịu rời tôi ra. Suốt bốn tuần đi với em, tôi luôn thấy nụ cười của em, giờ đây đôi mắt to tròn của em ngập đầy nước mắt…
Thư em từ bên kia đại dương: “Anh Trần… Em nhớ Hà Nội. Em nhớ anh. Em nhớ Hà Nội. Em yêu anh…”
Còn tôi – Hồng Hà, dòng sông chảy ngầm trong tim tôi. Tôi cũng nhớ em. Nhớ hình vẽ hai người tay trong tay nhau vòng quanh Hà Nội trên tấm bảng đồ. Nhớ những câu hỏi kỳ lạ của em về Hà Nội. Nhớ nụ cười có cái xóay đồng tiền đóng dấu trong tôi. nhớ đôi mắt to tròn trong veo như trẻ thơ hút hồn tôi. và tôi nhớ đến ngẩn ngơ giọng em, giọng nói Hà Nội êm mượt dịu nhẹ đến lạ lùng không giống bất kỳ ai của em.
Ngày kia, đọc trên báo: “một nữ sinh Việt kiều, tên Hồng Hà đã bảo vệ xuất sắc và thành công luận văn thạc sĩ mang tên Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội – Tình yêu của tôi” làm kinh ngạc cả Ban Giám Khảo và cử tọa tham dự. Nhiều Việt kiều đã không cầm được nước mắt vì xúc động. Khi trả lời phỏng vấn báo chí: “Tôi không sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Nhưng tôi mang dòng máu người Hà Nội, người Việt Nam, Hà Nội là quê hương tôi, nhà của tôi, là niềm tự hào của tôi. Hà Nội còn có tình yêu của tôi – một chàng trai Hà Nội…”
Hồng Hà ơi… tôi biết, tôi hiểu em… Tôi mong em trở về… “về nhà” như cách nói của em. Em cũng đã ở trong trái tim tôi… Là tình yêu của tôi ./.



H.H.
Ý kiến bạn đọc truyện ngắn Hồng Hà trên VietnamNet

Bài viết thật tuyệt vời. Đây không phải là văn thuần túy nữa, mà là tâm hồn, là cảm xúc thực sự. Tôi tin câu chuyện này có thực. Tôi yêu Hà nội. Cảm ơn tác giả.m hoang, ha noi , gửi lúc 10/08/2009 22:35:57
Đọc bài viết của tác giả tôi thật xúc động, bởi Hà Nội cũng ở trong trái tim tôi. Tôi nhớ Hà Nội, nhớ bao kỷ niệm của thời sinh viên, nhớ Hồ Gươm một buổi chiều ngồi bên anh... Khi ra trường, chúng tôi phải tạm xa nhau, mỗi người một nơi nhưng tôi luôn tin vào ngày hạnh phúc. Chúng tôi cùng yêu Hà Nội - Hà Nội bình yên, mặt hồ phẳng lặng, "vườn hoa Nhổn" tươi xanh...Đào Thùy Dương, Phổ Yên - Thái Nguyên , gửi lúc 10/08/2009 08:50:36
Tôi thích cách nhìn cách cảm lãng mạn về cuộc sống trên những trang viết này. Có lẽ nó là một khoảng lặng để thanh lọc tâm hồn. Tôi vẫn nhớ lời cô giáo dạy văn của tôi thường nói "Tâm hồn người viết phải trong trẻo lắm mới rung động và cảm nhận cs chân thành và nồng nàn đến thế".Lệ Nguyên, Hà Tây , gửi lúc 09/08/2009 22:07:10
Rất cám ơn bài viết của bạn, nó rất thật và sinh động. Nó làm Tôi càng thêm yêu Hà Nội mặc dù Tôi chưa từng đến Hà Nội bao giờ. Hai từ Hà Nội là một cái gì rất yêu thương trong tìm thức của Tôi mà Tôi chưa bao giờ cảm nhận được từ khi Tôi được sinh ra cho đến khi Tôi phát hiện mình yêu một cô gái Hà nội như bạn và Tôi đã có hoạch cho chuyến viếng thăm Hanoi của bạn trong tương lai gần. Còn chờ gì nữa, bạn hãy nói với cô ấy :"And I love you, too". Chúc tình yêu của bạn có kết thúc tốt đẹp.Tien Nguyen, USA , gửi lúc 09/08/2009 11:39:00
oi bài viết của anh cảm động quá.em chưa ra Hà Nội lần nào cả.Sau này nhất định em sẽ đến thăm Hà Nội,phan hoàng mỹ khuyên, lâm đồng , gửi lúc 09/08/2009 09:59:09
Cám ơn cháu Đọc hết bài của cháu bỗng hai giọt nước mắt chợt lăn ra. Bài viết thật đẹp, thật xúc động. Hà Nội thật đẹp. Chúc cháu hạnh phúc.Nam Hoàng, gửi lúc 09/08/2009 08:56:36
Bài viết rất xúc động. Hà Nội đầy huyền thoại, cảnh đẹp và tình yêu. Cảm ơn tác giả.Nguyễn Văn Soạn, Hà nội , gửi lúc 09/08/2009 08:55:28
Bài viết của bạn thực sự rất cuốn hút.Tôi thấy hà nội thấy hà nội thật đẹp,và bạn thật tinh tế khi đã chỉ ra những vẻ đẹp kính cổ kính của hà nội trong thời buổi kinh tế thi trường hien nay.Cũng cùng y kien nhu bạn Le phuong Lan.Tình yêu của người Hà Nội thật nồng nàn,sâu lắng...Chúc ban có 1 tình yêu đẹp!Luong Hoai Ninh, hai phong , gửi lúc 08/08/2009 22:43:28
hà nội luôn ở trong trái tim tôi. tôi yêu hà nội..thai duong, gửi lúc 08/08/2009 21:32:40
đậm đà+ sâu sắc + đầy ý nghĩa => thật là đi sâu vào lòng người, tuyệ vời đó. Tác gải ơi! cảm ơn nhiều. cao văn thức, nghe an , gửi lúc 08/08/2009 21:23.00
Tac gia bao nhieu tuoi ma lam trai tim gia nay xuc dong qua!.tuong.phohue, dong da , gửi lúc 08/08/2009 15:16:29
cảm ơn Hồng Hà ! cảm ơn tác giả của bài viết! tôi thật sự xúc động và dường như bị cuốn hút theo những dòng cảm xúc đó. Tôi cứ tưởng mình là người trong cuộc. Chúc tình yêu của hai bạn đẹp mãi và chúc hai bạn sớm gặp lại nhau..phan thi thu huong, ha tinh , gửi lúc 08/08/2009 14:27:59
Cam on ban da cho toi nhung cam xuc rat chan that . Toi se len Ha Noi.Luong Thu Phuong, So18 Mi Hung thanh pho Ho Chi Minh , gửi lúc 08/08/2009 12:31:15
Bài viết rất xúc động.rất cám ơn bạn.mình chỉ đến HN được 1 lần trong thời gian ngắn.chưa có cơ hội tìm hiểu nơi này.nhưng qua văn thơ,hình ảnh rất thích HN.chúc tình yêu của bạn có kết thúc thật đẹp !Anh Tuấn, Đà Nẵn , gửi lúc 08/08/2009 09:45:01
Cảm ơn tác giả bài viết, bài viết thật xúc động! tôi yêu Hà Nội và cuối ngày hay lang thang tại những con đường như một thói quen, và cũng yêu một chàng trai Hà Nội - tình yêu với Hà Nội và người Hà Nội rất đẹp và sâu lắng.Le Phuong Lan, Hưng Yên , gửi lúc 08/08/2009 08:35:40
Đã lâu tôi mới đọc 1 bài cuốn hút đến thế. Nó không chỉ tạo cảm giác gần gũi thân thương mà còn thấy đuợc truyền thông ngàn đời của Thủ đô Hà Nội. Rất hãnh diện và cảm ơn tác giả.Tran Hung, Ha Noi , gửi lúc 08/08/2009 03:09:17
Ha Noi dep, tinh yeu dep.....ngoc, hn , gửi lúc 08/08/2009 00:55:16
Tôi chưa từng đến Hà Nội nhưng không hiểu sao tôi đã rất thích Hà Nội, tôi yêu từng con đường, góc phố ở Hà Nội, yêu Hồ Gươm, yêu ... , tôi yêu chúng qua thơ văn, qua sách báo , qua mạng internet và tôi yêu cả con người nơi đó, tôi muốn được đến đó. Đọc bài viết của bạn càng làm cho tôi yêu Hà Nội hơn, chắc chắn Hà Nội rất đẹp, đẹp lắm, và chắc chắn sẽ có một ngày tôi đến với Hà Nội .tuyenthanh, dl , gửi lúc 07/08/2009 23:24:03
Tôi không phải là người Hà Nội. Là một hướng dẫn viên du lịch, được đi rất nhiều nơi trên đất nước Việt Nam nhưng chưa một lần đặt chân ra đến Hà Nội. Vẫn biết Hà Nội với vẻ đẹp thơ mộng đã đi vào trong thơ ca nhưng sau khi đọc bài viết này tôi thật sự cảm ơn vì bạn đã mang một cảm giác khó tả đến với tôi khi tôi nghĩ về Hà Nội. Xin chúc mừng tình yêu của bạn, chúc bạn sẽ giữ mãi tình yêu của mình.xuân tâm, nha trang - khánh hòa , gửi lúc 07/08/2009 20:28:41
Tôi thực sự không phải là Người Hà nội ,nhưng khi đọc bài báo này tôi không khỏi nghĩ mình luôn là người Hà nội !Nguyễn Bá Khang -Hải quan Thái bình.Đào Ngọc Hà, Thái Bình , gửi lúc 07/08/2009 16:10:26
bài viết rất " Tình", cảm ơn tác giả..Đỗ Việt Anh, Ha Nội , gửi lúc 07/08/2009 16:04:59
Cảm ơn bạn! bạn làm tôi rất bâng khuâng khó tả ...tôi cũng đã có kỷ niệm như thế về Hà Nội, về con gái HN. Thật dễ thương. Tiếc rằng kỷ niệm đó của tôi đã lùi xa trên 10 năm. Nhưng mãi mãi tôi sẽ không bao giờ quên, về tất cả.......TTS, hung yen , gửi lúc 07/08/2009 15:42:23
Toi doc di doc lai ma van hay,mot tinh yeu son sac mot Ha Noi ngan nam.cam on tac gia,cam on vietnamnet,hi vong toi se duoc doc nhieu bai viet hay nhu the nay nua!.Dau Trong Mung, Nghe An , gửi lúc 07/08/2009 14:32:29
Bạn biết không, tôi cũng yêu Hà Nội lắm. Tình yêu đó nó cứ cháy mãi trong tôi, có những lúc tôi nhớ và yêu, tôi chạy xe 60 cây số, để được ngắm Hà Nội một lúc, xong tôi lại về. Vì vậy khi đọc bài viết của bạn, tôi lại càng nhớ Hà Nội hơn bao giờ hết và tôi thèm được "yêu", một tình yêu đẹp. Xin cảm ơn bạn..Hà Anh, Vĩnh Phúc , gửi lúc 07/08/2009 13:57:18
Một bài viết tuyệt hay và cảm động.Trịnh văn hải, Long biên - hà nội , gửi lúc 07/08/2009 13:29:07
Bai viet hay, doc thay cung phe nhung phai viet la " Tour guide " nhe, dung viet " Guide tour " .hihi.Thai Thanh, Tp HCM , gửi lúc 07/08/2009 12:50:25
Cam on ban.Bai viet hay qua,khi doc bai viet cua ban lam song day trong toi tinh yeu Ha noi.thi hong Thinh, Ha noi , gửi lúc 07/08/2009 11:57:15
Một bài viết quá tuyệt vời. Một tác phẩm mà tôi như được dẫn dắt, lôi cuốn một cách lạ kỳ, tôi như được thả hồn, hoà mình trong những hình ảnh và cảm xúc về Hà Nội, tình yêu về quê hương và về Hà Nội thật lớn lao. Cảm ơn tác giả. Cảm ơn người biên tập bài báo này.Hoang Tat Thang, Ha Noi , gửi lúc 07/08/2009 09:21:28
Bài viết hay, giầu cảm xúc về Hà Nội và ta cảm nhận được một tình yêu vừa mới chớm nở thật trong sáng và lãng mạn. Xin cảm ơn tác giả đã cho chúng ta được sống lại với những ký ức thanh bình, dịu dàng và nét văn hoá của Hà Nội xưa.Phạm Văn Hồng, TP Hải Dương , gửi lúc 07/08/2009 08:00:59
Bạn ơi hay lắm câu chuyện cảm động qua'!girl_hayuocmo_vahyvong2512, vinh- nghe an , gửi lúc 06/08/2009 22:16:02
Năm sau Tôi sẽ đến HÀ NỘI. Nơi đã lâu tôi mong mình đến đó, để cảm nhận HN bằng tất cả cảm xúc. Hà Nội mùa thu 2010^^hoatulip_usd89, long an , gửi lúc 06/08/2009 20:26:36
Bài viết rất hay thể hiện được tình yêu của mỗi người về hà nội- mảnh đất ngàn năm văn hiến.lê minh nhân, NGHE AN , gửi lúc 06/08/2009 17:40:57
Bài viết rất hay và xúc động. Xúc động vì đâu đ1o còn có tình yêu vượt ko gian và thời gian.pham nguyen thuy vy, hcm , gửi lúc 06/08/2009 11:51:41
Đọc bài viết này minh càng thêm yêu Hà Nội, cảm ơn bạn nhiều!Lê Thanh Trường, 135 Hàm Tử Quan_HK_HN , gửi lúc 06/08/2009 11:01:44
Bài viết đầy cảm xúc, sâu lắng, khi tôi đọc nó, tôi cảm nhận được Tình Yêu Hà Nội, nó lan truyền sang tôi, mặc dù tôi không phải người Hà Nội. Gắn Tình yêu Quê Hương với tình Yêu con người, đó là Hà Nội là Việt Nam là Hồng Hà - em là dòng sông làm tim tôi dậy sóng.Nguyễn Quỳnh Nha, Cầu Giấy - Hà Nội , gửi lúc 06/08/2009 10:26:51
Cảm ơn bài viết rất hay của tác giả, tuy chưa một lần đặt chân đến Hà Nội-trái tim của đất nước nhưng tôi cảm nhận một Hà Nội hiện đại và cổ kính. đã bao lần tôi ao ước được ra thăm Hà Nội nơi mà có rất nhiều "huyền thọai, truyền thuyết, sự tích tồn tại".tran thi anh thi, dong thap , gửi lúc 06/08/2009 09:55:48
Khởi đầu một ngày mới trong tiết trời mát lành của mùa thu Hà Nội, em đọc được bài viết của anh bỗng dưng em thấy mình càng yêu Hà Nội biết bao. Dù em không là một người con Hà Nội gốc, sinh ra ở ngoại thành, và chỉ biết đến Hà Nội khoảng 5 năm nay nhưng suốt quãng đời sinh viên em đã cố gắng đi hết Hà Nội, thu lại trong tim mình những mùa hoa ban, hoa sưa, mùa bằng lăng trổ lá, mùa sen Hồ Tây và những đêm hoa sữa. Mỗi lần được đứng trên cầu Long Biên nghe bài hát "Mãi vẫn là tuổi thơ tôi Hà Nội" lòng em lại bâng khuâng khó tả, ước gì một lần được trải qua tuổi thơ Hà Nội. Cảm ơn anh và chúc mừng anh chị một tình yêu đẹp và vĩnh cửu như Hà Nội trong tim.Hoàng Hải Sơn, Hà Nội, gửi lúc 10/10/2009 08:43:32
Hẳn là bạn rất yêu quê hưong, yêu HN ....linhtinh_linh21, BL, gửi lúc 10/10/2009 08:02:45
Bình yên tôi ơi!trần thanh hiên, Hà Nội, gửi lúc 10/10/2009 07:52:26
Xuc dong qua! Toi khong duoc sinh ra tai Ha noi nhung phan lon thoi gian toi toi lon len o Ha noi va co le cai hon cua Ha noi da ngam vao trong toi. Toi yeu Ha Noi! Va duong nhu trong cai the gioi hien dai ngay nay nguoi ta quen di mat cai dieu thieng lieng do dong chay cua cuoc song, cua su muu sinh, cua mieng com manh ao,... Nhung cai hon do no luon luon hien huu manh liet trong mau cua moi nguoi Ha noi, toi luon cam nhan thay cai ve tho mong ma hung trang, cai hien dai ma co kinh cua Ha noi. Toi yeu Ha noi! Yeu Van Hoa Ha noi! Yeu nguoi Ha noi!Park tien sinh, china, gửi lúc 10/10/2009 06:12:14
Tôi thấy thật dễ chịu, bạn viết rất hay.Hồng Vân, Phố Nguyễn Văn Trỗi - HN, gửi lúc 10/10/2009 17:58:19
Thật xúc động! Đọc xong bài viết của bạn tôi thấy yêu HN hơn. Nhưng khoảng lặng trong con người HN, nhưng buổi sáng dạo quanh bờ hồ Hoàn Kiếm, nhưng buổi chiều đi trên con đường Thanh Niên ngắm hoàng hôn xa phía hồ Tây, rồi những tối ngồi trước Nhà hát Lớn nhìn dòng người qua lại. Một chút hương hoa sữa cuối thu, điaọ quanh nhưng con phố, thấy lòng mình thật thanh thản. Những điều giản dị nhất và cũng là nhưng điều thiêng liêng nhất. Cảm ơn tác giả đã cho tôi có lại cảm xúc này.Xuân Trường, BKHN, gửi lúc 10/10/2009 16:36:41
chà! Hà Nội hay như thế này, phải cố gắng tới mới được.trần văn lâu, sài gòn, gửi lúc 10/10/2009 15:40:34
Đây là một trong nhưng câu chuyện tình hay mà nhẹ nhàng nhất mà tôi đã nghe trên Blogradio đấy.Tác giả viết hay lắm.Câu chuyện lại viết về Hà Nội nữa chứ.Rất tuyệt!Ngô Ngọc Thương, Hà Nội, gửi lúc 10/10/2009 11:07:53
Bài viết hay quá, nỗi nhớ !moonlight148, Số 38 - Ngõ 172 - Ngách 55- Đường Âu Cơ - P. Tứ Liên - Q. Tây Hồ - Hà Nội, gửi lúc 10/10/2009 11:02:20
Toi tim thay mot Ha Noi ma minh van hang mo tuong: nhe nhang, thanh cao nhung dam tham va lang sau. Co le neu khong co cau chuyen nay toi se dua y nghi cua minh di xa Ha Noi. Boi luc nay day co qua nhieu thu xo bo, nhung on ao, bon chen dang dien ra ngay cang nhieu. Cau chuyen da keo toi lai gan Ha Noi, yeu Ha Noi hon. Cau chuyen cung lam toi nho den mot nguoi, tinh yeu cua toi........Huong Le, nick: conmaibennhau2006, gửi lúc 10/10/2009 23:12:24
Đẹp như một giấc mơ.người cô đơn, gửi lúc 10/10/2009 22:13:05
Một cảm giác thật khó diễn tả khi đọc bài viết này, Cám ơn thật nhiều vì đã cho tôi sống lại những ký ức và kỷ niệm đẹp về Hà Nội. Tuy đang sống và làm việc tại Sài Gòn nhưng mỗi khi trời se lạnh hay chợt nghe một ca khúc về Hà Nội là tôi lại thấy thêm yêu mảnh đất nghìn năm văn hiến. " Hồng Hà ơi, em đã ở trong trái tim tôi"Nguyễn Long Hải, 105 Tô Hiệu-Nghĩa Đô-Cầu Giấy-Hà Nội, gửi lúc 10/10/2009 21:19:13
Một nỗi nhớ,một tình yêu đc bắt đầu và chia xa ở Hn.Và đc nâng lên thành cảm xúc vang vọng tựa đáy lòng 2 người.lambertlary, Long An, gửi lúc 10/10/2009 20:48:30
Lạ quá. Đọc bài viết này thấy nhớ anh.Nhớ những chủ nhật được về với anh. Nỗi nhớ cứ xoáy vào tâm trí em, nhớ quay quắt, nhớ da diết. Mới hôm qua còn ở HN, còn bên anh, còn được xiết chặt tay anh, vậy mà giờ thì sao? Anh đã bước đi xa em, không trở lại.Anh rời bỏ em, để em lại trong cô đơn, mòn mỏi ngóng trông. Thật quá khó cho em trong những ngày sắp tới...em phải đối diện với nỗi nhớ anh, với những kỉ niệm chỉ còn lại trong kí ức...Đúng là yêu thì chỉ có một lí do là yêu còn chia tay thì có cả tỉ lí do khác...Xa anh rồi, một mình em, 1 căn phòng...sao cô đơn và trống trải kì lạ.Em ko muốn tin đến bạn bè,ko muốn chạy theo những xô bồ hối hả ngoài kia...Em muốn bình lặng, muốn bình yên,, muốn một mình để mãi đắm chìm trong những kỉ niệm của 2 đứa...Em nhớ anh.PL, QN, gửi lúc 10/10/2009 18:47:15

Tôi chợt nhận ra trái tim mình còn đang đập những nhịp đập yêu thương.
Tôi yêu HN và mong một ngày "Ông Già" trở lại.Nhóc Con Dại Khờ, HN, gửi lúc 11/10/2009 11:54:01
Một câu chuyện xúc động, nhẹ nhàng, một tình yêu Hà Nội giản dị, thiết tha.
Tôi cũng rất yêu Hà Nội, nhớ Hà Nội tại một nơi xa xôi không có mùa thu tuyệt đẹp. Câu chuyện làm tôi nhớ về những góc phố, con đường nơi tôi đã đi qua, nơi chứa đựng tình yêu thầm kín của tôi.Hà Nội ơi!Nhớ quá.Ngô Len, Hồ Chí Minh, gửi lúc 11/10/2009 09:33:10
"Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn", có lẽ khi chưa đi xa sẽ khó mà cảm nhận hết sự gắn bó với mảnh đất mình đang sống, hội ngộ và chia li là không thể tránh khỏi trong cuộc đời, ra đi để có ngày trở về, để lại được đốt cháy lên bao cảm xúc ghìm nén trong lòng, sẽ vỡ òa ra khi chạm chân lên mảnh đất quê hương, khi nắm chặt đôi tay người yêu sau những tháng năm xa cách.
Cảm ơn tác giả, câu chuyện thật hay.Chien Nguyen, gửi lúc 11/10/2009 06:37:00
toi la mot nguoi sinh ra va lon len o Ha noi...toi da xa Ha noi..va toi biet cam giac yeu Ha noi ,yeu ho tay,yeu ho guom va nhung con duong day hoa sua...toi hanh phuc vi gio day ben toi co em va Ha noi....duong tron, 2 trang thi ha noi, gửi lúc 11/10/2009 00:54:32
Bai viet cua ban rat hay , lam toi cung co cam xuc nhung khong bang ban, vi ban da duoc dua co gai goc Ha Noi nhung sinh ra o xua nguoi kia. Nhung toi rat vui vi o dau do van co nguoi con nho den Que Huong Dat Nuoc Viet Nam.Tran Trong Thuan, Hoc Mon - TP.HCM, gửi lúc 06/02/2010 12:56:20
Bài viết hay thật. Tôi cũng có một cảm xúc về Hồng Hà nhưng không diễn cảm được. Cám ơn tác giả.Kim Nhật, gửi lúc 03/02/2010 15:47:36
Đọc bài này của bạn mình rất chăm chú, mình thích những câu tả về Hà Nội, mình thích cả những chi tiết diễn biến tình cảm. Mình đọc mà mình cứ ngỡ mình đang sống trong truyện vây. Cảm ơn Tác giả nhiều
...
Hà Nội nhẹ trong chiều thu tản nắng
Bóng chiều hôm hiu hắt cuối chân trời
Tôi nhớ em, nhớ Hà Nội về tối
Nhớ bóng ai in đậm bước anh về

Hà Nội còn đó, mùa thu và nỗi nhớ
Vẫn cành đa bên nghiên bút cạnh hồ
Vẫn còn đó Hồ Gươm ngàn năm trước
Vẫn còn đây... tình yêu anh, Hà Nội

H2nd.Đinh Văn Hùng, Hà Nội, gửi lúc 01/10/2009 12:26:07
Trời ơi. giật cả mình, tui cũng HồnghHà nè.
Tưởng là của tui nữa chứ.CHúc các bạn có ngày làm việc và học tập thật vui vẻ, hạnh phúc và ý nghĩa.Hà Võ, TPHCM, gửi lúc 23/09/2009 10:00:38
That hay. Toi cam nhan duoc HaNoi, cam thay yeu Ha Noi. va hon het la mot tinh yeu that dep, trong sang va thuan khiet biet bao. chuc ban se hanh phuc!nguyen thi hang, Thai Nguyen, gửi lúc 19/09/2009 16:25:03
Chưa một lần đến Hà Nội, nhưng qua truyện này tôi thấy yêu HN làm sao! Chắc chắn một ngày không xa sẽ đến!maidacminh, Thủ Đức , gửi lúc 23/08/2009 17:48:00
Tuyệt thật. Tôi có cùng cảm giác như khi đọc "Dưới bóng hoàng lan" của Thạch Lam. Câu chuyện thật đẹp và lãng mạn trong thời hiện đại. Mong rằng chuyện này là thực và có 1 kết thúc có hậu cho bạn. Tôi cũng là 1 người Hà Nội, tôi đã từng bất bình vì những việc làm chưa tốt ở Hà Nội nhưng quả thực bài viết của bạn làm tôi quên đi những bất bình và thấy yêu thành phố của mình hơn. Tôi có dự định khi trở về nước sẽ chuyển công tác vào Sài Gòn, và tôi chưa biết được liệu mình có vượt qua được cảm giác mãi mãi xa Hà Nội không.

Tôi yêu Hà Nội, mỗi sớm mùa thu
Soi nghiêng mặt hồ, xanh biếc trời mây...............M. Tuan, Australia, gửi lúc 23/08/2009 09:17:02
Cảm ơn đã cho tôi cảm giác thất đẹp về Hà Nội phố phường đông đúc!lại quý cẩn , hải phòng, gửi lúc 17/08/2009 12:16:02
Bài viết thật tuyệt vời. Đây không phải là văn thuần túy nữa, mà là tâm hồn, là cảm xúc thực sự. Tôi tin câu chuyện này có thực. Tôi yêu Hà nội. Cảm ơn tác giả. m hoang, ha noi, gửi lúc 10/08/2009 22:35:57

Mây tình Sa Pa

MÂY TÌNH SAPA

Hoài Hương


Trong toa ăn treo rèm nhung và ghế đệm đỏ của tàu Victoria Express từ Hà Nội đi Lào Cai – SaPa, tôi thấy em như từ bức tranh xưa bước ra, có gì đó đối nghịch với những đồ dùng sang trọng, bóng lóang, bày biện trên cái bàn ăn trước mặt em và những người khách nước ngoài ngồi cùng bàn. Nhưng cũng thật lạ, em thành thạo cầm cái này lên, đặt cái kia xuống, thỉng thỏang nói vài câu ngắn với mấy vị khách xung quanh phong thái vừa tự nhiên, vừa sang cả kiểu cách. Gương mặt em là lạ, đôi mắt sẫm màu, hàng mi dài cong rợp mắt, nét nhìn huyền bí, mênh mông sâu thẳm, sẵn sàng nhấn chìm bất kỳ ai. Và tôi đang sắp muốn chìm khi bắt gặp ánh nhìn của em lướt qua tôi. Đôi môi em hồng hồng, mỗi khi cười lộ hàm răng đều tăm tắp và một vòng xoáy đồng tiền xinh xinh trên má trái. Ở em tóat ra vẻ đẹp hoang sơ mộc mạc của gái miền rừng, xen vào nét duyên dáng thanh lịch của thiếu nữ con nhà quyền quý nơi phố thị. Tất cả những điều đó, ngay từ đầu đã gây cho tôi sự chú ý, đôi lúc hơi quá mức, may là chưa mất lịch sự.

Tôi là nhà báo biết sơ sơ và ham mê chụp ảnh, mê vài “món” hơi kén đối tượng – nhạc cổ điển, đồ họa mỹ thuật xưa và đặc biệt các huyền thoại cổ tích. Không hiểu từ nguồn nào, mà ông chủ khách sạn Victoria, đồng chủ nhân tàu Victoria Express đã mời đích danh tôi làm khách của ông, đồng thời giúp ông làm một bộ sưu tập ảnh dùng để quảng cáo những dịch vụ cao cấp của khách sạn phục vụ khách du lịch lên Sapa. Bắt gặp người đẹp như tranh xưa trong khung cảnh lãng mạn, lại thêm lơ mơ bởi tác dụng của hai ly rượu vang đỏ, cái đầu hay tưởng tượng của tôi tung ra hàng lọat câu hỏi, nhưng chẳng có câu trả lời nào đáng thuyết phục. Chợt đến lúc cảm thấy một sự im lặng, tôi sực tỉnh, chớp mắt liên tục để xem mình mơ hay tỉnh. Em và cả nhóm khách nước ngoài ngồi bàn bên cạnh biến mất từ lúc nào không rõ. Họ đi đâu, ở đâu trong mấy cabin của tàu Victoria Express? Tôi về chỗ tôi, chui vào tấm chăn bông ấm mịn, ngả lưng lên đệm bông mềm mại, cùng cái lắc lư đều đều của con tàu đang ngược lên núi, thả hồn nghĩ về em, như một điều bí ẩn cần khám phá… Em là ai, đi đâu, làm gì ở Sapa. Tôi có còn gặp lại em nữa không?... Bỗng, tôi cảm giác mình vừa làm mất gì đó quý giá vô cùng… Ước gì tôi gặp lại em… Và tôi bên em trong giấc mơ trên con tàu ngược từ Hà Nội lên Sapa…

Mãi cho đến nhiều ngày sau, và có lẽ không biết đến bao giờ, về tới Hà Nội, tôi vẫn còn mang theo cái bềnh bồng như mây mù Sapa, trong một cơn say tình có vị chát ngọt của rượu táo mèo, vị cay nồng của rượu ngô và em, thoắt ẩn thoắt hiện như người trong tranh từ cổ tích.

Ông chủ khách sạn Victoria tiếp đón tôi rất nồng hậu. Sau những thủ tục ban đầu để làm quen, ông vui vẻ giải tỏa câu hỏi của tôi: “Vì sao ông lại chọn tôi, một phóng viên ít tên tuổi?”. “Tôi hay đọc báo Việt Nam. Những tấm ảnh của anh trong các bài viết về đất nước, con người Việt Nam rất ấn tượng với tôi. Anh có cái nhìn của nhà nghệ sĩ, của một nhà thơ trong chọn cảnh, nhưng lại có tỉnh táo khi quyết định chọn góc bấm máy và khỏanh khắc cần thiết. Ảnh của anh gợi cảm và nhiều ý nghĩa. Rất hợp với yêu cầu của chúng tôi. Tôi đã nhờ người tìm anh”. Tôi tỏ ý lo ngại, sợ không đáp ứng đòi hỏi nghiêm ngặt của ông vì tôi không phải là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và ít có kinh nghiệm về ảnh quảng cáo du lịch. Ông trấn an tôi: “Tôi sẽ cho một người cùng đi để giúp anh. Tôi tin anh làm được, hãy tự tin và cảm giác không đánh lừa tôi đâu. Anh sẽ thành công”. Và… người đi cùng tôi là em – Cô gái hình như bước ra từ bức tranh xưa trên toa tàu Victoria Express.

Những ngày Sapa, trong tôi có lẽ không có lần đi nào so sánh được. Em đưa tôi đi khắp nơi, mỗi nơi đến là một câu chuyện về sự tích nơi đó, làm tôi luôn tự hỏi: “Sao bao lần đi Sapa, tôi không hề biết những huyền thoại đấy. Và em là ai mà hiểu biết nơi này tường tận đến vậy”. Trên hết, là ánh mắt, nụ cười của em, những câu hát tình ca người Dao Đỏ em hát làm tôi say, và cả sự tận tình chăm sóc tôi của em làm tôi nhớ.

- Anh có thấy điều gì lạ ở những ngôi nhà ở đường Cầu Mây?

Em bất chợt hỏi tôi khi đi từ khách sạn ra quảng trường nhà thờ, để xuống chợ Sapa.

- Anh không biết? Tôi lắc đầu tỏ vẻ chưa hiểu câu hỏi của em. Em cười. Nụ cười có xoáy đồng tiền trên má trái, đến chết người.

- Không phải. Anh hãy đọc tên…
- Ngọc Ngà, Nhớ Nhung, Hòai Niệm, Hoa Hồng, Cẩm Chướng, Phong Lan, Lily, Hoa Sen, Hướng Dương…
- Đúng! Đó là những cái tên gợi lên vẻ đẹp của các lòai hoa đẹp nhất, biểu tượng cho tình yêu trong thế giới lòai hoa, và là những cái tên của kỉ niệm… Thật đẹp nếu đó là kỷ niệm tình yêu. Những đôi tình nhân, những tuần trăng mật hay chọn ở đó…

Giọng em xa xôi: Gần 100 năm trước, nơi đây có tên Hồng Hồ, một cái đầm nước nhuộm màu hồng của hoa đào giữa bốn bề núi đá và nương rẫy người Mông. Người Pháp đến đây, vẻ đẹp của núi cao, mây phủ và khí hậu trong mát đã quyến rũ họ. Họ biến Hồng Hồ thành những khuôn viên hoa với nhiều biệt thự mang tên hoa. Sapa được ví như Vườn Xuân… Tôi lơ đãng nghe em kể, đầu óc trống rỗng vì chưa biết phải bắt đầu công việc như thế nào. Sapa, tôi đã đi nhiều lần, thấy mọi cảnh vật ở đây gần như quá quen thuộc, mà tôi thì không muốn mình lặp lại những gì đã làm… Vừa nghe đến lúc em nói “Vườn Xuân”…, như bắt được sự mách bảo thần bí, tôi lóe lên những ý tưởng cho công việc… Sapa cổ tích – Sapa hoa – Sapa mây – Sapa tình và Sapa nhớ. Có lẽ em không thể biết được những câu chuyện em kể cho tôi nghe suốt mấy ngày lang thang ở Sapa đã cho tôi nhiều cảm hứng để hòan thành tập ảnh, tôi nghĩ là tốt nhất so với lọat ảnh Sapa tôi chụp trong các chuyến đi trước. Điều này được chứng minh bằng sự hài lòng của ông chủ khách sạn Victoria và những hiệu quả do nó đưa đến sau này.

Tôi nhớ sáng trèo lên núi Hàm Rồng, đứng ở Sân Mây, gió ào ào, tóc em bay quấn cả vào cổ tôi, mây chợt đến chợt đi từng đám, em lúc ẩn lúc hiện trong mây núi, đối diện là dải Hòang Liê Sơn, chót vót đỉnh Phanxipăng mây trắng vờn quanh như dải đăng ten dịu dàng quấn lưng chừng núi. Nhìn xuống là tòan cảnh Sapa đầy sắc màu. Xa xa là thung lũng Mường Hoa có cây Cầu Mây nghìn tuổi vắt vẻo giữa hai bờ núi, Thác Bạc đổ bạc tưới tắm cả thung lũng cho xanh lúa ngô, ngọt đào mận, và bãi đá cổ huyền bí… Tôi chẳng hiểu mình muốn gì, bên cạnh là em như ảo ảnh, xung quanh là mây gió núi cùng phong cảnh đẹp như tranh thơ mộng. Hình như em có biệt tài đọc được ý nghĩ của người khác, em hồn nhiên quay lại, gặp cái nhìn của tôi đang lúng túng hướng ra phía sau em, phác nụ cười mơ hồ, gần như chạm vào sát tôi, em nhìn sâu vào mắt tôi bằng ánh mắt có màu tím của đá núi đầy bí ẩn và sự tinh quái được nắng tiếp sức.

- Nếu cho anh một điều ước… Anh sẽ ước gì lúc này?
Nói có đỉnh Phanxipăng hùng vĩ kia làm chứng. Lúc đó tôi chỉ còn biết run lên. Một điều gì đó không thể gọi tên ùa đến tôi… Nếu có thể… Vâng, nếu có thể tôi ước được nắm giữ em, giữ em là của riêng mình, hôn lên đôi mắt em, đôi mắt biết nói biế cười, làm tim tôi luôn lỗi nhịp. Nhưng… Tôi lặng im. Em bất chợt khép hàng mi và cũng im lặng quay về hướng núi, tóc em lại quấn lấy cổ tôi, một sợi dây vô hình dường như trói tôi, tim tôi thắt lại.

- Phanxipăng có hai huyền thoại. Một là chiếc sừng của Rồng hóa thành. Một là cột chống Trời. Anh thích huyền thọai nào hơn?

Em hỏi như để lấp vào khỏang trống im lặng mà cả hai đều ngầm hiểu:

- Riêng em thích huyền thọai nào?

- Em thích hình tượng cột chống Trời. Nó có ý nghĩa hơn, tỏ ra ý chí, sức mạnh và cả ý thức luôn vươn tới tầm cao. Những bức ảnh chụp Phanxipăng của nhiều người, em không thích. Cái nào cũng giống giống nhau, đỉnh núi mờ tỏ trong mây, nhô lên một tí cái chóp nhọn, đẹp có đẹp, nhưng không mang cái dáng vẻ hùng vĩ của “nóc nhà Đông Dương”, một biểu tượng đầy bản sắc của núi…

Tôi hơi giật mình vì những suy nghĩ của em. Đúng là tôi cũng đang có ý định đợi một đám mây trôi đến, giơ máy ra chụp, để tạo thành một bức ảnh mây núi lãng mạn mờ ảo… em đã vô tình – hay cố tình gợi ý cho tôi, tôi chụp Phanxipăng không theo lối xưa. Sau này tôi đã được một giải thưởng nghệ thuật về bức ảnh đó… Nhưng đó là chuyện sau này. Chỉ biết là, thêm một lần tôi lại thầm cảm ơn em, em rất gần gũi với tôi, em cũng thật bí ẩn với tôi.

Rời Sân Mây, tôi và em ngồi nghỉ chân trên tảng đá lớn gần “Cổng Trời”, em hỏi tôi:

- Anh có biết vì sao Sapa lại đẹp như thế không?

Tôi lắc đầu.

- Sapa này xưa kia là một Mường Tiên ở trên trời, không hiểu vì lẽ gì mà Trời cho hạ xuống, có lẽ Trời muốn ban tặng xứ sở đất Việt một vật quý, để đất Việt ngày càng đẹp hơn, giàu hơn, vui hơn… Vẫn còn đó những cái tên xưa của Mường Tiên, Cái bát to – thung lũng Tả Van, Mảnh nương nhỏ – Seo Mí Tỉ, thung lũng năm con rồng – Vùi Lùng Sung, Bãi cát – Sapa, Bãi nắng – Tả Giàng Phình, Làng lớn – Lao Chải, Cái rọ chứa đá – Bản Khoang, Bãi bằng – Tả Phìn, làng mới – Sín Chải…

Tôi kinh ngạc về sự hiểu biết của em về miền đất này. Tự thấ xấu hổ, cứ nghĩ rằng mình biế hết về Sapa, nhưng thật ra tôi chẳng biết gì hết ngoài cái tên. Mỗi địa danh, một ý nghĩa, và tôi nhìn nơi đó không đơn thuần là núi, là cây, là hoa cỏ, mây ngàn, thác suối, tất cả như đều có chủ nhân sống động, được nhân cách hóa. Em không nói thẳng ra, nhưng tôi hiểu em đang giúp tôi tạo nên những hình ảnh đầy sức sống của các huyền thọai, dựng lên những bí ẩn hấp dẫn… Có lẽ đó là bí quyết thành công của những tấm ảnh du lịch giới thiệu miền đất – con người…Nó làm tôi thay đổi một số quan niệm về ảnh và chụp ảnh. Tôi lại lan man nhớ hôm em đưa tôi xuống thung lũng Mường Hoa, đến bãi đá cổ. Ban đầu tôi hơi chán, vì không có rẫy và mấy chân ruộng bậc thang. Nhìn chúng xấu xí, vụng về và hình như vô dụng. Em đã làm thay đổi hòan tòan những cảm nhận của tôi. ngồi trên mộ tảng đá lớn gần bằng chiếc chiếu đôi, có nhiều nét vạch sâu trong đá có hình thù kỳ dị, trong ánh chiều tà, không khí ẩm ẩm, sương phủ mờ xa phía dưới sâu thung lũng, em kể tôi nghe huyền thoại đá, lung linh, ảo diệu như chính Sapa.

- Nhiều nhà khảo cổ trong, ngoài nước đã đến đây và kinh ngạc với những phát hiện. Đá ở đây không cùng lọai đá núi, và không giống đá ở trái đất. Dân ở đây từ xưa nói rằng, đá do Mường Trời thả xuống. Trên đá có khắc khá nhiều ký tự không giống với bất kỳ lọai chữ tượng hình nào được biết của Châu Á cổ xưa. Hình vẽ trên đá có sáu nhóm, đặc biệt là họa tiết hình người có nét tương đồng với hình chạm trên các văn tự cổ Ai Cập…

Những tấm ảnh đá của tôi, đã chứa đầy những câu chuyện kỳ lạ em kể, và vì thế cũng giống như thế giới thần thọai, nhìn sống động hơn, đẹp hơn – Đá Vợ, Đá Chồng, hòn Bố, hòn Mẹ, kia là đàn hổ, nọ là đôi trai gái hôn nhau…Và những hình vẽ trên đá, thông điệp của quá khứ hay tương lai gửi cho hiện tại… Em, chính em thổi hồn vào những tấm ảnh của tôi.

Từ trên lưng chừng đỉnh Hàm Rồng, có hai vườn lan rất đẹp. Tôi muốn chụp một bộ sưu tập hoa nên nấn ná chưa xuống núi. Sợ em mệt, tôi định nói em về trước đừng đợi tôi, nhưng nhìn vào mắt em, tôi đọc được lời khẩn cầu “em thích được đi cùng anh, ở bên anh…”. Thế là tôi im lặng, say sưa chụp và quên hẳn em. Đến lúc thấy gai gai lạnh, mới chợt nhớ áo khoác ngòai cởi ra khi trên núi nhưng bỏ đâu không thấy. Ngẩng lên, em ngay bên cạnh trên tay cầm cái áo và chai nước đưa về phía tôi. Hóa ra, suốt mấy giờ đồng hồ, em lặng lẽ theo sát tôi… để khi tôi cần, kể cả sai bảo em cũng sẵn sàng… Ôi, em lại làm tim tôi thắt lại… Và tôi lại thầm thở dài. Nếu như… Không chỉ một lần, tôi để ý suốt mấy ngày em đưa tôi đi, khi tôi chưa mở ống kính, chưa có ý định chụp gì, em thường kể chuyện, những câu chuyện đầy màu sắc thần thọai của miền rừng núi Sapa… Khi tôi thật sự làm việc, thì em im lặng hòan toàn, không để tôi phải vướng bận, em âm thầm theo sát tôi, không hề quan tâm đến thời gian dài hay ngắn, lâu hay mau.

Chán kiểu ăn cầu kì gò bó ở khách sạn, và cũng có ý đổi thay khẩu vị, tôi ra ngoài ăn. Rủ em đi cùng. Em vui, nét vui hiện rõ trên gương mặt rấ hiếm nụ cười. Tôi đưa em vào một quán ăn bình dân, nhưng lịch sự, ấm cúng, sạch sẽ, gần chợ Sapa, cách xa mấy nhà hàng nổi tiếng đường Cầu Mây… Gọi mấy món ăn bản địa xa lạ, em hơi rụt rè hỏi:

- Anh uống rượu Táo Mèo?

Tôi là người khá kén đối với các loại thức uống có cồn. Rượu Táo Mèo Sapa, tôi không chê, nhưng không thích, song em đã gợi ý và chiều lòng em… Tôi gật đầu. Sau này, tôi mới thấy cái gật của mình thật đúng. Tôi có một đêm uống rượu thú vị với một người con gái tôi luôn muốn khám phá mà cuối cùng chẳng biết thêm điều gì ngoài những cảm nhận của riêng tôi. Điều thú vị đầu tiên chính là câu chuyện em kể về rượu Táo Mèo. Táo mèo mọc trên những mỏm đá tai mèo (hay là loại táo rừng chỉ có ở nơi núi cao của người Mông sinh sống), quả táo được kết từ hương thơm của rừng, hứng sương gió trời, hút khí đất núi, nên mang đủ vị chua ngọt chát đắng, không ai ăn loại táo này, những vị đó được hòa tan trong rượu, thành rượu Táo Mèo, uống không biết say, mà say rồi lại càng thích uống. Những đôi trai gái thích rượu Táo Mèo, vì chưa yêu nhau, sau khi uống chén rượu, họ sẽ say nhau, uống nữa họ sẽ say nhau suốt đời, rồi cùng chia sẻ đắng cay ngọt mặn cuộc đời, không rời xa nhau…
- Em không sợ say anh sao?

Tôi hỏi em nửa đùa nửa thật. Em nhìn thẳng vào mắt tôi, đôi mắt mở to như muốn thu trọn vẹn tôi trong mắt em:
- Anh có dám say…?

- Nếu anh…

- Đừng nếu… Đêm nay anh có muốn uống cùng em?

Tôi đã uống. Uống để tin cái say là có thật. Tôi say em. Uống để tôi quên đi những ràng buộc đời thường, không cách gì gỡ ra được.

- Anh kể về anh đi… Em nhìn tôi khuyến khích, trong cái nhìn có cả một lời yêu cầu tha thiết. “Hãy nói đi… Em muốn biết về anh”.

Biết kể về tôi thế nào cho em nghe. Tôi chỉ là một nhà báo không danh tiếng, trong vài cuộc đua, số phận luôn dành cho tôi hai chữ “khuyến khích”. Tôi cũng đã từng là lính, một chàng lính thích làm thơ, đàn hát hơn là cắm cúi vào sơ đồ tác chiến bày binh bố trận. Tôi cũng có một gia đình, ai nhìn vào cũng nói là hạnh phúc. Song với tôi hạnh phúc không đơn giản là có một người vợ biết chăm sóc lo lắng cho chồng, một đứa con xinh xắn ngoan ngoãn. Tôi cần một sự đồng cảm, chia sẻ với cả những đam mê sở thích của tôi, tôi cần một sự thông cảm với những thất bại của tôi… Tôi biết nói thế nào với em, khi tôi đã nhiều lần thắt tim chỉ vì không thể, không được phép nói rằng: Hạnh phúc của tôi chính là em… Khi tôi cảm nhận ở em một sự chia sẻ, đồng cảm đến tận cùng những say mê của tôi, em trân trọng tất cả những việc tôi làm, hiểu về tôi như em là một bộ phận trong tôi, dù tôi và em chỉ mới biết nhau có ít ngày. Em như một thiên thần hộ mạng, giúp cho tôi hòan thành công việc hòan hảo nhất. Tôi không biết nói thế nào với em. Tôi đang say và muốn say mãi để được gần bên em.

- Sao em không kể về em? Anh chưa biết gì về em ngoài một câu trả lời, mà anh, nếu không nhớ nhầm, đã năm lần hỏi năm lần trả lời “Em có nửa dòng máu Việt”. Và sự hiểu biết Sapa đến kỳ lạ của em.

Em, lần thứ sáu, lại cười, nụ cười có xoáy đồng tiền trên má trái.

- Em có nửa dòng máu Việt. Em yêu Sapa. Em yêu… nhưng…

Em ngừng nói, nhìn vào mắt tôi, cái nhìn vời vợi, hút chết hồn tôi. Tôi nghẹn thở, tôi không thể nói với em bất cứ điều gì vào lúc này, biế rằng tôi yêu em, tôi đang có em… Nhấc chén rượu Táo Mèo, tôi dốc cạn một hơi, vị ngọt, vị đắng, vị chát, vị cay nồng ào vào trong tôi… Ôi, nếu như tôi có thể quay về quá khứ, để trở về tuổi 20 của ngày xưa, để không phải ép mình đau khổ từ chối em, ánh mắt đang nói bao điều ngọt ngào dành cho tôi.

Công việc rồi cũng xong. Tôi phải trở về với công việc hàng ngày. Ngày cuối cùng ở Sapa, lại đúng vào đêm Chợ Tình, thứ bảy, và trùng hợp làm sao lại là đêm rằm. Ông Trời đãi tôi, tiễn tôi một đêm tuyệt đẹp. Trăng Sapa hình như thấp hơn dưới xuôi, cảm tưởng có thể trèo lên ngọn cây là với tay chạm vào trăng. Anh trăng lọc qua màn sương đêm tạo thành một tấm lưới mờ ảo lấp lánh những bụi bạc. Tôi và em như hai kẻ mộng du trong Chợ Tình. Tiếng kèn pí lè, tiếng hát giao duyên, tiếng sáo Mông… của những đôi trai gái, những người bạn tình dân tộc Dao, Mông… lúc văng vẳng xa, lúc quấn quít bên cạnh chúng tôi. Họ hồn nhiên, nguyên sơ như từ thuở xưa, chỉ biết có nhau, không cần biết xung quanh như thế nào, ánh trăng và sương mờ chỉ làm tăng thêm nồng nàn của tay, của môi mắt, cái lạnh làm cho họ thêm đắm say không muốn xa nhau. Rất gần chỗ tôi và em ngồi có một đôi trai gái người Dao Đỏ, chàng trai một tay nắm lấy khăn cổ của cô gái, một tay nắm chặt tay cô, đối mặt nhau, đắm đuối hát những câu tình ca, dù không hiểu lắm, tôi cũng biết là rất tình tứ.

- Anh có biết họ đang hát gì không?

Tôi lắng nghe:

- Chàng trai: “Lết ả chối chòn lớ trí có mộng lờ siêu hỏm tròm tỏm, mình kín giang lớ thính giảng ệ chiêu kị muốn chín khán á kỉm bin buổi minh kín giang lớ” (1).

- Cô gái: “Sá lòa mái to ệ rồ mãi ấy lô, dấu trinh mả ý bên ệ tình lẩu yêu, rõ uyên mài phiêm y hiểu tâu ê” (2)

Em hình như không nhìn thấy vẻ ngạc nhiên của tôi, khe khẽ hát lại câu hát bằng tiếng Việt

- “Anh thương em, bao giờ ngủ cũng thấy em, sáng dậy nghe tiếng chim kêu, cũng nhớ em, nhưng không biết bao giờ mới được gặp”
- “Thấy anh đẹp, em đem lòng thương mến, muốn buổi sáng cùng anh lên nương rẫy, buổi chiều chung sống một mái nhà. Đừng bỏ em một mình anh nhé”

Và chưa để tôi kịp trấn tĩnh, em nhìn tôi bằng cái nhìn có lửa, dù đêm thật đen, thật lạnh, trăng sương mờ mờ phủ ánh sáng bàng bạc. Đối mặt với tôi, em cất tiếng dịu dàng, tha thiết một khúc ca: “Anh từ xa đến/ không hẹn mà gặp em đêm nay/ Ước gì chúng mình được chung chăn/ chung một bếp lửa hồng/ Đêm nay, đôi ta ngồi đã muộn/ Gà gáy giục chín năm mười sáu tiếng/ Đôi ta không có lòng thì thôi/ Có lòng thì hãy mau cất tiếng lên giọng/ Giờ này đôi ta ngồi đã khuya/ Ta hãy mở miệng cất lời mình ơi”(3).

Tôi bất lực, ngửa mặt nhìn trăng, trăng không mách bảo điều gì. Tôi không thể dằn nổi sự nổi lọan của trái tim… Tôi ôn chặt em,thời gian như ngừng lại, tôi nín thở, tiếng trái tim em hình như hòa một nhịp tim tôi, em bé nhỏ, mềm mại, ấm áp trong vòng tay tôi… Ngước mắt nhìn tôi, em chờ đợi. Tim tôi thắt lại đau nhói. Ôi, nếu như… có thể… Đành lỗi tình em. Nuốt sâu một nhịp thở. Tôi nhắm mắt, hôn em lên trán, vầng trán thông minh, nhưng lạnh buốt môi tôi. tôi cảm nhận những giọt nước mắt nóng bỏng của em trên mặt tôi… Sapa, tôi để lại trái tim tôi nơi em.

Cho đến khi trở về Hà Nội, khó tin được, nhưng tôi thật sự không biết tên em, và suốt thời gian đi cùng em, chưa một lần tôi có ý định hỏi tên em. Tôi và em như là một, không cần nói nhiều mà hiểu tường tận. Em không như những người con gái tôi từng gặp, từng quen biết. Em giống như trong câu chuyện cổ bước ra đem những điều tốt đẹp đến tôi. Tôi không biết gì về em nhưng em lại hòa hợp với tôi như thể tôi và em có chung dòng máu, chung suy nghĩ. Ngày chia tay, em không nói gì với tôi, chỉ nhìn, cái nhìn đốt cháy tôi, làm tôi tương tư em từ ngày xa nhau. Tôi nhớ em, nhưng không thể liên lạc với em được, người chủ khách sạn Victoria từ chối cung cấp thông tin về em một cách khó hiểu, dù ông ta rất quý mến tôi. Em như một ẩn số tôi không thể giải mã được. Thỉng thoảng, tôi nhận được cuộc gọi từ em, em ở đâu đó rất gần mà cũng rất xa, ngọt ngào bằng cái giọng quyến rũ đến chết người rót vào tai tôi vài câu ngắn ngủi: “Em vừa đọc một bài báo của anh, ảnh chụp đẹp quá. Anh giữ sức khỏe anh cho em nhé. Chúc anh thành công”. Tôi không kịp nói lời nào với em. Em như một áng mây huyền diệu bí ẩn, mây tình Sapa. Tôi chỉ còn biết dấu tình yêu em bên trong tim mình và âm thầm nhớ… Những ngày bên em là những ngày hạnh phúc của tôi ./.


HH

Thẩm định ảnh có cần chuyên nghiệp?

Thẩm định ảnh không cần chuyên nghiệp?!


Nhiều năm qua, sau các cuộc thi ảnh dưới sự bảo trợ của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh VN-VAPA , thường có nhiều ý kiến “eo xèo” về chất lượng đối với ảnh đọat giải cao. Phải chăng vì ban giám khảo và Hội đồng nghệ thuật của VAPA chưa thật sự chuyên nghiệp trong thẩm định ảnh?


Hội đồng nghệ thuật không cần chuyên môn, chuyên nghiệp?!
Tiêu chí “cầm cân nảy mưc” để đánh giá một tác phẩm nghệ thuật trước hết là phải có một mặt bằng tối thiểu về chuyên môn ngành nghệ thuật đó hay có văn bằng về một ngành văn hóa. Nhìn vào Hội đồng nghệ thuật của các Hội văn học nghệ thuật VN thì thấy tòan những thành viên có học hàm, học vị như : Giáo sư, Phó giáo sư, Kiến trúc sư trưởng, Tiến sĩ.. hay các danh hiệu được Nhà nước phong như :Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú…
Duy nhất có hội đồng nghệ thuật của VAPA với 7 thành viên trong nhiệm kỳ mới 2010-2015 này thì không có ai trong số họ có được một chức danh chuyên môn của ngành nghệ thuật nhiếp ảnh, không có học hàm học vị về một ngành văn hóa nghệ thuật hay nhiếp ảnh, ngòai các tước vị của VAPA và của FIAP hay PSA, cùng với “kinh nghiệm” là hàng chục, hàng trăm giải thưởng ảnh trong nước, và đặc biệt là của các cuộc thi do FIAP và PSA bảo trợ.
FIAP là một tổ chức nhiếp ảnh quốc tế lấy khẩu hiệu: :”Nhiếp ảnh nghiệp dư xuyên thế giới”- La Photographie Amateur à travers le monde, phía sau thẻ của thành viên FIAP ghi rõ: Người giữ thẻ này không lấy nhiếp ảnh làm mục đích chính- The bearer of this card does not take photographs for professional purposes .
Và thực tế các cuộc thi của FIAP chỉ có giá trị trong khuôn khổ của FIAP, là một sân chơi lớn dành cho các tay máy “amateur” không có sức ảnh hưởng gì đến nền nghệ thuật nhiếp ảnh chuyên nghiệp thế giới, cũng như không hề được các phương tiện truyền thông thế giới chú ý tuyên truyền.
Tương tự như vậy là tổ chức PSA mang tên “Hội nhiếp ảnh Hoa Kỳ” nhưng cũng không hề đại diện cho nhiếp ảnh chuyên nghiệp Hoa Kỳ. PSA được thành lập năm 1934, trụ sở chính ở thành phố Oklahoma, Mỹ, là tổ chức mang tính liên kết, giao lưu, chia sẻ cộng đồng trong bộ môn nhiếp ảnh, và kinh doanh- thực chất hướng tới các nghệ sỹ nghiệp dư.
Nhìn thành phần điều hành của PSA, cũng như các nghệ sỹ thế giới trong danh sách “Who is Who” được xếp hạng của PSA thấy rõ không ai là những tên tuổi nổi bật có uy tín trong nhiếp ảnh thế giới. PSA không có tham vọng và thực chất chưa bao giờ là thước đo giá trị các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp thế giới.
Ông Nguyễn Xuân Khánh, giảng viên khoa Nhiếp ảnh trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh TP.HCM khi nêu ý kiến trên báo Thanh Niên (14.5.2010) cho biết:. “Năm 1991, tôi có tháp tùng Phó tổng thư ký Hội NSNA VN lúc bấy giờ là anh Lâm Tấn Tài tham dự Đại hội FIAP ở Tây Ban Nha, lúc đó vẫn nghĩ FIAP oách lắm. Nhưng năm 1998, tại triển lãm Mùa xuân Việt Nam ở Paris, những nhiếp ảnh gia có ảnh hưởng ở Pháp đều ngạc nhiên hỏi tôi vậy FIAP là tổ chức gì?
Về sau, các nhiếp ảnh gia VN ra nước ngoài đều biết điều đó. Tôi nghiên cứu nhiều tài liệu về lịch sử nhiếp ảnh thế giới cũng không thấy nhắc đến FIAP hay PSA dòng nào. Điều đó chứng tỏ chiều sâu và sức ảnh hưởng xã hội của hai giải thưởng này không như một số người nghĩ”-
Vậy nhưng trong các báo cáo họat động của VAPA, những giải thưởng của FIAP, PSA VN đọat được là niềm tự hào, và như là thành tích “sáng giá” nhất, xem như đó là thước đo cho sự phát triển và hội nhập quốc tế của nghệ thuật nhiếp ảnh VN. Thậm chí còn cho đó như là một trong những phương hướng họat động chính yếu của nhiếp ảnh nghệ thuật VN với thế giới trong hiện tại và tương lai!!! Tất nhiên cũng có những ý kiến mở rộng giao lưu với các tổ chức nhiếp ảnh khác, nhưng thực chất Hội vẫn coi FIAP (cùng với PSA) là số một!
Và không biết có phải vì lẽ đó mà thành viên trong Hội đồng nghệ thuật của VAPA chỉ cần những người được nhiều giải thưởng, được phong tước hiệu của FIAP, PSA là đủ, còn các tiêu chí khác gọi là chuẩn của trình độ chuyên môn về nghệ thuật không cần thiết?
Mà họ có phải là những người thật sự xuất sắc để có thể đại diện cho NSNAVN thẩm định ảnh?
Giải thưởng thì nhiều, nhưng lấy tiêu chí của một tác phẩm nghệ thuật có giá trị và ảnh hưởng tới xã hội, công chúng, thay đổi quan điểm hay sáng tạo xu thế mới về nghệ thuật… thì tác phẩm của họ chỉ đơn thuần là một vẻ đẹp “nghệ thuật vị nghệ thuật” đúng kiểu “tài tử” của FIAP, PSA.
Có những bức ảnh họ chụp hàng chục năm bây giờ vẫn mang đi thi. Ảnh của họ cũng chỉ “gói” trong vài chủ đề xưa cũ hàng chục năm nay, không có gì đổi mới.Và trong số họ chỉ có một vài thành viên là có triển lãm cá nhân, còn vị Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật của VAPA với hàng trăm giải thưởng ảnh FIAP, PSA thì cho tới nay chưa có một triển lãm ảnh cá nhân nào. Chưa kể bức ảnh “Mẹ con” sáng giá nhất của vị này chính là đạo ảnh từ một tác giả Pháp mà tạp chí Nhiếp ảnh của Hội NSNAVN đã từng đưa lên trong một bài báo “Có phải những ý tưởng lớn gặp nhau?”
Bản thân các thành viên Hội đồng nghệ thuật cũng chưa thấy đưa ra một quan điểm nghệ thuật rõ ràng mang tính học thuật, một yếu tố quan trọng trong trang bị kiến thức về lý luận để :”Ngòai công tác thẩm định ảnh tư vấn, Hội đồng nghệ thuật còn là cơ quan tư vấn, tham mưu về nghệ thuật nhiếp ảnh cho Ban chấp hành”- Trích Thông báo của VAPA.
Và như thế chất lượng của Hội đồng nghệ thuật khi làm tham mưu, cố vấn cho Ban chấp hành VAPA và thẩm định ảnh sẽ có giá trị như thế nào, đến đâu và chất lượng cũng như sự công bằng đủ sức thuyết phục? Khi chuyên môn và sự chuyên nghiệp đều khiếm khuyết.

Hội đồng nghệ thuật có phải chỉ đi chấm ảnh?
Hội đồng nghệ thuật lập ra là để làm công tác tư vấn, tham mưu về chuyên môn, thậm chí còn là một “kênh” tham mưu định hướng nghệ thuật của ngành. Ở các cuộc thi , hội đồng nghệ thuật làm công tác thẩm định chất lượng nghệ thuật, để Ban giám khảo có sự chính xác nhìn nhận tác phẩm có giá trị mà trao giải. Ở các Hội nghệ thuật khác, thì Hội đồng nghệ thuật làm rất nhiều công việc, không chỉ đi chấm thi.
Nhưng không chỉ ở nhiệm kỳ mới này mà ở nhiều nhiệm kỳ trứơc của VAPA, Hội đồng nghệ thuật gần như chỉ có một công việc chính là đi chấm ảnh các cuộc thi lớn nhỏ, thậm chí còn đi chấm thi ảnh của một số cơ quan, tổ chức, câu lạc bộ…từ Nam ra Bắc. Còn những công việc như tham mưu, tư vấn về ngành thì chưa thấy rõ rệt. Trong các cuộc hội thảo về nhiếp ảnh, thì tiếng nói của Hội đồng nghệ thuật là rất yếu ớt. Sau các cuộc thi có “ì xèo” cũng không thấy vị nào trong Hội đồng nghệ thuật lý giải thuyết phục về sự lựa chọn của ban giám khảo.
Thành phần Ban giám khảo không thay đổi, cá nhân Ban giám khảo nhìn bằng con mắt nghệ thuật của bản thân để thẩm định ảnh, mà bản thân thì không có gì đổi mới, chỉ quanh quẩn với những tiêu chí ảnh của FIAP,PSA, với tư duy xáo mòn, cũ kỹ, không đổi mới, không theo kịp những xu thế phát triển của nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới. Chính vì thế mà có một nghịch lý từ bao năm nay, các ảnh đọat giải cao gần như na ná nhau, không có gì thay đổi cả vể chủ đề và cách tạo hình, màu sắc, bố cục…
Chưa kể sau mỗi cuộc thi, nhất là các cuộc thi mang tính quốc gia hay khu vực, thì nhiêù ảnh đọat giải cao thường không phải ảnh xuất sắc, có sức thuyết phục, thậm chí còn mắc lỗi, phạm quy… mà lại “được” nhỏ to phía sau, đó là ảnh của học trò hay người quen của thành viên ban giám khảo, Hội đồng nghệ thuật. Khó tìm ra bằng chứng cụ thể nhưng chuyện “học trò đi đêm” râm ran ở rất nhiều cuộc thi, điển hình gần nhất là cuộc thi VN-09 mới diễn ra.
Và không có gì lạ khi nhìn vào những gì nhiếp ảnh VN đạt được trong thời gian qua, với những giải thưởng trong nước do VAPA bảo trợ và quốc tế- Mà chủ yếu là của các cuộc thi dưới sự bảo trợ của FIAP và PSA, thì thấy rõ sự đi xuống của chất lượng nghệ thuật nhiếp ảnh VN.
Thế nhưng có lẽ không chỉ nhiếp ảnh mà nhiều bộ môn nghệ thuật khác chất lượng cũng đi xuống nên Nghị quyết số 23-NQ/TW, của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, nêu rõ:” Số lượng tác phẩm ngày càng nhiều song còn ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội – thẩm mỹ không rõ nét, ý nghĩa xã hội còn
hạn hẹp…”

Nhiếp ảnh nghệ thuật thế giới không phải là FIAP, PSA
Điều này là rõ ràng, và trong thời buổi bùng nổ thông tin, internet nối mạng tòan cầu, thì việc tìm hiểu các tổ chức nhiếp ảnh quốc tế chuyên nghiệp, có uy tín và có ảnh hưởng đến nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới không phải khó. VAPA cần phải nhận chân FIAP, PSA thật sự như thế nào để đừng ảo tưởng về tầm “quốc tế” mà đánh mất cơ hội hội nhập thực sự với nhiếp ảnh nghệ thuật thế giới.
Nếu nhiếp ảnh VN cứ chỉ quẩn quanh với FIAP, PSA, những tổ chức nhiếp ảnh quốc tế mang tính nghiệp dư mãi, mà bỏ qua những tổ chức nhiếp ảnh khác thì cũng là một hình thức biến mình thành nghiệp dư, thậm chí chỉ là một “hội viên” của họ mà không có giá trị thực nào, khó mà hội nhập với quốc tế và tạo được vị trí của nhiếp ảnh VN với nghệ thuật nhiếp ảnh thế giới.
VAPA là một Hội nghệ thuật chuyên nghiệp nằm trong Liên hiệp hội văn học, nghệ thuật VN, là một ngành nghệ thuật trong họat động văn hóa của VN, không thể cứ “bó” mình trong hạn hẹp những gì đã có sẵn. Với một Hội đồng nghệ thuật mà tư duy chỉ “nằm” ở FIAP, PSA, không có cái nhìn xa, nhìn rộng hơn cả về chuyên môn lẫn phạm vi thì nhiếp ảnh nghệ thuật VN cũng chỉ là nghiệp dư. Như thế là sai với mục tiêu của VAPA và mục tiêu phát triển văn hóa, nghệ thuật VN trong thời kỳ mới./.

Đắc Lộc

Box: Hội đồng nghệ thuật VAPA nhiệm kỳ 2010-2015: NSNA Lê Hồng Linh- Chủ tịch, NSNA Đặng Ngọc Thái- Phó Chủ tịch, NSNA Lý Hòang Long, NSNA Duy Anh, NSNA Long Thành, NSNA Hòang Trung Thủy, NSNA Nguyễn Dần.